Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Con ngời là vốn quý của xã hội, con ngời kiến tạo ra xã hội và là trọng
tâm của mọi sự phát triển xã hội. Cũng chính vì vậy mà, vấn đề quốc gia nào
cũng quan tâm là đảm bảo cho con ngời trớc những rủi ro: ốm đau, bệnh tật,
tuổi già, mất việc làm đe doạ tính mạng, tình trạng sức khoẻ và cuộc sống
của con ngời.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học kỹ thuật ngày càng
tiến bộ, đời sống của con ngời ngày càng đợc nâng cao, chất lợng hơn, các
nhu cầu đảm bảo cũng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về quy
mô, mức độ và thời hạn. Theo đó các hoạt động để đáp ứng những nhu cầu ấy
cũng phát triển một cách tơng ứng. Bảo hiểm ra đời nh là một biện pháp hữu
hiệu nhất, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ có một vai trò rất lớn , nó không
những tạo ra sự yên tâm, ổn định tài chính cho mỗi ngời, mỗi gia đình, tổ
chức khi gặp rủi ro mà còn cung cấp nguồn quỹ đầu t dài hạn cho nền kinh tế
tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội.
BHNT là một ngành ra đời sớm và phát triển từ lâu trên thế giới. Tuy
nhiên ở Việt Nam, trải qua một thời gian triển khai nghiệp vụ này thì đây vẫn
còn là một lĩnh vực mới mẻ. Mặc dù vậy, thực tế về hoạt động của BHNT
trong thời gian qua thì có thể khẳng định tiềm năng BHNT là rất lớn và trong
xu thế hội nhập, mở cửa hiện nay, sẽ có thêm nhiều công ty bảo hiểm nớc
ngoài thành lập dẫn đến sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt. Điều đó
dẫn đến các công ty bảo hiểm nhân thọ phải có một chiến lợc kinh doanh
hiệu quả của riêng mình, để tồn tại và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong
hoạt động kinh doanh bảo hiểm có rất nhiều chiến lợc mang lại cho công ty
một hiệu quả kinh doanh cao, một trong những chiến lợc quan trọng đóng vai
trò trọng yếu, quyết định đến hiệu quả kinh doanh của công ty đó là khâu
khai thác trong bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, để đạt đợc những thành công
trong lĩnh vực kinh doanh BHNT các công ty phải không ngừng cải tiến và
hoàn thiện công tác khai thác cho phù hợp với yêu cầu thực tế của thị trờng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Gybbon (một thuyền trởng) đã nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hiểm phi
nhân thọ đang bảo hiểm con tàu và hàng hoá của ông hãy bán bảo hiểm sinh
mạng cho mình. Lúc bấy giờ loại hình bảo hiểm này còn xa lạ và cha một ai
biết đến, công ty bảo hiểm cũng rất ngạc nhiên về lời đề nghị này, song để
làm hài lòng khách hàng họ đã đồng ý, phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là
32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, ngời thừa kế của ông đợc hởng 400
bảng Anh.
Năm 1669, Công ty bảo hiểm tơng hỗ đầu tiên là Hội BHNT và hu trí,
hội này do các nhà buôn bán vải thành lập. Nhng chỉ ít năm sau đó đã bị thất
bại, chìm đắm trong nợ nần.
Sản phẩm BHNT trong giai đoạn mới thành lập đợc bán một cách rộng
rãi và không tính toán. Ngời mua bảo hiểm cho nhau và tìm cách hại nhau để
kiếm tiến bồi thờng. Vì lý do đó, năm 1740, Chính phủ Anh đã tập hợp các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Công ty bảo hiểm trên toàn quốc, ra chỉ thị bán bảo hiểm nhất thiết phải căn
cứ vào " quyền lợi bảo hiểm", tức là ngời chủ hợp đồng và ngời đợc bảo hiểm
phải có mối quan hệ ruột thịt, hôn nhân hay bảo hộ hợp pháp.
