Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt
Nam cũng đã và đang đạt được những thành công đáng kể, đó là nền kinh tế
đang bùng nổ và được các nước trên thế giới dần công nhận là nền kinh tế thị
trường, sự lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam có phần đóng góp của sự phát
triển của thị trường tài chính trong nước. Ngày càng có nhiều hình thức hoạt
động trong lĩnh vực tài chính và ngày càng có nhiều sự tham gia của các tập
đoàn tài chính đa quốc gia. Trong đó có sự bùng nổ của thị trường bảo hiểm,
ngày càng nhiều các hình thức công ty bảo hiểm và nhiều công ty bảo hiểm trong
nước và quốc tế xuất hiện. Cho đến nay thị trường bảo hiểm trong nước ngày
càng nhộn nhịp với hơn 25 công ty bảo hiểm tham gia cả trong lĩnh vực bảo
hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Đặc điểm lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam nói
chung và lĩnh vực bảo hiểm nói riêng hiện nay là sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt đặc biệt là thời kỳ sau khi ra nhập WTO.
Sự cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp phải tạo ra đặc điểm khác biệt
của mình để tạo ra lợi thế. Thông thường người ta tạo ra các nét khác biệt cho
mình thông qua những khác biệt về sản phẩm, về dịch vụ, về giá, nhưng do các
sản phẩm bảo hiểm là những gói dịch vụ cho nên rất dễ bắt chước nhau giữa các
công ty, sự khác biệt về sản phẩm là không tồn tại được lâu. Vì vậy tạo ra sự
khác biệt trong dịch vụ hay chính là trong quá trình cung cấp sản phẩm bảo hiểm
là giải pháp hiệu quả nhất mà các công ty cần phải tập trung khai thác. Quá trình
cung cấp phần lớn có liên quan đến đội ngũ đại lý. Đại lý có vai trò quan trọng
trong việc phân phối và tạo ra sự khác biệt. Bởi vậy xây dựng và quản lý đội ngũ
đại lý phải được coi là một chiến lược mang tính sống còn.
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Chính vì vậy, sau một thời gian thực tập và nghiên cứu tại công ty bảo
hiểm nhân thọ Hà Nội, với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân và
các anh chị trong công ty, em đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản
thông thương và đi lại của đông đảo nhân dân.
Từ năm 1993, Bảo Việt chú trọng công tác đầu tư tài chính và đã thu được
nhiều thành tựu quan trọng từ lĩnh vực này, đặc biệt là những kết quả đạt được
trong các năm 1996,1997,1998,1999 (gần 100 tỷ đồng) và 2000( 115 tỷ đồng).
Năm 1996, Bảo Việt được nhà nước xếp loại “Doanh nghiệp Nhà nước
hạng đặc biệt”, trở thành một trong 25 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, đánh
dấu một mốc quan trọng của Bảo Việt. Cũng trong năm này, Bảo Việt đã có một
bước tién lớn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm với việc đưa ra thị trường
dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, đáp ứng được nhu cầu của các tầng lớp dân cư.
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Năm 1997, Trung Tâm Đào Tạo Bảo Việt được thành lập đánh dấu một
bước chuyển biến mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên, tư
vấn viên của Bảo Việt.
Năm 1999, thành lập công ty Chứng Khoán Bảo Việt(BVSC)- Công ty
chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam. Bảo Việt tiếp tục đi đầu tại Việt Nam trong
một lĩnh vực kinh doanh mới.
Năm 2004, thành lập Bảo Việt Nhân Thọ theo quyết định số
3668/QĐ/BTC của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính, một trong những bước đi quan
trọng tiến tới mục tiêu Bảo Việt Trở thành một tập đoàn tài chính đa ngành, có
năng lực tài chính vững mạnh, công nghệ quản lý, kinh doanh theo tiêu chuẩn
quốc tế, giữ thị phần quan trọng trên thị trường trong nước, tham gia các hoạt
động trên thị trường quốc tế và thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ các chính
sách kinh tế- xã hội của Nhà nước.
Năm 2005, thành lập Tập đoàn Tài chính- Bảo hiểm Bảo Việt theo quyết
định 310/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đây là một quyết định đặc
biệt quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới của Bảo Việt. Theo quyết định
này, Tập đoàn Bảo Việt là Doanh nghiệp cổ phần, nhà nước giữ cổ phần chi
phối. Với vị thế mới, Tập đoàn Bảo Việt sẽ có nhiều cơ hội và động lực phát
CIGNA( Mỹ), AIA, GAN( Pháp), Tokyo Marine, Chiyoda( Nhật), Munich
Re(Đức), Swiss Re( Tụy Sĩ)…
Quá trình phát triển lớn mạnh của Bảo Việt đã thực sự góp phần quan
trọng vào sự phát triển của thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính Việt Nam.
