Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu BTTN Pù Hoạt là đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Nghệ An, cách TP Vinh 150 km về phía Tây Bắc. Khu BTTN Pù
Hoạt được chuyển đổi từ Ban quản lý rừng phòng hộ Quế Phong theo Quyết
định số 1109/QĐ-UBND, ngày 02/04/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ
An. Diện tích được giao quản lý 90.701 ha, trong đó vùng lõi 36.226 ha,
vùng đệm 18.749 ha, vùng phòng hộ 35.726 ha. Theo Quyết định số
590/QĐ-UBND ngày 19/02/2014 về việc phê duyệt “Quy hoạch bảo tồn và
phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Hoạt giai đoạn 2013-
2020” thì diện tích quản lý của Khu BTTN Pù Hoạt là 85.761,43ha, trong đó
rừng đặc dụng 34.589,89 ha, rừng phòng hộ 51.171,54 ha. Khu BTTN Pù
Hoạt còn có vai trò to lớn trong trong việc phòng hộ đầu nguồn. cung cấp
nước cho sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường, là đầu nguồn của 2 hệ
thống sông lớn là Sông Hiếu ở Nghệ An, Sông Chu ở Thanh Hóa, trong đó là
nguồn sinh thủy của các thủy điện Hủa Na, Sao Va, Bản Mồng, Cửa Đạt…
Khu BTTN Pù Hoạt từ xưa đã nổi tiếng là vùng có khu hệ động, thực
vật rừng rất phong phú và đa dạng. Trong đó có nhiều loài động thực vật
quý hiếm cần được bảo vệ, bảo tồn và phát triển nguồn gen. Là khu rừng đặc
dụng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” đã được
UNESCO công nhận ngày 20-9-2007. Có giá trị đa dạng hệ sinh thái và cảnh
quan, đa dạng loài và nguồn gen cao, đặc biệt có cây Sa mu dầu to lớn nhất
trong rừng tự nhiên, là biểu tượng không chỉ riêng cho Pù Hoạt mà cho cả
toàn bộ thực vật Việt Nam.
Pù Hoạt có nhiều địa danh nổi tiếng như Thác Sao Va, Thác Bảy Tầng,
Đền Chín Gian Những danh thắng này tạo nên một quần thể cảnh quan kì
vĩ cùng với nhiều bản sắc văn hóa dân tộc nên từ lâu, là nơi thăm quan du
lịch sinh thái lí tưởng cho du khách trong và ngoài nước. Mỗi năm, có hàng
ngàn lượt du khách trong và ngoài nước tới đây thăm quan, du lịch và tìm
hiểu thiên nhiên.
Khu BTTN Pù Hoạt vừa mới được thành lập, do đó rất cần thiết và cấp
sinh thái ở trong và ngoài khu bảo tồn là một phương pháp bảo tồn: hỗ trợ, tăng
cường nhận thức về các giá trị quan trọng của Khu bảo tồn như giá trị sinh thái,
văn hóa, tinh thần, thẩm mỹ, giải trí và kinh tế; đồng thời tạo thu nhập phục vụ
bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh thái và di sản văn hóa. Du lịch sinh
thái cũng đóng góp nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng bản địa”.
Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo
tồn và phát triển bền vững. Ở Costa Rica và Nê Pan, Thái Lan… một số chủ
trang trại chăn nuôi đó bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, do
bảo vệ rừng mà họ đó biến những nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt
động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc
làm mới cho dân địa phương.
Ở Ecuado sử dụng khoản thu nhập từ du lịch sinh thái tại đảo Galapze để
giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia. Tại Nam Phi, du lịch sinh thái
trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của người da đen ở
nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt
động du lịch sinh thái.
Chính phủ Nhật Bản cũng tích cực khuyến khích phát triển du lịch sinh
thái với những chính sách rõ ràng, thành lập các đơn vị chuyên trách và các quỹ
nhằm duy trì và phát triển nghành Du lịch hướng tới thiên nhiên để tăng cường
công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du lịch quốc gia. Theo báo cáo về xu
hướng du lịch của khách du lịch Nhật Bản do Công ty giao thông Nhật Bản
thực hiện vào năm 2004, loại hình du lịch được khách du lịch Nhật Bản ưa
thích nhất là du lịch tắm suối nước nóng (chiếm 57,9 %). Xếp thứ 2 là du lịch
hướng tới thiên nhiên (45,7%). Nhận thức về du lịch sinh thái của người dân
cũng cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây.
