luận văn tài chính ngân hàng Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế tại chi nhánh Ngân hàng công thương Thanh Xuân - Pdf 28

Khóa luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trọng tâm trong đường lối và
hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu
hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra mạnh mẽ hiện nay. Điều này có
nghĩa nước ta cần phát triển mạnh mẽ kinh tế đối ngoại. Chỉ hoạt động kinh tế
đối ngoại chúng ta mới tạo đựơc nguồn ngoại tệ cần thiết để phục vụ nhập khẩu
kỹ thuật hiện đại, công nghệ thiết bị, đồng thời phát huy tiềm năng của đất nước,
tận dụng nguồn vốn và công nghệ nước ngoài để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền
kinh tế đất nước từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Trước xu thế đó, thanh toán quốc tế nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh
tế trong nước với phần kinh tế thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, TTQT là một
nghiệp vụ phức tạp, cần sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực, vốn ngoại ngữ, nắm bắt
các nguồn luật và tập quán quốc tế cùng sự trải nghiệm lâu năm trong lĩnh vực
TTQT. Nếu hoạt động TTQT diễn ra được nhanh chóng, an toàn, chính xác thì
mối quan hệ lưu thông giữa người mua và người bán diễn ra trôi chảy. Việt Nam
mới tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nên TTQT còn rất nhiều hạn chế và bất
cập. Nghiên cứu những vấn đề này để hạn chế chúng và tìm ra những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng TTQT đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
đang hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất
lượng thanh toán quốc tế tại chi nhánh Ngân hàng công thương Thanh
Xuân” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của khóa luận
- Hệ thống hóa kiến thức về TTQT và nâng cao chất lượng TTQT.
- Phân tích về thực trạng chất lượng TTQT của chi nhánh ngân hàng công
thương Thanh Xuân thời gian qua.
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH

1.1.1.1. Quá trình hình thành thanh toán quốc tế
• Các thương nhân
Trước thế kỷ X hoạt động buôn bán tại các nước vẫn chỉ là hoạt động
buôn bán trong nước. Nhưng từ sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, người nông dân
thoát khỏi thời kỳ nô lệ, đã nhiệt tình hơn với sản xuất do đó đã cung cấp thêm
nhiều lương thực, thực phẩm cho lãnh chúa. Địa tô thu về nhiều, tầng lớp địa
chủ phong kiến tha hồ tiêu xài nên nhu cầu về các hàng hóa đặc biệt ngày càng
tăng. Để đáp ứng nhu cầu này xuất hiện nhiều loại thợ và nhiều xưởng biệt lập.
Đến thế kỷ XI khi thành thị phong kiến ra đời là trung tâm sản xuất thủ
công nghiệp và trao đổi hàng hóa. Trong thành thị phong kiến, người thợ thủ
công vừa là người sản xuất vừa là người bán hàng. Nhưng khi thị trường tiêu thụ
hàng hóa được mở rộng thì xuất hiện những người chuyên mang hàng của
xưởng thợ đi bán, mua nguyên vật liệu cho xưởng thợ đó sản xuất. Họ là những
thương nhân.
Thương nhân hợp thành từng đoàn người đi khắp lục địa châu Âu, Ấn Độ
và sang phương Đông để bán hàng. Những chuyến tầu thông thương với phương
Đông luôn đầy ắp hàng hóa và ngày càng tăng. Nhưng những chuyến đi buôn
trên biển cũng luôn tiềm ẩn những nguy hiểm nhất định. Họ tìm cách mang về
khối lượng hàng hóa lớn nhất hay số tiền lớn nhất. Điều này cho thấy mối quan
hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi nhuận.
Những chuyến tàu buôn ngày càng tăng. Dần dần các thương nhân bắt
đầu thay đổi. Họ bắt đầu ít đi biển hơn nhưng gửi những người tin cậy hay hãng
đại diện cho mình bằng cách ký hợp đồng. Để thuận tiện cho việc thông thương
các thương nhân lớn bắt đầu sử dụng những tấm vé viết tay được coi như những
lời hứa thanh toán vào thời điểm nhất định. Những tấm vé đó được đánh dấu bởi
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
3
Khóa luận tốt nghiệp
các con dấu và triện… Tùy vào uy tín của mình mà các nhà buôn lớn có thể sử

