Lời mở đầu
Con ngời là vốn quý của xã hội, con ngời kiến tạo ra xã hội và là trọng
tâm của mọi sự phát triển xã hội. Cũng chính vì vậy mà, vấn đề quốc gia nào
cũng quan tâm là đảm bảo cho con ngời trớc những rủi ro: ốm đau, bệnh tật,
tuổi già, mất việc làm đe doạ tính mạng, tình trạng sức khoẻ và cuộc sống
của con ngời.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học kỹ thuật ngày càng
tiến bộ, đời sống của con ngời ngày càng đợc nâng cao, chất lợng hơn, các
nhu cầu đảm bảo cũng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về quy
mô, mức độ và thời hạn. Theo đó các hoạt động để đáp ứng những nhu cầu ấy
cũng phát triển một cách tơng ứng. Bảo hiểm ra đời nh là một biện pháp hữu
hiệu nhất, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ có một vai trò rất lớn , nó không
những tạo ra sự yên tâm, ổn định tài chính cho mỗi ngời, mỗi gia đình, tổ
chức khi gặp rủi ro mà còn cung cấp nguồn quỹ đầu t dài hạn cho nền kinh tế
tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội.
BHNT là một ngành ra đời sớm và phát triển từ lâu trên thế giới. Tuy
nhiên ở Việt Nam, trải qua một thời gian triển khai nghiệp vụ này thì đây vẫn
còn là một lĩnh vực mới mẻ. Mặc dù vậy, thực tế về hoạt động của BHNT
trong thời gian qua thì có thể khẳng định tiềm năng BHNT là rất lớn và trong
xu thế hội nhập, mở cửa hiện nay, sẽ có thêm nhiều công ty bảo hiểm nớc
ngoài thành lập dẫn đến sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt. Điều đó
dẫn đến các công ty bảo hiểm nhân thọ phải có một chiến lợc kinh doanh
hiệu quả của riêng mình, để tồn tại và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Trong
hoạt động kinh doanh bảo hiểm có rất nhiều chiến lợc mang lại cho công ty
một hiệu quả kinh doanh cao, một trong những chiến lợc quan trọng đóng vai
trò trọng yếu, quyết định đến hiệu quả kinh doanh của công ty đó là khâu
khai thác trong bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, để đạt đợc những thành công
trong lĩnh vực kinh doanh BHNT các công ty phải không ngừng cải tiến và
hoàn thiện công tác khai thác cho phù hợp với yêu cầu thực tế của thị trờng.
Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Bảo Minh- CMG cũng không nằm ngoài xu h-
ớng đó.
biết đến, công ty bảo hiểm cũng rất ngạc nhiên về lời đề nghị này, song để
làm hài lòng khách hàng họ đã đồng ý, phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là
32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, ngời thừa kế của ông đợc hởng 400
bảng Anh.
Năm 1669, Công ty bảo hiểm tơng hỗ đầu tiên là Hội BHNT và hu trí,
hội này do các nhà buôn bán vải thành lập. Nhng chỉ ít năm sau đó đã bị thất
bại, chìm đắm trong nợ nần.
Sản phẩm BHNT trong giai đoạn mới thành lập đợc bán một cách rộng
rãi và không tính toán. Ngời mua bảo hiểm cho nhau và tìm cách hại nhau để
kiếm tiến bồi thờng. Vì lý do đó, năm 1740, Chính phủ Anh đã tập hợp các
Công ty bảo hiểm trên toàn quốc, ra chỉ thị bán bảo hiểm nhất thiết phải căn
cứ vào " quyền lợi bảo hiểm", tức là ngời chủ hợp đồng và ngời đợc bảo hiểm
phải có mối quan hệ ruột thịt, hôn nhân hay bảo hộ hợp pháp.
Trong số các công ty bảo hiểm Anh thời đó, có một công ty tên là Công
ty BHNT Luân Đôn. Với cách kinh doanh cẩn trọng hơn, công ty đã hạn chế
đợc số khách hàng và số tiền mua bảo hiểm. Năm 1725 họ biết hớng dẫn đại
lý của họ tiếp xúc trực tiếp với ngời đợc bảo hiểm, nhận dạng khách hàng và
hỏi một câu hỏi duy nhất về tình trạng sức khoẻ là: " Ông bà có bị bệnh đậu
mùa lần nào cha?". Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì đó là thời
kỳ xuất hiện một trận dịch đậu mùa làm cho cả trăm ngàn ngời ở Châu Âu
thiệt mạng, còn các công ty bảo hiểm thì sạt nghiệp vì chi trả.