Trong số các công ty bảo hiểm Anh thời đó, có một công ty tên là Công
ty BHNT Luân Đôn. Với cách kinh doanh cẩn trọng hơn, công ty đã hạn chế
đợc số khách hàng và số tiền mua bảo hiểm. Năm 1725 họ biết hớng dẫn đại
lý của họ tiếp xúc trực tiếp với ngời đợc bảo hiểm, nhận dạng khách hàng và
hỏi một câu hỏi duy nhất về tình trạng sức khoẻ là: " Ông bà có bị bệnh đậu
mùa lần nào cha?". Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì đó là thời
kỳ xuất hiện một trận dịch đậu mùa làm cho cả trăm ngàn ngời ở Châu Âu
thiệt mạng, còn các công ty bảo hiểm thì sạt nghiệp vì chi trả.
Tại Mỹ, năm 1759 Hội BHNT tơng hỗ do hội nghị tôn giáo của các nhà
thờ đề nghị đợc thành lập, tuy nhiên họ chỉ hạn chế bán các hợp đồng BHNT
cho các con chiên trong nhà thờ của tín đồ Presbyterian nên không đáp ứng
đợc nhu cầu tham gia của toàn xã hội.
Phải đến khi các Công ty bảo hiểm tơng hỗ của Anh nghiên cứu đợc tỷ
không thể phát triển đợc. Do đó, họ chấp nhận khái niệm " giá trị giải ớc" của
ông Wright và cho áp dụng cách tính này. Theo đó, nếu khách hàng ngng
hợp đồng càng sớm thì số tiền nhận lại càng ít.
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential của Anh đợc thành lập năm
1853 và là công ty đi đầu trong công nghiệp bảo hiểm. Và thực tế cho đến
nay công ty này vẫn đang phát triển lớn mạnh trên rất nhiều nớc trên thế giới.
Ngành BHNT thực sự trở thành một nhu cầu lớn tại các nớc đã
và đang phát triển. ở châu á, Nhật Bản là nớc có công ty bảo hiểm nhân thọ
đầu tiên hoạt động dới hình thức kinh doanh là Công ty Meji. Sau 7 năm độc
quyền ở Nhật Bản, đến năm 1889, hai Công ty bảo hiểm lớn ra đời là Công ty
BHNT Teikoku và Nippon.
Các Công ty BHNT của Anh và Nhật đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển BHNT ở các nớc Châu á khác. Ví dụ ở Triều Tiên, các Công
ty BHNT của Anh hoạt động ỏ hầu hết trên khắp đất nớc, cho đến năm 1905
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thì Nhật Bàn giành lại hoàn toàn quyền quản lý BHNT trên đất nớc Triều
Tiên. Công ty BHNT SIM đợc thành lập năm 1929, là Công ty duy nhất do
ngời Triều Tiên quản lý. Đến những năm 60, nền công nghiệp BHNT hiện đại
của Triều Tiên thực sự bắt đầu phát triển.
Tại Singapore, các Công ty BHNT của Anh đóng vai trò chính trong
việc phát triển kinh doanh BHNT, Công ty BHNT trong nớc của Singapore ra
đời năm 1908, công nghiệp BHNT của Singapore thực sự phát triển vào năm
1965.
Nh vậy, BHNT ở trên thế giới ra đời từ rất lâu và nó trở thành một
ngành dịch vụ không thể thiếu đợc trong cuộc sống của mỗi ngời dân.
Mặc dù BHNT ra đời muộn hơn so với nhiều loại hình bảo hiểm
khác nhng nó đã nhanh chóng giữ một vị trí quan trọng trong lĩnh vực bảo
hiểm. Thực tế hoạt động và kết quả triển khai BHNT ở các nớc đã chứng tỏ vị
trí quan trọng của các sản phẩm BHNT trên thị trờng. Hiện nay tham gia
BHNT là một nhu cầu tất yếu của nhân dân các nớc đang phát triển, đặc biết
(USD)
Phí
BHNT/
phí bảo
hiểm (%)
Phí
BHPNH/
ngời (USD)
Phí
BHPNT/
Phí bảo
hiểm (%)
Nhật Bản 5088,3 4075,8 80,1 1012,5 19,9
Hàn Quốc 1337,6 1042,1 77,9 295,5 22,1
Đài Loan 678,5 459,3 67,7 219,2 32,3
Singapore 1190,8 826,1 69,4 364,7 30,6
Hồng Kông 813,8 495,5 60,9 318,3 39,1
Thái Lan 67,6 32,2 47,6 35,4 52,4
( Nguồn: Tạp chí Signa- SwissRe số 268 năm 1995)
Cho đến năm 1998 thì đã có 5 thị trờng BHNT lớn nhất thế giới là
Nhật, Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Theo số liệu thống kê năm 1998 phí BHNT của
5 thị trờng này đợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu phí BHNT của 5 thị trờng lớn nhất thế giới năm
1993.