4
Khóa luận tốt nghiệp
Như vậy, ta có khái niệm: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa
vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh
tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước
khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các
ngân hàng của các nước liên quan.
1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.2.1. Thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế
của đất nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ
dựa vào tích lũy trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp
giữa sức mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện
nay khi các quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh
tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì
vai trò hoạt động của TTQT ngày càng được khẳng định.
TTQT là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế
quốc dân. TTQT là khâu quan trọng trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ
giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. TTQT góp phần giải
quyết mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và
đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động
TTQT được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến hoạt động lưu thông hàng
hóa tiền tệ giữa người mua, người bán diễn ra trôi chảy, an toàn hơn.
TTQT làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc
gia, giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm
bớt chi phí cho các chủ thể tham gia. Bên cạnh đó, hoạt động TTQT làm tăng
khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút
một lượng ngoại tệ đáng kể.
1.1.2.2. Thanh toán quốc tế đối với ngân hàng:
Ngày nay, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ngày

quy mô và mạng lưới ngân hàng.
Ngoài ra, hoạt động thanh toán quốc tế giúp ngân hàng đáp ứng tốt nhu
cầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín ngân hàng.
Có thể nói, hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò quan trọng trong hoạt
động ngân hàng nói riêng và trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung. Vì
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
6
Khóa luận tốt nghiệp
vậy, bên cạnh việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế thì việc nâng cao chất
lượng thanh toán quốc tế cũng không kém phần quan trọng.
1.1.3. Các phương tiện trong thanh toán quốc tế
1.1.3.1. Hối phiếu (Bill of exchange)
Khái niệm: Khoản 2, điều 4 của Luật các công cụ chuyển nhượng Việt
Nam, hối phiếu được định nghĩa như sau: “Hối phiếu (Hối phiếu đòi nợ) là giấy
tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều
kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong
tương lai cho người thụ hưởng”.
Từ khái niệm trên ta thấy hối phiếu có các đặc tính quan trọng sau:
• Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu.
Theo định nghĩa hối phiếu “hối phiếu yêu cầu người bị ký phát thanh
toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời
điểm nhất định”. Người trả tiền hối phiếu phải trả theo đúng nội dung ghi trên tờ
hối phiếu. Người trả tiền không thể viện bất cứ lý do riêng nào của mình từ chối
trả tiền đối với người phát phiếu, người ký hậu. Trừ trường hợp hối phiếu được
lập ra trái với các đạo luật chi phối nó.
• Tính trừu tượng của hối phiếu.
Trên hối phiếu không ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức là nguyên nhân
phát sinh ra việc lập hối phiếu, mà chỉ cần ghi số tiền phải trả và những nội dung
liên quan đến việc trả tiền. Hiệu lực pháp lý của hối phiếu cũng không bị ràng

Những người liên quan đến séc:
- Người ký phát (Drawer): Là người có tài khoản phát hành séc ở ngân
hàng. Đối với người ký phát thì phải có đủ tiền trên tài khoản.
- Người trả tiền (Drawee): Séc là một lệnh trả tiền vô điều kiện, do đó,
khi nhận được séc phải chấp hành lệnh đó một cách vô điều kiện, miễn là trên tài
khoản người ký phát séc có đủ số dư, chữ ký trên tờ séc, phù hợp với chữ ký
mẫu và các yếu tố của tờ séc phù hợp với pháp luật.
- Người thụ hưởng (Beneficiary): Là người nhận tiền tờ séc do người ký
phát chỉ định đích danh hay thông qua thủ tục chuyển nhượng.
Các loại séc thông dụng:
- Séc đích danh (Nominal check).
- Séc vô danh (bearer check).
- Séc theo lệnh (Order check).
- Séc gạch chéo (Crossed check).
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
8
Khóa luận tốt nghiệp
- Séc du lịch (Traveller’s check).
- Séc bảo chi (Certified check).
1.1.3.4. Thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ
phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng
dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thẻ ngân hàng là
công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cung cấp cho khách hàng sử dụng để
thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền
gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.
Hiện nay có nhiều loại thẻ được cung ứng theo nhu cầu cho mọi đối
tượng khách hàng, mỗi loại thẻ có đặc trưng riêng, song chúng đều có chung
đặc điểm sau:

- Các hiệp định song phương và đa phương …
• Luật quốc gia
- Bộ luật dân sự.
- Luật thương mại.
- Luật ngoại hối.
- Luật các công cụ chuyển nhượng.
- Luật thanh toán quốc tế.
• Thông lệ và tập quán quốc tế
- Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform
Customs and Pratice for Documentary Credit - UCP).
- Quy tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collection - URC).
- Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên ngân hàng (The Uniform Rules for
Banle – to – Bank Reimbursement under Documentary credit – URR).
- Điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Terms
INCOTERMS).
1.2. Các phương thức thanh toán quốc tế
1.2.1. Phương thức chuyển tiền – Remittance
• Khái niệm
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người
chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho
một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời
gian nhất định.
Có thể nói, chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản, trong đó,
người chuyển tiền và người nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau.
• Các bên tham gia
Người yêu cầu chuyển tiền (Remitter): Là người yêu cầu ngân hàng thay
mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Thường là người mua, người trả nợ,
hoặc nhà đầu tư yêu cầu chuyển vốn, kinh phí ra nước ngoài.
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH

TCNH
11
Ngân hàng trả tiền
(Paying Bank)
Ngân hàng chuyển tiền
(Remitting Bank)
Người thụ hưởng
(Beneficiary)
Người chuyển tiền
(Remitter)
Khóa luận tốt nghiệp
• Hình thức chuyển tiền:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Tranfer – M/T) là hình thức chuyển tiền,
trong đó lệnh thanh toán (Bank draft) của NH chuyển tiền được chuyển bằng thư
cho NH trả tiền.
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Tranfer – T/T) là hình thức chuyển
tiền, trong đó lệnh thanh toán của NH chuyển tiền được thể hiện trong nội dung
một bức điện gửi cho NH trả tiền bằng telex hay mạng swift.
Hình thức chuyển tiền bằng điện nhanh, nên có lợi cho nhà XK, nhưng chi
phí lại cao. Còn hình thức chuyển tiền bằng thư thì chậm song có chi phí thấp.
1.2.2. Phương thức nhờ thu
1.2.2.1. Khái niệm
Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, bên bán (nhà XK) sau khi
giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho NH phục vụ mình xuất trình bộ
chứng từ thông qua NH đại lý cho bên mua (nhà NK) để được thanh toán, chấp
nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.
Nhờ thu là phương thức thanh toán quốc tế có ưu điểm cơ bản là đã dung
hòa được tính an toàn và rủi ro so với phương thức ứng trước và phương thức ghi
sổ, nhưng lại giảm được chi phí so với phương thức tín dụng chứng từ.
1.2.2.2. Các bên tham gia

b/ Quy trình nhờ thu phiếu trơn:
(4)
(7)
(3) (8) (6) (5)
(1)
(2)
(1) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định áp
dụng phương thức “Nhờ thu phiếu trơn”.
(2) Người ủy thác (nhà XK) gửi hàng hóa và bộ chứng từ thương mại trực
tiếp cho người trả tiền (nhà NK).
(3) Nhà XK gửi Đơn yêu cầu nhờ thu cùng chứng từ tài chính cho NHNT
để thu tiền từ nhà NK.
(4) NHNT lập và gửi Lệnh nhờ thu cùng chứng từ tài chính tới NHTH để
thu tiền từ nhà NK.
(5) NHTH thông báo Lệnh nhờ thu để nhà NK thanh toán.
(6) Nhà NK trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền.
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
13
NHNT
(Remitting Bank)
NHTH
(Collecting Bank)
Người ủy thác
(Principal)
Người trả tiền
(Drawee)
Khóa luận tốt nghiệp
(7) NHTH chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu kỳ hạn đã chấp nhận cho
NHNT.