Tại Mỹ, năm 1759 Hội BHNT tơng hỗ do hội nghị tôn giáo của các nhà
thờ đề nghị đợc thành lập, tuy nhiên họ chỉ hạn chế bán các hợp đồng BHNT
cho các con chiên trong nhà thờ của tín đồ Presbyterian nên không đáp ứng
đợc nhu cầu tham gia của toàn xã hội.
Phải đến khi các Công ty bảo hiểm tơng hỗ của Anh nghiên cứu đợc tỷ
lệ chết thực tế cho từng lứa tuổi khác nhau để biết rủi ro thực tế của từng độ
tuổi và khoa học thẩm định, khoa học tính phí ra đời thì bảo hiểm nhân thọ
mới thực sự hoạt động trên nguyên tắc khoa học và phát triển rộng rãi.
Năm 1774, Vua Anh là Georges III đã chính thức cho phép hoạt
nay công ty này vẫn đang phát triển lớn mạnh trên rất nhiều nớc trên thế giới.
Ngành BHNT thực sự trở thành một nhu cầu lớn tại các nớc đã
và đang phát triển. ở châu á, Nhật Bản là nớc có công ty bảo hiểm nhân thọ
đầu tiên hoạt động dới hình thức kinh doanh là Công ty Meji. Sau 7 năm độc
quyền ở Nhật Bản, đến năm 1889, hai Công ty bảo hiểm lớn ra đời là Công ty
BHNT Teikoku và Nippon.
Các Công ty BHNT của Anh và Nhật đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển BHNT ở các nớc Châu á khác. Ví dụ ở Triều Tiên, các Công
ty BHNT của Anh hoạt động ỏ hầu hết trên khắp đất nớc, cho đến năm 1905
thì Nhật Bàn giành lại hoàn toàn quyền quản lý BHNT trên đất nớc Triều
Tiên. Công ty BHNT SIM đợc thành lập năm 1929, là Công ty duy nhất do
ngời Triều Tiên quản lý. Đến những năm 60, nền công nghiệp BHNT hiện đại
của Triều Tiên thực sự bắt đầu phát triển.
Tại Singapore, các Công ty BHNT của Anh đóng vai trò chính trong
việc phát triển kinh doanh BHNT, Công ty BHNT trong nớc của Singapore ra
đời năm 1908, công nghiệp BHNT của Singapore thực sự phát triển vào năm
1965.
Nh vậy, BHNT ở trên thế giới ra đời từ rất lâu và nó trở thành một
ngành dịch vụ không thể thiếu đợc trong cuộc sống của mỗi ngời dân.
Mặc dù BHNT ra đời muộn hơn so với nhiều loại hình bảo hiểm
khác nhng nó đã nhanh chóng giữ một vị trí quan trọng trong lĩnh vực bảo
hiểm. Thực tế hoạt động và kết quả triển khai BHNT ở các nớc đã chứng tỏ vị
trí quan trọng của các sản phẩm BHNT trên thị trờng. Hiện nay tham gia
BHNT là một nhu cầu tất yếu của nhân dân các nớc đang phát triển, đặc biết
là ở Châu á. Một số nớc có nền kinh tế phát triển nh Nhật Bản, Đài Loan,
Hồng Kông... BHNT giữ một vị trí trọng yếu trong nền kinh tế. Thị phần
BHNT trong một số thị trờng tơng đối lớn, thể hiện ở tỷ lệ doanh thu phí
BHNT so với phí thu của toàn ngành bảo hiểm. Theo thống kê năm 1992 của
tạp chí Signa ( Thuỵ Sỹ), doanh thu phí nghiệp vụ BHNT thế giới là 1466 tỷ
USD, trong đó phí BHNT chiếm 52,4%. Tuy nhiên sự phát triển của BHNT
ngời (USD)
Phí
BHPNT/
Phí bảo
hiểm (%)
Nhật Bản 5088,3 4075,8 80,1 1012,5 19,9
Hàn Quốc 1337,6 1042,1 77,9 295,5 22,1
Đài Loan 678,5 459,3 67,7 219,2 32,3
Singapore 1190,8 826,1 69,4 364,7 30,6
Hồng Kông 813,8 495,5 60,9 318,3 39,1
Thái Lan 67,6 32,2 47,6 35,4 52,4
( Nguồn: Tạp chí Signa- SwissRe số 268 năm 1995)
Cho đến năm 1998 thì đã có 5 thị trờng BHNT lớn nhất thế giới là
Nhật, Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Theo số liệu thống kê năm 1998 phí BHNT của
5 thị trờng này đợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Cơ cấu phí BHNT của 5 thị trờng lớn nhất thế giới năm
1993.