Tên nớc
Tổng doanh
thu phí bảo
Cơ cấu phí bảo hiểm (%) Thị phần thế
giới(%)
Nhân thọ Phi nhân thọ
Nh vậy, ngày nay lợi nhuận và những lợi ích xã hội mà BHNT
mang lại đã tạo cho nó chỗ đứng vững vàng trong nền kinh tế xã hội. Các
công ty bảo hiểm đã có mặt ở hầu hết các nớc trên thế giới và nhiều sản
phẩm ngày càng đa dạng và hoàn hảo hơn. Kỹ thuật tính toán và các phần
mềm máy tính ứng dụng cũng nh các dịch vụ đi kèm sản phẩm ngày càng
hoàn thiện.
BHNT từng bớc trở thành nhu cầu thiết thân đối với mỗi ngời dân.
Ngời ta đã thống kê đợc ở Nhật Bản và ở Mỹ cứ 10 ngời dân thì có 9 ngời
mua BHNT, ở Singapore cứ 10 ngời dân thì có 5 ngời tham gia BHNT, ở
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Indonesia, một nớc có nền kinh tế xã hội gần giống với Việt Nam, cũng có
10% số hợp đồng BHNT.
Bảo hiểm nhân thọ đã xuất hiện ở Việt Nam từ cuối những năm 80, nh-
ng sự kém phát triển của nền kinh tế và sự không ổn định của đồng tiền trong
thời gian đó đã không cho phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này. Cụ thể:
Năm 1987, Bảo Việt đã tổ chức nghiên cứu đề tài " Lý thuyết về BHNT
và sự vận dụng thực tế vào Việt Nam" đã đợc Bộ Tài Chính công nhận là đề
tài cấp bộ. Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu phân tích các điều kiện triển
khai BHNT ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế- xã hội cuối thập kỷ 80. Việc
triển khai BHNT ở Việt Nam phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà vào
những năm cuối thập kỷ 80 ở Việt Nam cha có đợc:
- Tỷ lệ lạm phát lúc đó rất cao và cha ổn định.
- Thu nhập của nhân dân thời gian đó rất thấp. Hơn thế nữa, tỷ lệ lạm
phát cao nên thu nhập của đa số nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu
cầu tối thiểu thờng ngày, phần giành ra để tiết kiệm rất ít.
- Phí bảo hiểm thu đợc vẫn cha có điều kiện đầu t phát triển. Công ty
bảo hỉêm lúc đó cha đợc phép sử dụng phí bảo hiểm đi đầu t, môi trờng đầu t
cha phát triển.
- Cha có những quy định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối
quan hệ giữa Công ty bảo hiểm và khả năng thanh toán của các công ty này.
ớc, môi trờng pháp lý thông thoáng cũng dần đợc hình thành, tạo điều kiện
thu hút các nhà đầu t nớc ngoài vào Việt Nam.
