PHÒNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN VĨNH CỬU
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VĨNH TÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIEÄM
“MỘT VÀI GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 HỌC TỐT
MÔN NGỮ VĂN”
Người thực hiện: Nguyễn Đông Giang.
Lĩnh vực nghiên cứu: Ngöõ vaên
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn.
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác:
Năm học 2011-2012
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN.
1. Họ và tên: Nguyễn Đông Giang.
2. ngày tháng năm sinh: 1975.
3. Giới tính: Nam.
4. Địa chỉ: Ấp 1 – Vĩnh Tân – Vĩnh Cữu - Đồng Nai.
5. Điện thoại: 0613860253.
6. Chức vụ: Giáo viên.
7. Đơn vị công tác: Trường THCS Vĩnh Tân.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO.
- Học vị hoặc trình độ chuyên môn cao nhất: Cao đẳng sư phạm
- Năm nhận bằng: 1999
- Chuyên ngành đào tạo: Văn – sử
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC.
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Ngữ văn.
- Số năm có kinh nghiêm: 11 năm.
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
1/ Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học ngữ văn
2/ Cách cảm nhận văn học dân gian
Trong khi người ta nói “Văn học là nhân học” học văn là học làm người.
Vậy mà người ta lại xem thường việc học làm người, hậu quả là đạo đức xã
hội ngày càng đi xuống, đi xuống nghiêm trọng, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu
niên. Có nhiều người có trình độâ , nhưng lại không có lễ độ, có học thức
nhưng lại cư sử với nhau như những người không có giáo dục. Đây chính là
hậu quả tai hại bởi việc xem thường những môn có tính chất giáo dục nhân
bản, trực tiếp dạy con người ta biết yêu cái đẹp, yêu cái tốt, ghét cái ác, cái
xấu.
3
Từ thực tế đó với lòng yêu nghề tôi tìm cách tháo gỡ khó khăn. Làm sao
để các em ham học hơn, tiết học sinh động hơn, các em dễ nhớ bài, hiểu bài
hơn. Đó là lí do tơi chọn đề tài “ Một vài giải pháp giúp học sinh lớp 6 học tốt
mơn ngữ văn”.
II/ THỰC TRẠNG VÀ NGUN NHÂN TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC
GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
1/ Thực trạng
Đã nhiều năm qua tơi được giao dạy mơn ngữ văn lớp 6. Đây là lớp đầu cấp
các em từ dưới cấp một mới lên còn bỡ ngỡ. Đặc biệt lần đầu tiên các em được
học với rất nhiều thầy cơ. Vì vậy tâm trạng các em rất hoang mang, lo lắng, nhút
nhát, rụt rè. Khả năng viết bài, diễn tả tâm trạng, cảm xúc của các em thành câu
văn, đoạn văn, bài văn còn vụng về, lủng củng. Cả học sinh và phụ huynh lại ít
quan tâm chú ý đến mơn học. Chưa nói gì đến việc làm sao cho các em ham học,
học tốt mơn ngữ văn. Cho nên các hoạt động dạy và học mơn ngữ văn gặp nhiều
khó khăn.
2/ Ngun nhân
2.1/ Về phía giáo viên
Tuy u nghề mến trẻ nhưng với một số giáo viên trong tư tưởng vẫn khơng
cảm thấy thật sự thoải mái, hài lòng khi cảm thấy bộ mơn mình dạy phụ huynh
và học sinh xem nhẹ. Điều này cũng làm giảm đi khả năng sáng tạo, làm mất đi
sự cố gắng và hậu quả là học sinh lại càng cảm thấy chán học, khơng có hứng
30,6%
Kiểm tra giữa
kì
6
16,7%
12
33,3%
10
27,7%
8
22,3%
Kiểm tra HK I 8
22,3%
13
36,1%
10
27,7%
5
13,9%
Kiểm tra
HKII
9
25%
15
41,7%
10
27,7%
2
5,6%
Với kết quả trên chúng ta thấy còn nhiều học sinh yếu. Nhiều em khơng được
1/ Xây dựng hệ thống câu hỏi
Để khởi xướng một cuộc tranh luận, để kích thích tư duy phê phán, để kiểm
tra thơng tin nào đã đến được với học sinh thì người giáo viên phải đặt ra các
câu hỏi. Sử dụng câu hỏi là một biện pháp hiệu quả và thơng dụng. Hỏi được
một câu hỏi hay khơng phải là dễ, chọn đúng thời điểm để hỏi, sử dụng ngơn
ngữ, cử chỉ đáp án lại câu trả lời của học sinh với thái độ xây dựng là một nghệ
thuật. Đặt câu hỏi là một cách nhanh chóng để thu hút học sinh và tạo ra một
khơng khí học tập sống động. Biết cách đặt câu hỏi phù hợp chúng ta khơng
những đạt được mục tiêu bài giảng mà còn có thể phát triển thêm một số vấn đề
có liên quan. Nếu chúng ta biết đưa ra câu hỏi một cách khéo léo thì sẽ kích
thích được sự hứng thú tìm câu trả lời của học sinh. Mục đích của việc đặt câu
hỏi nhằm: Phát hiện các vấn đề vướng mắc trong học tập. Thúc đầy học sinh vào
các lĩnh vực tư duy mới. Thách thức các ý tưởng hiện đại. Thăm dò kiến thức
học sinh. Chuyển tiếp giữ các phần của bài dạy.