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Hiện nay, Bảo Việt đang từng bước vươn tới mục tiêu trở thành một tập đoàn tài
chính tổng hợp vững mạnh.
2. Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội.
2.1. Lịch sử hình thành của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội.
Công ty Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội( BVNTHN) trực thuộc tổng công ty
Bảo hiểm Việt Nam- Bảo Việt, ra đời theo quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB
ngày 22/06/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính. Cùng năm này Bảo Việt được
Nhà nước xếp loại” Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt”, trở thành một trong
25 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, đánh dấu một mốc phát triển quan trọng của
Bảo Việt. Cũng ngày 22/06/1996 đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử
phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam. Lần đầu tiên người dân được biết đến
một loại hình bảo hiểm mới- Bảo Hiểm Nhân Thọ. Ban đầu thành lập công ty chỉ
có vẻn vẹn 11 người ở cả Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc đó, “ tổng
hành dinh của nhân thọ” là một tòa nhà 5 tầng thuê tại 52 Nguyễn Hữu Huân-
quận Hoàn Kiếm, nơi đã chứng kiến biết bao niềm vui nỗi buồn của những ngày
chập chững rất đáng tự hào của Bảo Việt Nhân Thọ.
Ngày 01 tháng 8 năm 1996, lần đầu tiên người dân Việt Nam được nghe
nói đến Bảo Hiểm Nhân Thọ qua hai sản phẩm:”Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn
5 năm, 10 năm”, và “ Chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưởng thành”
của Bảo Việt. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ký vào ngày này đã đánh
dấu sự ra đời của lĩnh vực Bảo Hiểm Nhân Thọ ở nước ta.
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
6
vực nâng tổng số phòng khai thác lên 9 phòng phủ kín địa bàn thành phố.
Năm 1999, sự gia nhập thị trường của 3 công ty BHNT nước ngoài báo
hiệu sẽ có một “ chiến trường” ác liệt nhưng sôi động. Điều đó cũng cho thấy thị
trường BHNT Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng rất lớn song cũng đặt ra
không ít khó khăn cho hoạt động kinh doanh của công ty. Trước tình hình đó,
công ty hướng trọng tâm vào “ chất lượng dịch vụ” đáp ứng được nhu cầu của thị
trường, chuẩn bị cho cạnh tranh. Trước hàng loạt sự thay đổi của thị trường cũng
như bản thân công ty năm 1999, doanh thu phí bảo hiểm bằng 183% so với
doanh thu năm 1998.
Năm 2000, BVNT đã rời “nơi ở trọ” về trụ sở 94 Bà Triệu. Đồng thời đây
cũng là năm bản lề đánh dấu hàng loạt sự thay đổi của công ty. Ngày
20/04/2000, Bộ trưởng BTC ký quyết định đổi tên công ty BHNT thành công ty
BHNTHN như hiện nay. Bên cạnh đó cạnh tranh trên thị trường lúc này đặc biệt
sôi động với sự góp mặt của 4 công ty BHNT nước ngoài( Prudential, AIA, Bảo
Minh-CMG, Chinfon Manulife). Trong bối cảnh đó trước sự bùng nổ của số
lượng hợp đồng khai thác mới, lần đầu tiên trong hệ thống BHNT, BHNTHN đã
áp dụng thành công mô hình cán bộ chuyên thu phí, vừa nâng cao chất lượng của
công tác quản lý tài chính, tăng tỷ lệ thu phí định kỳ cũng như tạo điều kiện để
các cán bộ chuyên khai thác đạt kết quả khai thác tốt hơn. Phương châm” phục
vụ khách hàng tốt nhất để phát triển” được khẳng định bằng việc thành lập bộ
phận chăm sóc khách hàng thuộc phòng Phát Hành Hợp Đồng. Bên cạnh đó, với
chức năng thực hiện công tác dịch vụ khách hàng, giải đáp thắc mắc khiếu nại
của khách hàng thông qua việc thiết lập đường dây nóng và hỗ trợ khai thác.