Trớc đây những năm 1996 đến 1999 chỉ có một mình công ty Bảo Việt
trên thị trờng bảo hiểm Việt Nam, nhng đến nay trên thị trờng bảo hiểm Việt
Nam đã có rất nhiều công ty kinh doanh BHNT. Tính đến thời điểm này, thị
trờng BHNT Việt Nam đã có tất cả là 8 công ty BHNT đang hoạt động trong
đó chỉ có một doanh nghiệp Nhà nớc, một doanh nghiệp t nhân, còn lại là
những doanh nghiệp có 100% vốn đầu t nớc ngoài, cụ thể qua bảng sau:
STT Tên doanh nghiệp Năm thành lập
tại Việt Nam
Xuất xứ Hình thức sở hữu Nguồn vốn điều
lệ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1 BHNT Việt Nam 1996 Việt Nam Nhà nớc 589 Tỷ VN đồng
2 Prudential 1999 Anh 100 % vốn nớc ngoài 65 Triệu USD
3 AIA 2000 Mỹ 100% vốn nớc ngoài 25 Triệu USD
4 Bảo Minh CMG 1999 Việt- úc Liên doanh 10 Triệu USD
5 Manulife 1999 Đức 100% vốn nớc ngoài 10 Triệu USD
6 ACE 2005 Mỹ 100% vốn nớc ngoài
7 Prévoice 2005 Pháp 100% vốn nớc ngoài 10 Triệu USD
8 BHNT Hàn Quốc 2006 Hàn Quốc 100% vốn nớc ngoài
Ngày nay với xu hớng hội nhập, thị trờng bảo hiểm Việt Nam trở nên
hấp dẫn hơn với nhiều các công ty nớc ngoài, những công ty đã có nhiều kinh
nghiệm hoạt động ở nớc ngoài, kèm theo cơ chế tài chính, thù lao linh hoạt,
thị trờng BHNT Việt Nam thực sự bớc vào một giai đoạn mới- giai đoạn sôi
động, cạnh tranh toàn diện và phát triển với tốc độ cao. Sự cạnh tranh thể
hiện trên tất cả các mặt nh thu hút khách hàng, các sản phẩm đổi mới ngày
càng đáp ứng thiết thực hơn với nhu cầu khách hàng, dịch vụ khách hàng, địa
bàn hoạt động, thu hút đại lý, quảng cáo, khuyến mãi... Và thực chất kinh
doanh BHNT là một ngành kinh doanh mang có tơng lai phát triển lớn mạnh
6
461
5
644
6
780
0
8012,8
Trong xu hớng hội nhập toàn cầu hiện nay, thị trờng bảo hiểm Việt
Nam nói chung, thị trờng BHNT nói riêng sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn
nữa, mạng lới kinh doanh sẽ phủ kín toàn quốc, lực lợng đại lý, cán bộ ngày
càng đông đảo, mô hình tổ chức và quản lý các quy trình nghiệp vụ ngày một
hoàn thiện, chất lợng khai thác bảo hiểm từng bớc đợc nâng cao. Bên cạnh đó
cũng sẽ phải đối mặt với những diễn biến phức tạp ảnh hởng đến hoạt động
kinh doanh bảo hiểm. Song thị trờng BHNT Việt Nam là một thị trờng còn
nhiều tiềm năng, hứa hẹn nhiều bớc phát triển mới.
2. Vai trò của BHNT.
BHNT có vai trò rất lớn, BHNT không chỉ thể hiện trong từng gia đình
và đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, giảm bớt khó
khăn về tài chính khi gặp rủi ro, mà còn thể hiện rõ trên phạm vi toàn xã hội.
Trên phạm vi toàn xã hội, BHNT góp phần thu hút vốn đầu t nớc ngoài, huy
động vốn trong nớc từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi trong dân c. Nguồn
vốn này không chỉ có tác dụng đầu t dài hạn, mà còn góp phần thực hành tiết
kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động góp
phần hỗ trợ ngân sách nhà nớc giải quyết đợc một số khó khăn về kinh phí
đảm bảo xã hội và đầu t phát triển. Cụ thể :
2.1. BHNT góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân, gia đình và là
chỗ dựa tình thần vững chắc cho ngời tham gia bảo hiểm.
Trong cuộc sống, con ngời dù đã có những biện pháp đề phòng hạn
hiểm tập thể... cho ngời làm công, đặc biệt là những ngời chủ chốt trong
doanh nghiệp nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống và tạo ra sự lôi cuốn, gắn bó
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngay cả trong lúc doanh nghiệp gặp khó khăn, tránh cho doanh nghiệp sự bất
ổn định về tài chính, bên cạnh đó góp phần quan trọng là giúp doanh nghiệp
ổn định sản xuất, tránh đợc sự thua thiệt về tài chính và những tai nạn rủi ro
gây nên mà vẫn có chi phí bù đắp.
2.3. BHNT góp phần thu hút vốn đầu t nớc ngoài, tạo kênh huy động và
cung cấp vốn đầu t lớn cho nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát
triển.