1.1/ Các dạng câu hỏi
Có hai dạng câu hỏi thơng dụng nhất đó là câu hỏi đóng và câu hỏi mở.
Câu hỏi đóng thường giới hạn, chỉ u cầu trả lời có hoặc khơng, đúng hoặc sai,
hay trả lời một ý rất ngắn.
VD: Vì sao bộ phận từ mượn phần lớn là mượn từ tiếng Hán (Bài từ mượn)
1.2/ Các cấp độ câu hỏi
* Cấp độ nhớ lại: Cấp độ này kiểm tra xem các kiến thức đã học của học sinh có
ghi nhớ khơng, cấp độ này có những dạng sau.:
a/ Dạng câu hỏi nêu khái niệm
VD: Thế nào là từ mượn? ( Bài “từ mượn”)
b/ Dạng câu hỏi liệt kê
VD: Hãy kể tên những truyện cổ tích mà em đã học?
c/ Dạng câu hỏi kể lại
VD: Kể lại đoạn truyện Thạch Sanh đánh chằn tinh(Bài “Thạch Sanh”)
d/ Dạng lựa chọn
VD: Trong các ý sau, ý nào đúng với khái niệm nhân hóa?
Đây là một kĩ thuật đào xới suy nghĩ của học sinh để tìm ra thực sự trong
đầu học sinh có gì, một số thủ thuật như sau:
Im lặng: Khoảng lặng để lắng đọng, để học sinh có thời gian suy nghĩ.
Và có thể trao đổi nhiều hơn
Khích lệ: Xin các em cứ tiếp tục phát biểu ý kiến của mình.
2/ Áp dụng một số trò chơi
Đây là việc giảm tải áp lực, tạo không khí giải trí thoải mái của các giờ học.
Qua những trò chơi học sinh dễ nắm bài, có tinh thần thi đua học tập và điều cót
lõi là tạo hứng thú học tập cho các em.
Trong giờ học ngữ văn, giáo viên có thể cho học sinh tiến hành đan xen một trò
chơi vào các tiết học. Mỗi tiết học cho các em chơi một trò chơi khác nhau,
nhưng nội dung có liên quan đến bài học để tiết học đỡ nhàm chán tạo sự bất
ngờ vừa khắc sâu kiến thức cho học sinh.
7
2.1/ Trò chơi sắp xếp các cánh hoa
a/ Chuẩn bị: GV: chuẩn bị hoặc các em chuẩn bị trước các mẫu bìa hình tròn vẽ
trang trí màu cho đẹp trên đó ghi các từ hoặc tiếng, các yếu tố Hán Việt …
Chuẩn bị băng keo hai mặt.
b/ Tiến hành:
Hướng dẫn các em ghép thành những đóa hoa. Hoa của tổ nào có nhiều cánh và
chính xác hơn sẽ được điểm cao.
VD: Khi dạy bài “Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ” ta có thể
cho học sinh tạo nên những đóa hoa từ các cánh hoa có các nghĩa chuyển.
2.2/ Trò chơi “Trí tuệ tập thể”
a/ Chuẩn bị: Mỗi nhóm học sinh cần chuẩn bị một bảng phụ ( khoảng 60x80)
b/ Tiến hành:
-Khi giáo viên có bài tập hoặc khi có yêu cầu mang tính tập thể thì ta cho các em
thảo luận và ghi kết quả ở bảng phụ.
-Giáo viên chọn bất kì một học sinh nào trong nhóm, treo bảng phụ lên, trình
bày cách làm, kết quả của nhóm mình.