Phòng dịch vụ khách hàng( tiền thân của phòng Marketing ngày nay) được thành
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
lập đã góp phần tăng sức mạnh của những” cú huých” vào việc nâng cao chất
lượng phục vụ cả nước và sau bán hàng của công ty. Với những chuyển biến tích
cực trên, năm 2000 đi qua với con số kỷ lục về số hợp đồng khai thác mới-
viên cũng phải nỗ lực để phục vụ khách hàng tốt hơn, tăng khả năng cạnh tranh
với những công ty nước ngoài đã quen dần với thị trường BHNT Việt Nam.
Tháng 3/2004 cuộc thi “ Thuyết trình viên giỏi 2004” được tổ chức sau cuộc thi”
Đội thuyết trình viên chuyên nghiệp” đã được thành lập phục vụ cho các hội
nghị khách hàng của công ty.
Năm 2005, quy chế tăng tiến mới ra đời tạo ra cho các tư vấn viên có cơ
hội tự khẳng định mình. Với mô hình này các tư vấn viên có năng lực phát triển,
quản lý ban, nhóm đã có một hệ thống các chỉ tiêu phải thực hiện cho các chức
danh quản lý đại lý. Và điểm nổi bật của quy chế mới này là các trưởng ban,
trưởng nhóm để giữ được chức vụ đòi hỏi phải luôn luôn nỗ lực để đảm bảo chi
tiêu duy trì ban, nhóm của mình. Chứng chỉ “ Giải thưởng chất lượng quốc tế”-
IQA của LIMRA là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá tính chuyên nghiệp
của các tư vấn viên. Năm 2005 là năm đầu tiên các tư vấn viên được cấp chứng
chỉ này và BVNT cũng là doanh nghiệp BHNT đầu tiên tại Việt Nam được cấp
chứng chỉ. BVNTHN vinh dự có 12 trong số 103 tư vấn viên, thu ngân viên
được cấp chứng chỉ đợt này.
Năm 2006, năm thứ 10 công ty hoạt động. Ngay từ đầu năm hàng loạt
những sự kiện đã được tổ chức, như cuộc thi” Tìm hiểu 10 năm BHNTHN”
chương trình khuyến mãi” Hành trình vàng” dành cho khách hàng; hay cuộc thi
tìm hiểu” Lịch sử truyền thống của BVNTHN” dành cho cán bộ, tư vấn viên, thu
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
ngân viên, của công ty…Dường như mọi hoạt động đêm hội tổ chức lễ kỷ niệm
10 năm thành lập công ty tại khách sạn Media Hà Nội ngày 22/06/2006. Lần kỷ
niệm năm hoạt động thứ 10 này, BVNTHN càng tự hào hơn khi là thành viên
của tập đoàn tài chính bảo hiểm Bảo Việt- Tập đoàn Tài chính, Bảo hiểm đầu
tiên và vững mạnh bậc nhất ở Việt Nam.
Năm 2007, tình hình kinh doanh của công ty có những chuyển biến đáng
kể đánh dấu bằng việc BVNT dẫn đầu thị trường về doanh thu khai thác mới.
Phòng
khai
thác
BHNT
số 2
Phòng
khai
thác
BHNT
số 22
Phòng
khai
thác
BHNT
số 1
….
Phòng
Mar-
keting
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Theo sơ đồ này cấp lãnh đạo của công ty trực tiếp điều hành và chịu trách
nhiệm về sự tồn tại và phát triển của công ty. Với cơ cấu tổ chức này đòi hỏi
người lãnh đạo phải có vốn kiến thức toàn diện và tổng hợp. Tuy nhiên cơ cấu tổ
chức này có nhược điểm là không phát huy được tính năng động của nhân viên
nếu gặp phải sự chuyên quyền của lãnh đạo trong điều hành công việc.
Chức năng của các phòng ban được quy định như sau:
Giám Đốc: 1 Giám đốc công ty do Hội đồng quản trị Tổng Công ty bổ
nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật, khen thưởng theo đề nghị của Tổng Giám đốc.
Giám đốc là người đại diện pháp nhân của Công ty và chịu trách nhiệm trước
Phòng Marketing có chức năng tham mưu cho lãnh đạo công ty và tổ chức
thực hiện các mặt công tác như nghiên cứu thị trường; khai thác bảo hiểm; hỗ trợ
đại lý và công tác tuyên truyền quảng cáo, vật phẩm hỗ trợ.