Hector Ceballos Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch
sinh thái, định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh
thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với
những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 3
thái là:
- Phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan giải trí, khám phá tìm hiểu tự
nhiên và con người. Đây chính là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động DLST.
- Hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng và tài
nguyên ở các VQG, KBT nói chung. Cụ thể là DLST phải được tổ chức có tính
khoa học, có tính giáo dục môi trường cao, đồng thời đem lại lợi nhuận tái phục
vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
- Hỗ trợ kinh tế, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 4
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
dân địa phương, những người có quyền quyết định cho sự phát triển VQG và
trong công tác hoạch định du lịch.
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng ta có thể thấy, nếu các hoạt động
du lịch mà không đáp ứng được các tiêu chí trên thì không thể xem là DLST.
* Kinh nghiệm phát triển DLST tại một số VQG và khu BTTN trên thế
giới:
- DLST ở VQG Galapagos
Vườn Quốc gia Galapagos ở Equado không chỉ là một VQG mà còn là
một di sản thế giới, một khu dự trữ sinh quyển, và giời đây còn là một khu dự
trữ sinh thái biển. Về mặt vị trí thì VQG Galapagos nằm tách khỏi lục địa, có
môi trường phù hợp cho các loài sinh vật thích nghi như Rùa, Kỳ đà, Chim sẻ,
Xương rồng khổng lồ và họ hàng Hướng dương, Chim cốc không bay, Chim
bói cá và nhiều giống động thực vật khác.
Galapagos có lẽ là một trong những nơi thuận lợi nhất trên thế giới để
nghiên cứu về tiến hóa của hệ sinh thái. Được thưởng thức những quang cảnh
đại dương, ven biển và đất liền. Nơi động vật hoang dã đã tiến hóa và như
không có chút sợ hãi nào đối với con người đây chính là một cảm giác thật khó
so sánh.
Khác với các VQG khác ở Equado và các nước Châu Mỹ la tinh khác,
nơi có thể có người sống hợp pháp hoặc không hợp pháp trong phạm vi được
thế giới làm được. Hiện nay thì Galapagos đang được coi là mỏ vàng của
Equador.
- Một số kinh nghiệm của việc phát triển DLST ở VQG Galapagos:
+ Các hoạt động dịch vụ VQG đã được tổ chức tập huấn cẩn thận và
được cấp chứng nhận cho các hướng dẫn viên, các hướng dẫn viên này sẽ đi
cùng với tất cả các đoàn tham quan, vừa đóng vai trò hướng dẫn vừa kiểm soát
các hoạt động không tốt cho môi trường của khách du lịch.
+ Phương tiện tham quan là đa phần bằng thuyền, các dịch vụ ăn nghỉ
điều ở trên thuyền phần nào đã giảm tác động vào các khu vực tham quan của
khách. Khu tham quan thường ngắn và có ranh giới rõ ràng. Các hành trình của
chuyền tham quan điều được cố định và không được vào các khu vực chưa bị
xâm nhập của các loài nhập nội.
+ Các phương tiện hoạt động dịch vụ ở VQG điều kiểm soát và cấp phép
khá chặt chẽ.
+ Các hoạt động của VQG điều được phân vùng quản lý và có chiến lược
quản lý các hoạt động DLST.
- Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ những mô hình Du lịch Sinh
thái ở các VQG trên thế giới.
Qua việc tìm hiểu hoạt động DLST ở các VQG và khu BTTN trên thế
giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm khi tiến hành hoạt động DLST ở
các khu rừng đặc dụng của Việt nam nói chung và Khu BTTN Pù Hoạt nói
riêng.
- Du lịch sinh thái phải được nhận thức một cách đầy đủ, phải được xem
là công cụ thiết thực trong việc bảo tồn và phát triển bền vững, bảo tồn để phát
triển, phát triển không đe dọa đến lợi ích của các thế hệ mai sau.
- Cần thay đổi quan niệm của mọi người về bảo tồn và phát triển. Giáo
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 6
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
dục tuyên truyền để nâng cao nhận thức của các đối tượng trực tiếp hoặc gián
tiếp sử dụng tài nguyên đến các tầng lớp nhân dân.
lịch phải nhấn mạnh đến công tác bảo vệ môi trường tự nhiên và gắn liền với sự
phát triển bền vững về kinh tế xã hội của khu vực. Trên quan điểm này, những
nơi có thể khai thác phát triển du lịch sinh thái chủ yếu là những khu bảo tồn
thiên nhiên, công viên rừng, khu danh lam thắng cảnh, các khu vườn động, thực
vật.