Tên nớc
Tổng doanh
thu phí bảo
Cơ cấu phí bảo hiểm (%) Thị phần thế
giới(%)
Nhân thọ Phi nhân thọ
1. Mỹ 522.468 41,44 41,44 42,55
2. Nhật 320.143 73,86 73,86 22,42
3. Đức 107.403 39,38 39,38 6,67
4. Anh 102.360 65,57 65,57 6,62
5. Pháp 84.303 56,55 56,55 4,58
( Nguồn : Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, tháng 8/ 1996)
Kể từ khi ra đời, BHNT phát triển rất nhanh. Theo số liệu thống kê
mua BHNT, ở Singapore cứ 10 ngời dân thì có 5 ngời tham gia BHNT, ở
Indonesia, một nớc có nền kinh tế xã hội gần giống với Việt Nam, cũng có
10% số hợp đồng BHNT.
Bảo hiểm nhân thọ đã xuất hiện ở Việt Nam từ cuối những năm 80, nh-
ng sự kém phát triển của nền kinh tế và sự không ổn định của đồng tiền trong
thời gian đó đã không cho phép triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này. Cụ thể:
Năm 1987, Bảo Việt đã tổ chức nghiên cứu đề tài " Lý thuyết về BHNT
và sự vận dụng thực tế vào Việt Nam" đã đợc Bộ Tài Chính công nhận là đề
tài cấp bộ. Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu phân tích các điều kiện triển
khai BHNT ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế- xã hội cuối thập kỷ 80. Việc
triển khai BHNT ở Việt Nam phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà vào
những năm cuối thập kỷ 80 ở Việt Nam cha có đợc:
- Tỷ lệ lạm phát lúc đó rất cao và cha ổn định.
- Thu nhập của nhân dân thời gian đó rất thấp. Hơn thế nữa, tỷ lệ lạm
phát cao nên thu nhập của đa số nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu
cầu tối thiểu thờng ngày, phần giành ra để tiết kiệm rất ít.
- Phí bảo hiểm thu đợc vẫn cha có điều kiện đầu t phát triển. Công ty
bảo hỉêm lúc đó cha đợc phép sử dụng phí bảo hiểm đi đầu t, môi trờng đầu t
cha phát triển.
- Cha có những quy định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối
quan hệ giữa Công ty bảo hiểm và khả năng thanh toán của các công ty này.
Với những phân tích trên, việc vận dụng đề tài này chỉ dừng lại ở mức
độ triển khai bảo hiểm sinh mạng cá nhân có thời hạn 1 năm( bắt đầu triển
khai từ tháng 2/ 1990). So với loại hình bảo hiểm con ngời trớc đây thì phạm
vi bảo hiểm đã đợc mở rộng ( chết do mọi nguyên nhân). Tuy nhiên, thực tế
triển khai bảo hiểm sinh mạng cá nhân cho thấy:
- Việc lo xa cho gia đình khi không may ngời chủ gia đình bị mất đi,
mà chỉ tính đến trong vòng một năm là không hấp dẫn. Tâm lý ngời tham gia
loại hình bảo hiểm này không thoải mái. Do đó, loại hình bảo hiểm này chỉ
đáp ứng đợc nhu cầu tham gia của những ngời già.