()
NHTH
(Collecting Bank)
Người ủy thác
(Exporter)
Người trả tiền
(Importer)
Khóa luận tốt nghiệp
(8) NHTH chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu
hay giấy nhận nợ cho NHNT.
(9) NHNT chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ phiếu
hay giấy nhận nợ cho nhà XK.
1.2.3. Phương thức tín dụng chứng từ - Letter of Credit - L/C
1.2.3.1. Khái niệm:
Theo UCP 600 tín dụng chứng từ được định nghĩa “Tín dụng chứng từ là
một thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện
một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc
thanh toán khi xuất trình phù hợp”.
Phương thức tín dụng chứng từ đã dung hòa được lợi ích và rủi ro giữa
nhà XK và nhà NK, đây là ưu điểm vượt trội của phương thức này.
1.2.3.2. Các bên tham gia
1. Người yêu cầu mở L/C (Applicant for L/C) là bên mà L/C được phát
hành theo yêu cầu của họ. Người yêu cầu thường là người NK.
2. Người thụ hưởng L/C (Beneficiary of L/C) là bên được hưởng số tiền
thanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C.
3. Ngân hàng Phát hành - NHPH (Isuing Bank) là NH thực hiện phát hành
L/C theo đơn của người yêu cầu, nghĩa là nó đã cấp tín dụng cho người yêu cầu.
4. Ngân hàng Thông báo - NHTB (Advising Bank) là NH thực hiện thông
báo L/C cho người thụ hưởng theo yêu cầu của NHPH. NHTB thường là NH đại
lý hay một chi nhánh của NHPH ở nước nhà XK.

toán theo phương thức L/C.
(2) Căn cứ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhà
NK làm đơn gửi đến NH phục vụ mình, yêu cầu NH này phát hành một L/C cho
nhà XK hưởng.
(3) Căn cứ vào đơn mở L/C, nếu đồng ý, NHPH lập L/C và thông qua
NH đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà XK để thông báo L/C cho nhà
XK.
(4) Khi nhận được L/C, NHTB thông báo L/C cho nhà XK.
(5) Nhà XK kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiến hành
giao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với
hợp đồng ngoại thương.
(6) và (6’) Sau khi giao hàng, nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của
L/C và xuất trình (thông qua NHTB hoặc một NH khác) cho NHPH để được
thanh toán.
(7) NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy xuất trình phù hợp thì
tiến hành thanh toán; nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả
lại toàn bộ và nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK.
(8) NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà NK sau khi đã
nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
16
Khóa luận tốt nghiệp
• L/C có giá trị tại NHđCĐ (available with nominated bank)
(4) Thông báo L/C (6’) Nhận tiền (6) Xuất trình

(3) Phát hành L/C (7’) Hoàn trả (7) Xuất trình
Issue L/C Reimbursement Presenting