Tại các nớc phát triển trên thế giới, thời gian trớc đây khi BHNT bắt
đầu hình thành thì phí bảo hiểm thu đợc cũng cha thực sự dùng cho hoạt
động đầu t, số tiền này còn nằm trong các ngân hàng rất lớn và nh thế lợi
nhuận thu từ việc đầu t là cha cao, cụ thể ta có thể thấy ở Mỹ trong những
năm 1970 số vốn các công ty BHNT cung cấp chỉ là 9 tỷ USD, trong khi đó
cung cấp vốn qua hệ thống ngân hàng để đầu t là 37 tỷ USD. Nhng chỉ đến
năm 2001 số vốn do các công ty BHNT đầu t là 100,2 tỷ USD, trong khi hệ
thống ngân hàng trong nớc chỉ có 95,7 tỷ USD. Còn các nớc ở khu vực Châu
á từ khi mở cửa thị trờng bảo hiểm nhân thọ cho các công ty nớc ngoài đầu t
vào thị trờng trong nớc thì vốn của các công ty đã lớn mạnh hơn rất nhiều.
Tại Việt Nam nguồn vốn đầu t mà các công ty BHNT mang lại ngày
càng tăng lên điều này thể hiện rõ qua bảng 5 sau đây:
Bảng 5: Quỹ đầu t của các công ty BHNT ở Việt Nam cung cấp cho nền
kinh tế.
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Quỹ đầu t( tỷ đồng) 0,7 15 178 582 1654 4000
( Nguồn: Tạp chí bảo hiểm số 6/ 2002)
( Ghi chú: quỹ đầu t ớc tính vào cuối năm, tơng ứng với quỹ dự phòng
nghiệp vụ, không tính nguồn vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu)
Nhìn vào bảng trên ta thấy rõ quỹ đầu t của các công ty BHNT vào nền
chủ về thời gian, đòi hỏi tính tự giác cao, hởng thù lao theo kết quả hoạt
động, tự hạch toán độc lập, không yêu cầu quá cao về bằng cấp, nghề đại
lý(t vấn) BHNT cũng đã tạo ra chỗ làm việc cho hàng triệu ngời với t cách là
cán bộ, nhân viên của các doanh nghiệp BHNT, ngoài ra còn tạo ra việc làm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cho các ngành khác có liên quan nh công nghệ thông tin, ngân hàng, in ấn,
quảng cáo.
2.5.BHNT góp phần nâng cao sức khoẻ cho những ngời tham gia BHNT.
Bên cạnh việc phải bảo hiểm cho khách hàng khi có sự cố sảy ra thì
các công ty bảo hiểm cũng thực sự quan tâm đến sức khoẻ của khách hàng,
công ty luôn tìm cách bảo vệ sức khoẻ cũng nh tính mạng của ngời đợc bảo
hiểm. Các công ty bảo hiểm trớc khi chấp nhận bảo hiểm cho khách hàng sẽ
đợc kiểm tra sức khoẻ tại trung tâm y tế do công ty chỉ đinh, nếu đủ tiêu
chuẩn sẽ đợc tham gia bảo hiểm, việc kiểm tra sức khoẻ này cũng thực sự có
ích cho khách hàng, vì qua đợt kiểm tra này họ có thể biết rõ hơn về tình
trạng sức khoẻ của bản thân, mà dịch vụ này là miễn phí. Hơn nữa trong thời
hạn bảo hiểm mỗi công ty đều thực hiện các chính sách dịch vụ khách hàng,
trong đó có thực hiện chính sách, chăm sóc sức khoẻ thông qua dịch vụ kiểm
tra sức khoẻ của phòng chăm sóc sức khoẻ khách hàng, dịch vụ này thờng đ-
ợc tiến hành định kỳ 1 năm/ 1 lần hoặc 2 năm/ 1 lần ( tuỳ theo từng công ty)
tại các trung tâm y tế do công ty BHNT chỉ định hoặc tại phòng chăm sóc sức
khoẻ khách hàng của công ty. Ngoài ra, khi khách hàng đợc bảo hiểm gặp rủi
ro ốm đau, phẫu thuật, tai nạn,... công ty BHNT cũng trả một số tiền để họ
phục hồi sức khoẻ một cách nhanh chóng.