Xuất xứ Hình thức sở hữu Nguồn vốn điều
lệ
1 BHNT Việt Nam 1996 Việt Nam Nhà nớc 589 Tỷ VN đồng
2 Prudential 1999 Anh 100 % vốn nớc ngoài 65 Triệu USD
3 AIA 2000 Mỹ 100% vốn nớc ngoài 25 Triệu USD
4 Bảo Minh CMG 1999 Việt- úc Liên doanh 10 Triệu USD
5 Manulife 1999 Đức 100% vốn nớc ngoài 10 Triệu USD
6 ACE 2005 Mỹ 100% vốn nớc ngoài
7 Prévoice 2005 Pháp 100% vốn nớc ngoài 10 Triệu USD
8 BHNT Hàn Quốc 2006 Hàn Quốc 100% vốn nớc ngoài
Ngày nay với xu hớng hội nhập, thị trờng bảo hiểm Việt Nam trở nên
hấp dẫn hơn với nhiều các công ty nớc ngoài, những công ty đã có nhiều kinh
nghiệm hoạt động ở nớc ngoài, kèm theo cơ chế tài chính, thù lao linh hoạt,
thị trờng BHNT Việt Nam thực sự bớc vào một giai đoạn mới- giai đoạn sôi
động, cạnh tranh toàn diện và phát triển với tốc độ cao. Sự cạnh tranh thể
hiện trên tất cả các mặt nh thu hút khách hàng, các sản phẩm đổi mới ngày
càng đáp ứng thiết thực hơn với nhu cầu khách hàng, dịch vụ khách hàng, địa
bàn hoạt động, thu hút đại lý, quảng cáo, khuyến mãi... Và thực chất kinh
doanh BHNT là một ngành kinh doanh mang có tơng lai phát triển lớn mạnh
thể hiện ở doanh thu của BHNT qua bảng sau qua các năm:
Bảng 4: Doanh thu phí BHNT toàn thị trờng qua các năm ( tỷ đồng)
Năm 199
6
199
7
199
8
199
9
càng đông đảo, mô hình tổ chức và quản lý các quy trình nghiệp vụ ngày một
hoàn thiện, chất lợng khai thác bảo hiểm từng bớc đợc nâng cao. Bên cạnh đó
cũng sẽ phải đối mặt với những diễn biến phức tạp ảnh hởng đến hoạt động
kinh doanh bảo hiểm. Song thị trờng BHNT Việt Nam là một thị trờng còn
nhiều tiềm năng, hứa hẹn nhiều bớc phát triển mới.
2. Vai trò của BHNT.
BHNT có vai trò rất lớn, BHNT không chỉ thể hiện trong từng gia đình
và đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, giảm bớt khó
khăn về tài chính khi gặp rủi ro, mà còn thể hiện rõ trên phạm vi toàn xã hội.
Trên phạm vi toàn xã hội, BHNT góp phần thu hút vốn đầu t nớc ngoài, huy
động vốn trong nớc từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi trong dân c. Nguồn
vốn này không chỉ có tác dụng đầu t dài hạn, mà còn góp phần thực hành tiết
kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động góp
phần hỗ trợ ngân sách nhà nớc giải quyết đợc một số khó khăn về kinh phí
đảm bảo xã hội và đầu t phát triển. Cụ thể :
2.1. BHNT góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân, gia đình và là
chỗ dựa tình thần vững chắc cho ngời tham gia bảo hiểm.
Trong cuộc sống, con ngời dù đã có những biện pháp đề phòng hạn
chế nhng rủi ro vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Hậu quả của rủi ro thật khôn
lờng, nó không những ảnh hởng đến sức khoẻ, sinh mạng của con ngời mà
còn ảnh hởng đến tình hình tài chính của mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Nhiều
cá nhân, gia đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong
gia đình là trụ cột bị chết hoặc bị thơng tật toàn bộ vĩnh viễn. Khi đó gánh
nặng đè lên gia đình ngoài những chi phí mai táng, chôn cất, chi phí nằm
viện, thuốc men, chi phí phẫu thuật mà những khoản thu thờng xuyên cũng bị
mất đi. Khó khăn hơn là một loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà ngời chết
cha kịp hoàn thành nh: phụng dỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái ăn học, trả
nợ...Dù rằng hệ thống bảo trợ xã hội và các tổ chức xã hội có thể trợ cấp khó
khăn, nhng cũng chỉ mang tính tạm thời trớc mắt, cha đảm bảo lâu dài về mặt
tài chính. Tham gia BHNT sẽ phần nào giải quyết đợc những khó khăn đó.
năm 1970 số vốn các công ty BHNT cung cấp chỉ là 9 tỷ USD, trong khi đó
cung cấp vốn qua hệ thống ngân hàng để đầu t là 37 tỷ USD. Nhng chỉ đến
năm 2001 số vốn do các công ty BHNT đầu t là 100,2 tỷ USD, trong khi hệ
thống ngân hàng trong nớc chỉ có 95,7 tỷ USD. Còn các nớc ở khu vực Châu
á từ khi mở cửa thị trờng bảo hiểm nhân thọ cho các công ty nớc ngoài đầu t
vào thị trờng trong nớc thì vốn của các công ty đã lớn mạnh hơn rất nhiều.