(1)Hợp đồng (2) Đơn mở L/C (8) Đòi tiền (5) Giao hàng

Importer
Khóa luận tốt nghiệp
- L/C điều khoản đỏ (Red Clause L/C).
1.3. Chất lượng phương thức thanh toán quốc tế
1.3.1. Quan niệm về chất lượng phương thức thanh toán quốc tế
Chất lượng, giá cả và lượng hàng hóa là ba chỉ tiêu quan trọng đánh giá
sức mạnh và khả năng của doanh nghiệp. Để có thể đứng vững trong môi trường
cạnh tranh khốc liệt thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng sản
phẩm là điều tất yếu. Các nhà kinh tế học đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về
chất lượng sản phẩm nhưng chất lượng sản phẩm đều phải thể hiện thông qua
các yếu tố đó là:
- Sự hoàn thiện của sản phẩm: đây là yếu tố để chúng ta phân biệt giữa
sản phẩm này với sản phẩm khác. Thường thể hiện thông qua các tiêu chuẩn mà
nó đạt được. Đây cũng là điều tối thiểu mà các nhà kinh doanh phải cung cấp
được cho các khách hàng của mình.
- Giá cả: thể hiện chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí khai thác và sử dụng
nó.
- Sự kịp thời, thể hiện cả về chất lượng và thời gian.
- Phù hợp với các điều kiện tiêu dùng cụ thể: sản phẩm chỉ có thể được
coi là chất lượng khi phù hợp với điều kiện tiêu dùng cụ thể. Doanh nghiệp phải
đặc biệt chú ý điều này khi tung sản phẩm vào các thị trường khác nhau để đảm
bảo thành công trong kinh doanh.
Như vậy, thì chất lượng thanh toán quốc tế là sự đáp ứng yêu cầu của
khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH và phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế xã hội.
Để hiểu rõ chất lượng thanh toán quốc tế, ta xem xét sự thể hiện chất
lượng thanh toán quốc tế ở các khía cạnh sau:
- Đối với khách hàng: khách hàng có thể yêu cầu thanh toán. NH luôn
bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán, tư vấn, hướng dẫn
khách hàng những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi ro, tạo

phương thức đảm bảo an toàn cho khách hàng vì vậy các thủ tục, kiểm tra sẽ
phức tạp hơn do vậy quá trình thanh toán sẽ mất nhiều thời gian hơn.
1.3.2.3. Chỉ tiêu chi phí
Mức chi phí cũng là một yếu tố quan trọng để NH lựa chọn phương thức
TTQT phù hợp để đem lại hiệu quả cao nhất cho khách hàng. Với điều kiện hai
bên tin tưởng nhau thì NH sẽ chọn phương thức có thủ tục đơn giản với chi phí
thấp nhằm đem lại hiệu quả về thời gian và kinh tế cho khách hàng. Ngược lại
hai bên không tin tưởng nhau, NH sẽ lựa chọn phương thức TTQT có chi phí
cao nhưng đem lại tính an toàn và hạn chế rủi ro cho khách hàng.
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
19
Khóa luận tốt nghiệp
Tóm lại, các chỉ tiêu trên luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau tạo sự linh hoạt
trong việc sử dụng các phương thức TTQT. Các NHTM và các doanh nghiệp
phải xem xét, lựa chọn phương thức TTQT nào phù hợp và tận dụng tối đa ưu
điểm và hiệu quả mà nó mang lại khi sử dụng.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTQT
1.3.3.1. Nhân tố khách quan
a. Môi trường kinh tế:
Ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các khu vực khác nhau của nền kinh tế.
Chính vì vậy nền kinh tế ổn định hay không ổn định sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt
động của NH. Nếu nền kinh tế ổn định và phát triển thì hoạt động của NH sẽ an
toàn và hiệu quả hơn. Ngân hàng có điều kiện hơn để mở rộng tín dụng cho nền
kinh tế, phát triển dịch vụ mới, mở rộng tầm hoạt động trên tầm quốc tế, tạo khả
năng mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ hoạt động TTQT.
b. Môi trường chính trị:
Trong môi trường chính trị ổn định thì mức an toàn trong đầu tư càng lớn,
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước an tâm bỏ vốn kinh doanh,
sẽ mở đường cho hoạt động kinh doanh XNK phát triển sâu rộng hơn như vậy