3/ Cho học sinh diễn lại một hành động của nhân vật hoặc diễn lại một trích
đoạn ngắn trong một số văn bản tự sự
Mục đích là làm cho lớp học sinh động , làm cho nhân vật như sống lại.
Khắc sâu kiến thức.Trước hết giáo viên phải chọn được trích đoạn , chọn được
đối tượng diễn và giáo viên cũng là diễn mẫu, thị phạm trước, làm sao cho
học sinh khi diễn thật tự tin. Giáo viên cần có những bước chuẩn bị sau:
a/ Chọn được đoạn trích.
b/ Chọn được học sinh có thể lên diễn.
c/ Giáo viên có thể viết kịch bản trước ( một trích đoạn ngắn nhưng phải trọng
tâm khơng q 3-5 phút). Giao cho học sinh về chuẩn bị. Nếu chỉ diễn một hành
động hoặc một vài lời thoại đơn giản thì khơng cần chuẩn bị trước, giáo viên chỉ
cần thị phạm trước là các em có thể làm được. Chúng ta cũng khơng nên u cầu
cao vì có thể các em làm khơng được hay nhưng lại rất thật kiểu “cây nhà lá
vườn” là được. Như vậy tùy thời gian ta có thể cho các em diễn chỉ một hành
động của nhân vật hoặc một trích đoạn:
VD: Diễn một hành động trong truyện “Ơng lão đánh cá và con cá vàng”. Khi
phân tích đến nhân vật mụ vợ hoặc sau khi đã tổng kết bài ta chọn học sinh lên
diễn: Thầy mời hai em lên diễn lại một hành động đánh chồng của mụ vợ.
(Chỉ cần cho hai bạn nam lên hóa trang làm bà lão đầu bum khăn (khăn qng)
diễn một hành động hung dữ đánh chồng, vừa đánh vừa nói mày cãi à! Mày cãi
à!)
Nhân vật ơng lão: Bà là nơng dân q mùa mà đòi làm nữ hồng thiên hạ người
ta cười cho.
Bà lão: Mày cãi à! Mày dám cãi một bà nhất phẩm phu nhân à! (Vừa nói vừa chỉ
vào mặt hoặc tát nhẹ vào mặt ơng lão).
* Mục đích để thay đổi khơng khí, tạo tiếng cười (Rất buồn cười khi bum khăn
làm bà lão cho một bạn nam) và khắc sâu một tính cách nhân vật.
VD: Diễn một hành động trong truyện “Em bé thơng minh”. Sau khi phân tích
xong đoạn em bé vào gặp nhà vua, hoặc sau khi đã tổng kết bài, ta chọn học
sinh lên diễn: Thầy mời hai em lên diễn lại đoạn em bé vào gặp nhà vua để giải
Sơn Tinh: Thưa con là Sơn Tinh là vua núi Tản Viên.
Vua Hùng: Các ngươi có tài gì mà đòi cưới Mị Nương con ta?
Thủy Tinh: Thưa con có tài hô mưa, gọi gió.
Sơn Tinh: Còn con có thể xây những con đê.
Vua Hùng: Các ngươi hãy trổ tài cho ta xem đi.
Thủy Tinh: Phùng mang, trợn mắt, múa chân, múa tay hét lên một tiếng (Động
tác hô mưa, gọi gió)
Sơn Tinh: Đưa tay về phía đông, đưa tay về phía tây (Động tác xây những con
đê ngăn dòng nước lũ).
Vua Hùng gật đầu tỏ vẻ hài lòng: Các ngươi ai cũng tài giỏi nhưng ta chỉ có một
cô con gái, mai ai đem sính lễ đến trước sẽ được cưới con ta.
*Qua đoạn diễn học sinh sẽ thấy tính cách của nhân vật qua hành động và lời nói
của họ. Sơn Tinh nhẹ nhàng dễ thương, là người khiêm tốn. Thủy Tinh nóng
10
nảy, dữ tợn, cao ngạo. Học sinh cũng rất thích thú khi thấy vai Thủy Tinh diễn
hành động gầm gừ, hét, múa chân múa tay.
VD: Bài Thánh Gióng: Phần này được trích từ đoạn sứ giả đi tìm người tài ra
tay đánh giặc cứu nước. Ta có thể biên kòch lại như sau:
SG: Loa loa loa loa , đất nước có giặc ngoại xâm , tất cả trai tráng trong làng
hãy ra giúp vua đánh giặc cứu nước. Loa loa loa. (một em đóng vai sứ giả
cầm loa cưỡi ngựa. Lúc đó mẹ Gióng đang ru cho Gióng ngủ , nghe tiếng rao
Gióng nói)
TG: Mẹ ơi!