Tại Việt Nam nguồn vốn đầu t mà các công ty BHNT mang lại ngày
càng tăng lên điều này thể hiện rõ qua bảng 5 sau đây:
Bảng 5: Quỹ đầu t của các công ty BHNT ở Việt Nam cung cấp cho nền
kinh tế.
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Quỹ đầu t( tỷ đồng) 0,7 15 178 582 1654 4000
( Nguồn: Tạp chí bảo hiểm số 6/ 2002)
( Ghi chú: quỹ đầu t ớc tính vào cuối năm, tơng ứng với quỹ dự phòng
nghiệp vụ, không tính nguồn vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu)
Nhìn vào bảng trên ta thấy rõ quỹ đầu t của các công ty BHNT vào nền
kinh tế ngày càng tăng một cách nhanh chóng. Điều này cũng góp phần to
lớn trong việc phát triển nền kinh tế - xã hội của nớc ta vì đây là một khoản
tiền hoàn toàn không nhỏ, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh phát triển thu
đợc lợi nhuận lớn hơn từ các khoản đầu t này. Với chức năng gom nhặt
những khoản tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong dân c, BHNT đã hình thành một
quỹ đầu t lớn, cung cấp vốn hữu ích cho nền kinh tế, đặc biệt đó là nguồn vốn
trung và dài hạn, phục vụ đắc lực cho công cuộc CNH-HĐH đất nớc. So với
ngành ngân hàng, BHNT Việt Nam tuy mới có thâm niên hoạt động còn ngắn
nhng đã thực sự trở thành một kênh huy động và phân phối vốn hữu hiệu cho
nền kinh tế. Dới hình thức quỹ dự phòng, các doanh nghiệp BHNT đã tích luỹ
đợc số vốn ngày càng lớn, cho phép các doanh nghiệp BHNT thực hiện
những khoản đầu t lớn dới hình thức nh góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu,
tín phiếu kho bạc Nhà nớc, gửi tiền tiết kiệm ngân hàng, cho vay, tham gia
các dự án đầu t...Hoạt động tài chính cũng trở thành xơng sống cho nâng đỡ
hạn bảo hiểm mỗi công ty đều thực hiện các chính sách dịch vụ khách hàng,
trong đó có thực hiện chính sách, chăm sóc sức khoẻ thông qua dịch vụ kiểm
tra sức khoẻ của phòng chăm sóc sức khoẻ khách hàng, dịch vụ này thờng đ-
ợc tiến hành định kỳ 1 năm/ 1 lần hoặc 2 năm/ 1 lần ( tuỳ theo từng công ty)
tại các trung tâm y tế do công ty BHNT chỉ định hoặc tại phòng chăm sóc sức
khoẻ khách hàng của công ty. Ngoài ra, khi khách hàng đợc bảo hiểm gặp rủi
ro ốm đau, phẫu thuật, tai nạn,... công ty BHNT cũng trả một số tiền để họ
phục hồi sức khoẻ một cách nhanh chóng.
2.6. Ngoài ra, BHNT còn có tác dụng kích thích tiết kiệm.
Thông qua các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, mỗi ngời hoàn toàn có
thể tiết kiệm đợc những số tiền một cách có kế hoạch, có mục đích chính
đáng nh: tiết kiệm cho tơng lai sau này, tiết kiệm cho con cái ăn học, tiết
kiệm để lo cho tuổi già,... nh vậy BHNT đã tạo ra một hình thức tiết kiệm
linh hoạt, tác động đến nếp sống, nếp suy nghĩ của mỗi cá nhân, từng gia
đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành ý thức, thói quen về việc dành
một phần thu nhập để cho một cuộc sống tơng lai an toàn hơn, một thế hệ t-
ơng lai tốt đẹp hơn, đầy đủ hơn. Thông qua các hợp đồng bảo hiểm họ hoàn
toàn có thể thực hiện đợc điều đó. Trên thực tế, BHNT cón có vai trò nh một
vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thờng đợc bán cho các đối tợng
đi vay để mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc dùng cho mục đích cá nhân
khác.