2.6. Ngoài ra, BHNT còn có tác dụng kích thích tiết kiệm.
Thông qua các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, mỗi ngời hoàn toàn có
thể tiết kiệm đợc những số tiền một cách có kế hoạch, có mục đích chính
đáng nh: tiết kiệm cho tơng lai sau này, tiết kiệm cho con cái ăn học, tiết
kiệm để lo cho tuổi già,... nh vậy BHNT đã tạo ra một hình thức tiết kiệm
linh hoạt, tác động đến nếp sống, nếp suy nghĩ của mỗi cá nhân, từng gia
nghĩa là khi ngời đợc bảo hiểm không may gặp rủi ro trong thời hạn bảo
hiểm đã đợc ấn định, những ngời thân của họ sẽ nhận đợc những khoản trợ
cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất
rủi ro trong BHNT.
3.2. BHNT đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau của ngời tham gia bảo
hiểm.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng đợc một
mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tợng tham gia bảo hiểm gặp
sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho ngời tham gia bảo hiểm, thì
BHNT đã đáp ứng đợc nhiều mục đích khác nhau và rất hữu ích cho ngời
tham gia bảo hiểm nhân thọ. Mỗi mục đích thể hiện khá rõ trong từng hợp
đồng. Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm hu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của ngời
tham gia bảo hiểm những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần
ổn định cuộc sống của họ khi già yếu. Hợp động bảo hiểm tử vong sẽ giúp
ngời đợc bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm khi họ bị tử vong.
Số tiền nay đáp ứng đợc rất nhiều mục đích của ngời quá cố nh: trang trải nợ
nần, giáo dục con cái, phụng dỡng bố mẹ già... Hợp đồng BHNT đôi khi còn
có vai trò nh một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thờng đợc bán
cho các đối tợng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình, hoặc dùng cho
các mục đích cá nhân khác... Chính vì đáp ứng các mục tiêu khác nhau mà
loại hình bảo hiểm nhân thọ ngày càng có thị trờng rộng lớn và đợc rất nhiều
ngời quan tâm.
3.3. Các loại hợp đồng BHNT rất đa dạng và phức tạp.
Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ngay ở
nhóm sản phẩm của nó. Mối nhóm sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp
đồng bảo hiểm khác nhau, chẳng hạn hợp đồng BHNT hỗn hợp có các hợp
đồng 5 năm, 10 năm. Mỗi hợp đồng có thời hạn khác nhau, lại có sự khác
nhau về STBH, phơng thức đóng phí, độ tuổi của ngời tham gia... Ngay cả
trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp. Khác
phân tích dòng tiền tệ, phân tích đợc chiều hớng phát triển của mỗi sản phẩm
trên thị trờng nói chung.
3.5. Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế-
xã hội nhất định.
Tại các nớc kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm
năm nay. Ngợc lại có một số nớc trên thế giới hiện nay vẫn cha triển khai đợc
BHNT, mặc dù ngời ta hiểu rõ vai trò và lợi ích của nó. Vì sự ra đời của
BHNT còn phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội nh:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tốc độ tăng trởng của tổng sản phẩm quốc nội ( CDP).
- Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân một đầu ngời.
- Mức thu nhập của dân c.
- Tỷ lệ lạm phát.
- Tỷ giá hối đoái...
- Điều kiện dân số.
- Tuổi thọ bình quân của ngời dân.
- Trình độ học vấn.
- Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.
Ngoài điều kiện kinh tế - xã hội thì môi trờng pháp lý cũng ảnh hởng
không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT. Thông thờng ở các nớc,
luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời
trớc khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các văn bản có liên
quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề nh: Tài chính, đầu t, hợp đồng, thuế...
Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh
BHNT. Chẳng hạn, ỏ một số nớc phát triển nh : Anh, Pháp, Đức...Nhà nớc th-
ờng tạo điều kiện thuận lợi cho BHNT bằng cách có chính sách thuế u đãi.
Mục đích nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên
quỹ hu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nớc. Mặt khác còn
đẩy mạng đợc quá trình tập trung vốn trong các công ty bảo hiểm để từ đó có
vốn dài hạn đầu t cho nền kinh tế. Cũng chính vì mục đích đó mà một số nớc
hợp đồng. Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì ngời đợc bảo
hiểm không nhận đợc bất kỳ một khoản hoàn phí nào từ số tiền bảo hiểm đã
đóng. Điều đó cũng có nghĩa là ngời bảo hiểm không phải thanh toán số tiền
bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm. Ngợc lại, nếu cái chết xảy ra trong thời hạn
có hiệu lực của hợp đồng, thì ngời bảo hỉêm có trách nhiệm thanh toán
STBH cho ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm đợc chỉ định.