BM: Hả con nói gì(Bà mẹ tròn mắt ngạc nhiên vì từ trước tới nay chưa bao
giờ Gióng cất tiếng nói)
TG: Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con!
BM: Con gặp ông ấy làm gì? Thôi ngủ đi con! Ầu ơ… (vỗ vai ru cho Gióng
ngủ)
TG: Không mẹ ơi! Con phải gặp ông ấy!
BM: Thôi được rồi, để mẹ ra mời ông ấy vào. (Bà mẹ đứng dậy ra mời sứ
của những cuộc chia tay do những cuộc li hơn gây ra.
* Một vài chú ý khi sử dụng phương pháp này: Theo tơi chúng ta khơng nên u
cầu cao q vì có thể các em làm khơng được hay nhưng lại rất thật kiểu “cây
nhà lá vườn” là được. Nếu khơng khéo léo sắp xếp thì sẽ khơng đủ thời gian.
Giữa giáo viên và học sinh phải có sự gắn kết, quan hệ thân thiện, gần gũi và
đặc biệt mọi cái phải diễn ra hết sức tự nhiên, giáo viên phải khéo léo tạo ra sự
tự nhiên và thân thiện vì nếu các em sợ, hoặc căng thẳng sẽ khơng dám lên đóng
vai. Giáo viên có thể thị phạm trước cho các em diễn lại nếu chỉ diễn đơn giản
một hành hai hành đơng của nhân vật. Nhưng nếu diễn một trích đoạn dài hơn
thì phần chuẩn bị bài chúng ta phải hướng dẫn trước về nhà các em sẽ chuẩn bị,
hoặc chọn nhân vật và biên kịch lại giao cho các em về chuẩn bị đến tiết học các
em sẽ lên diễn theo đúng u cầu của giáo viên.
Trên đây là một vài phương pháp tự kinh nghiệm bản thân cũng như học hỏi ở
đồng nghiệp trong trường mà tơi hay áp dụng trong q trình giảng dạy. Mong
được học hỏi thêm.
IV/ KẾT QUẢ
Thay đổi phương pháp dạy học giúp các em ham học . Dễ học bài, hiểu
bài, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của các em.Đa dạng hài hoà
các phương pháp nhằm tránh đơn điệu nhàm chán. Dạy học môn ngữ văn
không chỉ là truyền đạt tri thức mà điều quan trọng là để rèn nhân cách cho
các em sau này. Hoạt cảnh cũng như hệ thống câu hỏi và một số trò chơi làm
cho tiết học bớt căng thẳng, nhất là làm cho các em có hứng thú, dễ học , dẽ
hiểu, dễ nhớ bài.
Tơi xin nêu một vài kết quả mà tơi gặt hái được khi áp dụng phương pháp này:
Những lớp tơi dạy hai năm trở lại đây khơng có học ở lại lớp vì yếu mơn văn.
Tinh thần học tập các em tăng cao so với đầu năm. Đầu năm các em nhút nhát,
rụt rè, nhưng càng về sau mối quan hệ giữa tơi và các em càng trở nên thân
thiện, gần gũi, các em học rất sơi nổi, phát biểu nhiều, chịu khó làm bài tập.
Điểm khảo sát đầu năm thấp sau đó điểm các bài kiểm tra tăng lên
12
Kiểm tra
HKII
10
27,8%
17
47,2%
9
25%
Như đã nói ở phần cơ sở lí luận là mục đích của phương pháp dạy học
nhằm giúp các em ham học. Dễ học bài, hiểu bài, phát huy tính tích cực chủ
động, sáng tạo của các em, nhằm tránh đơn điệu, nhàm chán, làm cho tiết
học bớt căng thẳng, làm sống động hình tượng nhân vật và nhất là làm cho
các em có hứng thú, dễ học, dễ nhớ bài. Đây chính là kết quả và cũng là mục
đích của tơi trong giảng dạy và số học sinh yếu đã giảm so với khi chưa áp dụng
đề tài.
V/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm tâm lí của học sinh: lúc nào các em cảm
thấy mệt mỏi, căng thẳng, lúc nào chúng ta sử dụng phương pháp nào Ngoài
những phương pháp phụ hoạ này chúng ta còn có thể phối hợp rất nhiều
phương pháp khác ví dụ ngữ văn lớp 6 học nhiều về văn kể chúng ta có thể mở
rộng, liên hệ bằng những câu chuyện phù hợp để tăng tích thuyết phục cho bài
giảng. Để làm sao cho tiết học đạt kết quả như mong muốn . Tuỳ từng lớp ,tùy
từng hoàn cảnh, tùy từng đối tượng mà chọn những phương pháp cho phù hợp.