Qua các tác dụng nêu trên, chúng ta thực sự thấy đợc tác dụng to lớn
và ý nghĩa của BHNT, chính vì vậy mà BHNT ngày càng phát triển và trở nên
quan trọng không thể thiếu đợc trong đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, tổ
chức, và mỗi nền kinh tế.
3. Đặc điểm của BHNT.
3.1. BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro.
Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với
BHPNT. Thật vậy, mỗi ngời mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ
(phí bảo hiểm ) cho ngời bảo hiểm, ngợc lại ngời bảo hiểm có trách nhiệm trả
có vai trò nh một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thờng đợc bán
cho các đối tợng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình, hoặc dùng cho
các mục đích cá nhân khác... Chính vì đáp ứng các mục tiêu khác nhau mà
loại hình bảo hiểm nhân thọ ngày càng có thị trờng rộng lớn và đợc rất nhiều
ngời quan tâm.
3.3. Các loại hợp đồng BHNT rất đa dạng và phức tạp.
Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ngay ở
nhóm sản phẩm của nó. Mối nhóm sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp
đồng bảo hiểm khác nhau, chẳng hạn hợp đồng BHNT hỗn hợp có các hợp
đồng 5 năm, 10 năm. Mỗi hợp đồng có thời hạn khác nhau, lại có sự khác
nhau về STBH, phơng thức đóng phí, độ tuổi của ngời tham gia... Ngay cả
trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp. Khác
với các bản hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, hợp đồng BHNT có thể có 4
bên tham gia: ngời bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm, ngời tham gia bảo hiểm,
ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm.
3.4. Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy
quá trình định phí khá phức tạp.
Theo tác giả Jean- Claude Harrari "sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
không gì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đa sản phẩm bảo
hiểm đến công chúng". Trong tiến trình này, ngời bảo hiểm phải bỏ ra rất
nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, nh : chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp
đồng.
Nhng những chi phí đó chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản
phẩm BHNT. Phí BHNT chịu tác động chủ yếu của các yếu tố sau:
- Chi phí khai thác.
- Chi phí quản lý hợp đồng.
- Độ tuổi của ngời đợc bảo hiểm.
- STBH.
- Thời hạn tham gia.
- Phơng thức thanh toán.
luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời
trớc khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các văn bản có liên
quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề nh: Tài chính, đầu t, hợp đồng, thuế...
Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh
BHNT. Chẳng hạn, ỏ một số nớc phát triển nh : Anh, Pháp, Đức...Nhà nớc th-
ờng tạo điều kiện thuận lợi cho BHNT bằng cách có chính sách thuế u đãi.
Mục đích nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên
quỹ hu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nớc. Mặt khác còn
đẩy mạng đợc quá trình tập trung vốn trong các công ty bảo hiểm để từ đó có
vốn dài hạn đầu t cho nền kinh tế. Cũng chính vì mục đích đó mà một số nớc
Châu á nh : ấn Độ, Hồng Kông, Singapore... không đánh thuế doanh thu đối
với các nghiệp vụ BHNT, sự u đãi này là đòn bẩy tích cực để BHNT phát
triển.
4. Các loại hình BHNT cơ bản.
BHNT đáp ứng đợc rất nhiều mục đích khác nhau. Đối với những ngời
tham gia mục đích chính của họ là để bảo vệ con cái và những ngời ăn theo
tránh khỏi những nỗi bất hạnh về cái chết bất ngờ của họ hoặc tiết kiệm để
đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tơng lai... Do vậy, ngời bảo hiểm đã
thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm BHNT, thực chất là đa dạng hoá các loại
hợp đồng nhằm đáp ứng và thoả mãn mọi nhu cầu của ngời tham gia bảo
hiểm. Trong thực tế có 3 loại hình BHNT cơ bản sau:
-Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong.
-Bảo hiểm trong trờng hợp sống.
-BHNT hỗn hợp.
Ngoài ra, ngời bảo hiểm còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho các loại
hợp đồng BHNT cơ bản sau:
-Bảo hiểm tai nạn.
-Bảo hiểm sức khoẻ.
-Bảo hiểm không nộp phí khi thơng tật.
-Bảo hiểm cho ngời đóng phí...
khoẻ của ngời đợc bảo hiểm, nhng có sự giới hạn về độ tuổi ( thờng tối đa là
65 tuổi). Tại lúc tái tục phí bảo hiểm tăng lên vì độ tuổi của ngời đợc bảo
hiểm lúc này tăng lên.
- Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: là loại hình bảo hiểm tỷ kỳ cố
định nhng cho phép ngời đợc bảo hiểm có sự lựa chọn chuyển đổi một phần
hay toàn bộ hợp đồng thành một hợp đồng BHNT trọn đời hay một hợp đồng
BHNT hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực.
- Bảo hiểm tử kỳ giảm dần: là loại hình bảo hiểm có một bộ phận của
STBH giảm hàng năm theo một mức quy định. Bộ phận này giảm tới 0 vào
cuối kỳ hạn hợp đồng. Có đặc điểm sau:
+ Phí bảo hiểm giữ ở mức cố định
+ Phí thấp hơn bảo hiểm tử kỳ cố định
+ Giai đoạn nộp phí ngắn hơn toàn bộ thời hạn hợp đồng để tránh việc
thanh toán vào cuối thời hạn của hợp đồng khi mà STBH còn rất nhỏ.
- Bảo hiểm tử kỳ tăng dần: giúp ngời tham gia bảo hiểm có thể ngăn
chặn đợc yếu tố lạm phát của đồng tiền. Loại hợp đồng này có đặc điểm là
phí bảo hiểm sẽ tăng lên dần theo STBH và phải dựa trên tuổi tác của ngời đ-
ợc bảo hiểm khi tái tục hợp đồng.
- Bảo hiểm thu nhập gia đình: Nhằm đảm bảo cho một gia đình khi
không may có ngời trụ cột trong gia đình bị chết. Quyền lợi bảo hiểm mà gia
đình nhận đợc sau cái chết của ngời trụ cột có thể là:
+ Nhận toàn bộ ( trọn gói)
+ Nhận đợc từng phần dần dần cho đến khi hết hạn hợp đồng.
Nếu ngời đợc bảo hiểm còn sống đến khi hết hạn hợp đồng, gia đình sẽ
không nhận đợc bất kỳ một khoản thanh toán nào từ công ty bảo hiểm.
- Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên: nhằm tránh yếu tố lạm phát
của đồng tiền. Đảm bảo các khoản thanh toán của công ty bảo hiểm cho gia
đình không may có ngời đợc bảo hiểm chết, đồng thời ngời thụ hởng quyền
lợi bảo hiểm đợc chỉ định trong hợp đồng phải còn sống.
4.1.2. BHNT trọn đời (bảo hiểm trờng sinh).
Khoản phí đóng một lần là khá lớn nên ngòi tham gia hạn chế.
- BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí bảo hiểm: loại này không
đòi hỏi ngời đợc bảo hiểm phải đóng phí liên tục hay một lần, mà quy định rõ
số năm đóng phí bảo hiểm. Tổng số phí mỗi lần phụ thuộc vào số lần đóng
phí. Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc khi hết thời hạn đóng phí thì quyền lợi
bảo hiểm sẽ đợc thanh toán cho ngời thụ hởng bảo hiểm và không phải trả
thêm các khoản phí còn cha trả hết.
4.2. Bảo hiểm trong trờng hợp sống(bảo hiểm sinh kỳ).
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là ngòi đợc bảo hiểm cam kết chi
trả những khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong
suốt cuộc đời ngời tham gia bảo hiểm. Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc ngày
đến hạn thanh toán thì sẽ không đợc chi trả bất kỳ một khoản tiền nào.
+ Đặc điểm:
- Trợ cấp định kỳ cho ngời bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc cho
đến khi chết.
- Phí bảo hiểm đóng một lần.
- Nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời gian không xác định.
+ Mục đích:
- Đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hu hay tuổi cao sức yếu.
- Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi
tuổi già.
- Bảo trợ mức sống trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Nh vậy, với một khoản phí bảo hiểm phải nộp khi ký hợp đồng mà ng-
ời tham gia lựa chọn, ngời bảo hỉem sẽ thanh toán một khoản trợ cấp định kỳ
hàng tháng cho ngời đợc bảo hiểm. Nếu khoản trợ cấp này thanh toán định
kỳ cho đến khi hết đời ngời ta gọi là : " bảo hiểm niên kim nhân thọ trọn
đời". Nếu chỉ đợc thanh toán trong một thời kỳ nhất định ngời ta gọi là: " bảo
hiểm niên kim nhân thọ tạm thời".
4.3.Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trờng hợp