Phòng Phát Hành Hợp Đồng:
Phòng phát hành hợp đồng có chức năng tham mưu cho lãnh đạo công ty
và tổ chức thực hiện các mặt công tác tổ chức công tác thẩm định hồ sơ yêu cầu
bảo hiểm; tổ chức kiểm tra sức khỏe khách hàng; chấp nhận bảo hiểm và phát
hành hợp đồng.
Phòng Dịch Vụ Khách Hàng:
Phòng Dịch vụ khách hàng có chức năng tham mưu cho Lãnh đạo công ty
và tổ chức thực hiện các mặt công tác quản lý tình trạng hợp đồng; giải quyết
quyền lợi bảo hiểm; cung cấp thông tin và giải đáp cho khách hàng; chăm sóc
khách hàng;
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Phòng Tài Chính- Kế Toán:
Phòng tài chính kế toán có chức năng tham mưu cho Lãnh đạo Công ty và
tổ chức thực hiện các mặt công tác hạch toán kế toán kịp thời đầy đủ toàn bộ tài
sản, tiền vốn, các hoạt động thu, chi tài chính và kết quả kinh doanh theo quy
định nội bộ của Bảo Việt, đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh; lập kế
hoạch kinh doanh và kế hoạch tài chính của công ty; tư vấn, tham mưu cho Lãnh
đạo Công ty chỉ đạo và thực hiện kiểm tra, giám sát và quản lý việc chấp hành
các chế độ tài chính kế toán chung của Nhà nước và của Bảo Việt tại công ty;
Phòng Tin Học:
Phòng tin học có chức năng tham mưu cho Lãnh đạo Công ty và tổ chức
thực hiện các mặt công tác quản trị dữ liệu của công ty; đảm bảo hoạt động của
hệ thống thông tin trong công ty; phát triển hệ thống thông tin của công ty theo
định hướng của Tổng công ty.
2.4. Một vài nhận xét về công ty Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội.
độc quyền” kinh doanh trong thời gian đầu mà không phải chịu bất cứ sự cạnh
tranh nào từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ khác. Bảo Việt nhân thọ
Hà Nội còn có thương hiệu Bảo Việt có tiếng từ hơn 40 năm qua. Và điều này
cũng đã ít nhiều giúp công ty có được uy tín, danh tiếng ban đầu và được mọi
người biết đến nhiều hơn. Thuận lợi hơn trong công tác tuyên truyền quảng cáo.
Bên cạnh đó, Bảo Việt nhân thọ Hà Nội trực thuộc Tổng công ty Bảo
Hiểm Việt Nam doanh nghiệp được xếp hạng đặc biệt, được đầu tư cơ sở vật
chất, có mạng lưới đại lý rộng khắp, hoạt động trên địa bàn dân cư có trình độ
dân trí cao, có thu nhập cao và ổn định. Mặt khác dưới áp lực cạnh tranh của các
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
công ty bảo hiểm nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài như Prudential, Manulife,
AIA,…với công nghệ kỹ thuật hiện đại, phương pháp quản lý tiến đã giúp cho
BVNT tự nhìn nhận đánh giá lại mình, có cơ hội học hỏi để khắc phục những
nhược điểm chủ quan, áp dụng các phương pháp quản lý điều hành tiến bộ.
Qua hơn 10 năm kể từ ngày đi vào hoạt động thì Bảo Việt nhân thọ Hà
Nội đã có được những thành tựu như:
Doanh thu của công ty đã tăng đáng kể qua các năm:
Bảng 1: Kết quả doanh thu của BVNTHN giai đoạn 1996-2006
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Doanh
thu(tỷ
đồng)
3 5 30 50 100 130 166 185 195 193 194
( Nguồn: Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội)
Từ bảng số liệu ta thấy tổng doanh thu qua các năm của công ty tăng đáng
kể nhất là trong những năm 2002,2003,2004, trong đó năm 2004 là năm có
doanh thu đạt cao nhất 195 tỷ đồng, tăng 5,41% so với năm 2003 do có số hợp
đồng khai thác mới và doanh thu phí năm thứ nhất cao. Nhưng đến năm 2005 do
Về công tác nghiệp vụ bảo hiểm:
Công tác thu phí(theo kế hoạch tỷ lệ thu phí năm 2006 là 93%) đối với
hợp đồng tập thể, phí lớn công ty đều hỗ trợ cho tư vấn viên và thu ngân viên gửi
thư thông báo nộp phí, duy trì đều đặn thông báo nợ phí 30 ngày và 60 ngày gửi
trực tiếp cho khách hàng.