nhiều thời gian bởi do khoảng cách địa lý giữa nước XK - NK, chính khoảng
thời gian này tỷ giá rất dễ gây rủi ro cho hai bên tham gia thanh toán. Cần phải
nghiên cứu kỹ lưỡng và dự đoán biến động của tỷ giá để hạn chế thấp nhất rủi ro
có thể xảy ra.
Mỗi nước đều có một lượng dự trữ ngoại tệ quốc gia nhất định. Lượng dự
trữ ngoại tệ này sẽ dùng để can thiệp trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì một
tỷ giá cố định khi thị trường có sự biến động mạnh. Dự trữ ngoại tệ này sẽ giúp
giảm rủi ro trong TTQT do tỷ giá biến động mạnh gây nên.
g. Yếu tố khách hàng:
Khách hàng là người ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của NH. NH càng thu hút được nhiều khách hàng thì càng phát triển được
hoạt động kinh doanh của mình nhưng phải là khách hàng có năng lực kinh
doanh và hoạt động có hiệu quả. Khách hàng càng am hiểu và có năng lực về
TTQT và luật pháp quốc tế… có khả năng tìm được đối tác an toàn, tin cậy tránh
được rủi ro và nắm bắt được những cơ hội trong kinh doanh sẽ tạo được thu
nhập không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho cả NH đồng thời cũng nâng cao
chất lượng TTQT cho NH.
h. Sự cạnh tranh của các NHTM khác:
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
21
Khóa luận tốt nghiệp
Sự cạnh tranh giữa các NHTM cũng tác động tới hoạt động TTQT của
NH. Một NH chiếm được nhiều đối tượng khách hàng và tăng quy mô TTQT
nếu cung cấp cho khách hàng dịch vụ TTQT với mức độ an toàn cao, chi phí
thấp, thời gian thanh toán nhanh. Để làm được điều này thì điều quan trọng nhất
trong TTQT của NH là nâng cao chất lượng thanh toán.
1.3.3.2. Nhân tố chủ quan
a. Chiến lược kinh doanh của NH:
Chiến lược kinh doanh của NH bao gồm chiến lược kinh doanh trong

TTQT từ đó nâng cao uy tín của NH.
d. Chính sách khách hàng:
Chính sách khách hàng trong NH luôn được định hướng trong hoạt động
kinh doanh của NH. Với chính sách phát triển dịch vụ hấp dẫn và đúng đắn sẽ
thu hút được nhiều khách hàng hơn. Từ đó tạo được ấn tượng tốt, làm hài lòng
khách hàng khi sử dụng dịch vụ của NH, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của NH.
Kết luận chương 1: Tóm lại, chương 1 đã tìm hiểu và khái quát những lý
luận về TTQT, đã đi sâu và tìm hiểu về những phương thức TTQT, nâng cao
chất lượng TTQT và các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng TTQT. Đây là
cơ sở để phân tích đánh giá thực trạng chất lượng TTQT tại Ngân hàng Công
thương chi nhánh Thanh Xuân.
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
23
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
THANH XUÂN
2.1. Tổng quan về chi nhánh NHCT Thanh Xuân
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển chi nhánh NHCT Thanh Xuân
Ngân hàng công thương Việt Nam được thành lập từ năm 1988 sau khi
tách ra từ NHNN Việt Nam. Hiện nay, là một trong những NHTM lớn, đóng vai
trò quan trọng và là trụ cột của nghành ngân hàng Việt Nam. Ngân hàng có
mạng lưới hệ thống trải rộng toàn quốc và có mối quan hệ đại lý với 850 ngân
hàng lớn trên thế giới. Ngân hàng luôn luôn không ngừng nghiên cứu, cải tiến
các sản phẩm, dịch vụ hiện có, phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng cao
nhất nhu cầu của khách hàng và ngày càng khẳng định được mình trong nghành
ngân hàng Việt Nam.

Thanh Xuân thực hiện chuyển đổi mới mô hình tổ chức theo dự án hiện đại hóa
ngân hàng; do vậy hiện nay mô hình tổ chức của ngân hàng được áp dụng theo
mô hình quản lý trực tuyến chức năng.
Sơ đồ tổ chức chi nhánh:
Bùi Thị Hường TC12B-
TCNH
25
Ban giám đốc
Khối kinh
doanh
Phòng
giao dịch
Khối tác
nghiệp
Khối hỗ
trợ
Khối QL
rủi ro
Phòng KH số
1
Phòng KH số
2
Phòng KH cá
nhân
Phòng GD
loại 1
Phòng GD
loại 2
Kế toán
giao dịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status