Theo tơi cái gì phù hợp thì cái đó đúng. Có thể phương pháp này phù hợp với
lớp này , hoàn cảnh này, nhưng chưa chắc đã phù hơp với lớp khác, hoàn
cành khác. Theo tơi mọi cố gắng của giáo viên là làm sao cho các em yêu
thích giáo viên, yêu thích môn học và ham học, học không nhàm chán, không
mệt mỏi, không căng thẳng như vậy là được.
PHẦN III: KẾT LUẬN
Trên đây là một số giải pháp mà tơi đã thực hiện có kết quả. Tơi rất mong
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
tại đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện
và dễ đi vào thực tiễn: Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu
quả trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Kí tên và ghi rõ họ tên) (Kí tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
15
PHÒNG GD&ĐT VĨNH CỬU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS VĨNH TÂN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
PHIẾU ĐÁNH GIÁ CHUYÊN ĐỀ / SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Họ và tên giáo viên: Nguyễn Đông Giang
Đơn vị: Trường THCS Vĩnh Tân
Đề tài:
“MỘT VÀI GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 HỌC TỐT MÔN NGỮ VĂN”
ĐÁNH GIÁ
Các mặt Yêu cầu Điểm
Phạm vi đề tài Có thể áp dụng cho nhiều bài, nhiều chương, cả
chương trình ( tối đa 1,5 điểm)
Hình thức Trình bày đẹp, bố cục hợp lý, diễn đạt mạch lạc
…………………………………………………………………………………………………
- Hình thức: …………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………….
- Nội dung……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………………
17
CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Vĩnh Tân ngày 13 tháng 12 năm 2011
BẢN BÁO CÁO TĨM TẮT SÁNG KIẾN
Kính gởi: Hội đồng sáng kiến:
- Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai
- Ủy Ban Nhân Dân Huyện Vĩnh Cửu
- Phòng Giáo dục & Đào tạo Vĩnh Cửu
- Trường THCS Vĩnh Tân
Họ và tên: Nguyễn Đơng Giang
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THCS Vĩnh Tân
Bản báo cáo tóm tắt sáng kiến:
Tên nội dung sáng kiến:
“MỘT VÀI GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 HỌC TỐT MƠN NGỮ VĂN”
1/ Xuất xứ:
- Xuất phát từ mục tiêu của Ngành GD&ĐT về nâng cao chất lượng dạy và học
của giáo viên và học sinh.
- Xuất phát từ chủ trương của Bộ giáo dục về phong trào “ Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực”, trong những năm gần đây về cải thiện mối quan
hệ giữ giáo viên với giáo viên đặc biệt giữ giáo viên với học sinh.
- Đặc biệt xuất phát từ thực tế giảng dạy tôi thường thấy những giáo viên dạy
bài, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em. Đa dạng, hài hoà
các phương pháp nhằm tránh đơn điệu, nhàm chán. Dạy học môn ngữ văn
không chỉ là truyền đạt tri thức mà điều quan trọng là để rèn nhân cách cho
các em sau này. Hoạt cảnh cũng như hệ thống câu hỏi và một số trò chơi làm
cho tiết học bớt căng thẳng, nhất là làm cho các em có hứng thú, dễ học , dễ
hiểu, dễ nhớ bài.
Tơi xin nêu một vài kết quả mà tơi gặt hái được khi áp dụng phương pháp
này: Những lớp tơi dạy hai năm trở lại đây khơng có học ở lại lớp vì yếu mơn
văn. Tinh thần học tập các em ngày càng tăng cao so với đầu năm. Đầu năm các
em nhút nhát, rụt rè, nhưng càng về sau mối quan hệ giữa tơi và các em càng trở
nên thân thiện, gần gũi, các em học rất sơi nổi, phát biểu nhiều, chịu khó làm bài
tập.
Điểm khảo sát đầu năm thấp sau đó điểm các bài kiểm tra tăng lên
Năm học 2009-2010
Thời gian G K TB Y
Kiểm tra đầu
năm
4/36 10/36 11/36 11/36
Kiểm tra giữa
kì
6 12 10 8
Kiểm tra HK I 8 13 10 5
Kiểm tra
HKII
9 15 10 2
cccc
Năm học 2010-2011
Thời gian G K TB Y
19
Kiểm tra đầu