Công tác duy trì hợp đồng: Tỷ lệ duy trì hợp đồng trong năm 2006 là
97,1% ( kế hoạch là 94%); tỷ lệ tái tục và mua thêm là 43,3%. Công ty đã duy trì
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Đội tư vấn tái tục tại văn phòng Công ty với thành phần là đại lý chứng chỉ IQA.
Khách hàng được tiếp đón chu dáo và tỷ lệ tái tục cao hơn.
Công tác giải quyết quyền lợi bảo hiểm: Trong năm công ty đã tiếp nhận
814 hồ sơ và dã giải quyết cho 713 hồ sơ, trong đó điều khoản chính là 81 hồ sơ
với tổng số tiền chi trả là 745,8 triệu đồng, điều khoản riêng là 604 hồ sơ với
tổng số tiền chi trả là 502 triệu đồng; từ chối chi trả 127 hồ sơ.
Về công tác đánh giá và giám định rủi ro:
Chất lượng công tác đánh giá giám định rủi ro được đảm bảo về mặt chất
lượng và đảm bảo yêu cầu về mặt số lượng. Công ty luôn nằm trong tốp dẫn đầu
các công ty thành viên về chất lượng đánh giá rủi ro trước kiểm tra sức khỏe
cũng như tỷ lệ chỉ định kiểm tra sức khỏe. Bằng chứng là trong năm qua, các
trường hợp giải quyết quyền lợi bảo hiểm chưa phát hiện vụ nào liên quan đến sơ
xuất hay yếu kém về chuyên môn của cán bộ đánh giá rủi ro. Công ty đã không
để xảy ra vụ việc hay sai xót đáng tiếc nào dẫn đến khiếu kiện của khách hàng và
tư vấn viên, không làm tổn thất thiệt hại vật chất và ảnh hưởng đến hình ảnh
công ty.
1.2. Những bất cập còn tồn tại.
Bên cạnh những mặt thuận lợi và những thành tựu như đã nêu ở trên thì
công ty còn gặp phải một số khó khăn như: Tình hình cạnh tranh trên thị trường
ngày càng gay gắt bởi lẽ sau thời gian đầu phát triển nóng, không những thị
không hợp tác với tư vấn viên hoặc bố trí thời gian đi không đúng theo lịch hẹn.
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
2. Nguyên nhân.
2.1. Nguyên nhân dẫn đến thành công.
Nguyên nhân đạt được những kết quả trên là do công ty đã thực hiện nhiều
biện pháp như:
Giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể cho các Ban, hoàn thiện cơ chế chính sách
thăng tiến, cơ chế tuyển dụng hấp dẫn.
Khuyến khích động viên các cá nhân, các Ban bằng việc tăng cường và đa
dạng các chương trình thi đua khen thưởng phù hợp với quy mô và năng lực của
ban;
Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ khai thác và tuyển dụng, tiếp tục hỗ trợ tặng quà
khách hàng đáo hạn.
Tăng cường hỗ trợ công tác tổ chức hội nghị tại các thị trường trọng điểm:
làng nghề, khu vực nội thành, quan hệ địa phương và các hoạt động nhân kỷ
niệm 10 năm ngày thành lập công ty.
Góp phần tăng khả năng thích ứng và tính cạnh tranh của công ty trên thị
trường địa bàn.
2.2. Nguyên nhân gây nên hạn chế.
Do quy mô của các ban, nhóm còn hạn chế nên thù lao quản lý của trưởng
ban, trưởng nhóm chưa đủ hấp dẫn để tuyển chọn được những người trưởng ban,
trưởng nhóm giỏi.
Số lượng và chất lượng của đại lý có xu hướng giảm do nguyên nhân chủ
yếu là nghề đại lý không hấp dẫn trong khi hoạt động khai thác BHNT ngày càng
khó khăn hơn, đầu tư cho tuyển dụng vừa tốn kém hơn vừa rủi ro hơn so với khai
thác; sức ép về tuyển dụng đối với trưởng ban, trưởng nhóm cũng hạn chế hơn so
với khai thác.
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
giai đoạn, trong đó tập trung vào đẩy mạnh doanh thu, hợp đồng khai thác mới,
nâng cao chất lượng hợp đồng, khuyến khích tuyển dụng và hoạt động của đại lý
mới.