+ Đặc điểm:
- Thời hạn bảo hiểm xác định
- Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Mức phí bảo hỉêm thấp vì không phải lập nên quỹ tiết kiệm cho ngời
đợc bảo hiểm.
+ Mục đích:
- Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất
- Bảo trợ cho gia đình và ngời thân trong một thời gian ngắn
- Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế chấp của
ngời đợc bảo hiểm.
Bảo hiểm tử kỳ còn đa dạng hóa thành các loại hình sau:
- Bảo hiểm tử kỳ cố định: có mức phí bảo hiểm và STBH cố định,
không thay đổi trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng.
- Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục: loại hình này có thể đợc tái tục vào
ngày kết thúc hợp đồng và không yêu cầu có thêm bằng chứng nào về sức
khoẻ của ngời đợc bảo hiểm, nhng có sự giới hạn về độ tuổi ( thờng tối đa là
65 tuổi). Tại lúc tái tục phí bảo hiểm tăng lên vì độ tuổi của ngời đợc bảo
hiểm lúc này tăng lên.
- Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: là loại hình bảo hiểm tỷ kỳ cố
định nhng cho phép ngời đợc bảo hiểm có sự lựa chọn chuyển đổi một phần
hay toàn bộ hợp đồng thành một hợp đồng BHNT trọn đời hay một hợp đồng
BHNT hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực.
- Bảo hiểm tử kỳ giảm dần: là loại hình bảo hiểm có một bộ phận của
- Thời hạn bảo hiểm không xác định.
- Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc đóng định kỳ và không thay
đổi trong suốt quá trình bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, vì rủi
ro chắc chắn sẽ xảy ra, nên STBH chắc chắn phải chi trả.
- BHNT trọn đời là loại hình bảo hiểm dài hạn, phí đóng định kỳ và
không thay đổi trong suốt quá trình bảo hỉêm vì chắc chắn ngừơi bảo hiểm sẽ
chi trả STBH.
+ Mục đích:
- Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất.
- Bảo đảm các thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau.
Hiện nay, loại hình bảo hiểm này thờng có các loại hợp đồng sau:
- BHNT tròn đời phi lợi nhuận: loại này có mức chi phí và STBH cố
định suốt đời.
- BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhuận: khi thanh toán STBH cho
ngời đợc thụ hởng quền lợi, họ đợc chia một phần lợi nhuận nh đã thoả thuận
trong hợp đồng.
- BHNT trọn đời đóng phí liên tục: loại này yêu cầu ngời đợc bảo hiểm
phải đóng phí liên tục cho đến lúc chết.
- BHNT trọn đời đóng phí một lần: đây là loại hình bảo hiểm mà ngời
đợc bảo hiểm chỉ đóng phí một lần khi ký hợp đồng, còn ngời bảo hiểm phải
bảo đảm chi trả bất cứ lúc nào khi cái chết của ngừơi đợc bảo hiểm xuất hiện.
Khoản phí đóng một lần là khá lớn nên ngòi tham gia hạn chế.
- BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí bảo hiểm: loại này không
đòi hỏi ngời đợc bảo hiểm phải đóng phí liên tục hay một lần, mà quy định rõ
số năm đóng phí bảo hiểm. Tổng số phí mỗi lần phụ thuộc vào số lần đóng
phí. Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc khi hết thời hạn đóng phí thì quyền lợi
bảo hiểm sẽ đợc thanh toán cho ngời thụ hởng bảo hiểm và không phải trả
- Thời hạn bảo hiểm xác định (thờng là 5, 10, 20 năm...).
- Phí bảo hiểm thờng đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời
hạn bảo hiểm.
- Có thể đợc chia lãi thông qua đầu t phí bảo hiểm và cũng có thể đợc
hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia.
+ Mục đích:
- Đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và ngời thân
- Tạo lập quỹ giáo dục, hu trí, trả nợ.
- Dùng làm vật thế chấp, vay vốn hoặc khởi nghiệp kinh doanh...
Khi triển khai bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể
đa dạng hoá loại sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau,
hợp đồng phi lợi nhuận, có lợi nhuận và các loại hình khác tuỳ theo tình hình
thực tế.