• Tăng cường công tác tổ chức và quản lý thu phí , phấn đấu tỷ lệ thu
phí đạt 96%.
• Tỷ lệ duy trì hợp đồng đạt 97%.
• Tỷ lệ kiểm tra sức khỏe đạt 20%.
• Tỷ lệ tái tục hợp đồng và mua thêm 50%.
• Tuyển dụng 230 đại lý mới.
2. Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới.
- Bám sát địa bàn hoạt động của công ty.
- Tập trung khai thác các hợp đồng dài hạn( An Gia phát lộc, An sinh lập
nghiệp, An sinh thành tài, An hưởng hưu trí).
- Tăng cường bán các sản phẩm có tính bảo vệ cao vì tâm lý khách hàng
khi mua bảo hiểm thường hay so sánh với lãi suất ngân hàng. Điều này thường
làm cho các sản phẩm bảo hiểm kém ưu thế đi. Vì vậy khi tập trung vào những
sản phẩm có tính bảo vệ cao thì khách hàng không còn lý do để so sánh nữa.
- Đẩy mạnh thu phí dài kỳ, thu phí qua ngân hàng.
- Thực hiện tốt công tác chi trả đáo hạn nâng cao tỷ lệ tái tục và mua thêm.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và đào tạo đại lý, thúc đẩy hoạt động của đại lý
khá giỏi, đại lý lâu năm có kết quả khai thác ổn định.
- Tiếp tục hỗ trợ các ban tìm kiếm nguồn ứng viên, khuyến khích các đại
lý tiếp tục tuyển dụng.
- Tạo môi trường làm việc tốt để đại lý phát huy, nâng cao năng suất làm
việc.
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
- Nâng cao chất lượng hợp đồng, phấn đấu duy trì và tăng năng suất làm
việc của đại lý, phân loại đại lý để duy trì sinh hoạt, chế dộ phúc lợi.
của nguồn nhân lực đang là một trong những nhiệm vụ chiến lược của không ít
những công ty, là nhân tố quan trọng quyết định lợi thế cạnh tranh của công ty.
Nếu sở hữu một lực lượng lao động có kỹ năng và tay nghề cao thì đồng nghĩa
với việc sở hữu một công cụ cạnh tranh hiệu quả. Do đó cần phải có kế hoạch
cho hoạt động nhân sự. Kế hoạch nguồn nhân lực khi được thực hiện đúng sẽ
đem lại nhiều lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho tổ chức.
Kế hoạch hoá nguồn nhân lực sẽ giúp cho công ty chủ động thấy được
những thuận lợi, khó khăn và tìm biện pháp khắc phục; xác định rõ khoảng cách
giữa tình trạng hiện tại và định hướng tương lai của tổ chức, tăng cường sự tham
gia của nhiều cán bộ quản lý vào quá trình kế hoạch hoá chiến lược, nhận rõ
được những hạn chế và cơ hội của nguồn nhân lực trong tổ chức.
Kế hoạch hoá nguồn nhân lực có tác động thuận chiều với sự hoàn thiện
của tổ chức đặc biệt trong lĩnh vực quản lý, điều đó phụ thuộc vào sự phù hợp
giữa chiến lược nhân sự với chiến lược tổng thể. Do đó khi thực hiện kế hoạch
hoá chiến lược nguồn nhân lực cần xem xét trong sự tương quan với các chiến
lược khác như chiến lược tài chính, chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường,
chiến lược sản xuất…
Nguyễn Sỹ Cường QTKDTH46B
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân
Chiến lược nguồn nhân lực ảnh hưởng tớ hiệu quả của tổ chức vì nó có
quan hệ mật thiết với kế hoạch chiến lược sản xuất kinh doanh, nó là sự chuẩn bị
cho tương lai lâu dài những con người có khả năng thực hiên các nhiệm vụ mục
tiêu mà kế hoạch sản xuất kinh doanh đặt ra.
Kế hoạch chiến lược nguồn nhân lực là sự chuẩn bị cơ sở cho mọi công
tác về nhân sự cho tổ chức trong tương lai như tuyển mộ, tuyển dụng, biên chế,
đào tạo và phát triển. Chính nó cũng nhằm mục đích điều hoà các hoạt động
nguồn nhân lực.
Như vậy có thể nói kế hoạch hoá nguồn nhân lực rất cần thiết cho mỗi tổ
chức. Xác định được việc đó Bảo Việt nhân thọ Hà Nội chủ động xây dựng