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 7
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
Theo Lindberg (1991), nếu xét về phạm trù tài nguyên DLST thì tài
nguyên DLST gồm tài nguyên DLST tự nhiên và tài nguyên DLST nhân văn,
nếu xét trên cơ sở nguyên nhân hình thành thì tài nguyên DLST được phân
thành phần tài nguyên DLST nguyên sinh và tài nguyên DLST thứ sinh; còn
nếu xét trên cơ sở động cơ đi du lịch thì tài nguyên DLST gồm loại tài nguyên
DLST nghỉ dưỡng, tài nguyên DLST thám hiểm, tài nguyên DLST rèn luyện
sức khỏe và loại hình tài nguyên DLST phong cảnh.
Theo Yuan Shu Qi (2004), dựa trên đặc điểm phân bố của tài nguyên
DLST trong không gian đã phân tài nguyên DLST thành 5 loại hình tài nguyên
gồm: tài nguyên DLST đồi núi, tài nguyên DLST biển, tài nguyên DLST sông
hồ, tài nguyên DLST đất ngập nước, tài nguyên DLST thảo nguyên.
Qua một số quan điểm về tài nguyên DLST nói trên, có thể thấy nhận
thức về tài nguyên DLST vẫn còn có những điểm chưa thống nhất. Song đa số
đều đề cập đến các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên.
Theo quan điểm của chúng tôi, thì tài nguyên DLST ở đây không chỉ đơn
thuần là tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn mà nó bao hàm tất cả
các nhân tố sinh thái và hiện tượng sinh thái như chuỗi thức ăn, tính đa dạng
sinh học, sự biến đổi cảnh quan theo thời tiết có khả năng hấp dẫn du lịch.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Tổng quan về hệ thống Khu bảo tồn Việt Nam
Thuật ngữ “Rừng đặc dụng” là tên gọi chung cho các Khu bảo tồn thiên
nhiên, VQG của Việt Nam được thiết lập ở các hệ sinh thái rừng. Lịch sử xây
dựng hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam đã có chiều dài trên 40
tướng Chính phủ về việc quy định các khu rừng cấm ghi:
“ Việc quản lý, bảo vệ rừng và xây dựng các khu rừng cấm phải theo
những nguyên tắc sau đây:
- Không được làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của rừng cấm. Muốn xây
dựng các công trình lớn trong khu vực rừng cấm phải được phép của Thủ
tướng Chính phủ.
- Không được khai thác, chặt hạ, săn bắt, gây tiếng ồn hoặc làm bất cứ
công việc nào khác có hại đến điều kiện sinh sống và phát triển bình thường
của các loài động vật, thực vật trong rừng cấm.
- Không được đốt lửa hoặc làm ô nhiễm môi trường trong các khu rừng
cấm. Những trường hợp cần thiết phải chặt hạ cây cối, săn bắt lấy tiêu bản
động vật, thực vật, hoặc đốt lửa dùng cho sinh hoạt trong rừng cấm phải do Bộ
trưởng Bộ Lâm nghiệp xét và quyết định. Bộ Nông nghiệp phải có kế hoạch
trồng thêm cây và gây thả phục hồi số lượng các loài chim, thú trong các khu
rừng cấm”.
Từ năm 1983, việc xây dựng các khu rừng đặc dụng được quan tâm nhiều
hơn. Hàng loạt các khu rừng đặc dụng được khảo sát và đề xuất. Khu rừng cấm
Côn Đảo ra đời ngày 01/03/1984 theo Quyết định 85-CT của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng. Ngày 9/8/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 194-
CT công nhận 73 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích là 769.512 ha, đưa hệ
thống rừng đặc dụng của nước ta lên 86 khu với tổng diện tích gần một triệu héc
ta.
Đến thời kỳ này khái niệm về rừng đặc dụng của nước ta cũng đã có
những bước tiến đáng kể. Thuật ngữ “Rừng cấm” được thay thế bằng thuật ngữ
“Rừng đặc dụng” thể hiện có những thay đổi trong nhận thức về bản chất của
các khu rừng này. Ngày 30/12/1986, Bộ Lâm nghiệp (cũ) đã ra Quyết định số
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 9
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
1171 ban hành “Quy chế quản lý rừng đặc dụng”. Văn bản này lần đầu tiên đưa
ra định nghĩa và xác định rõ chức năng, tiêu chuẩn lựa chọn của 3 loại hình
giá trị về khoa học và kinh tế.
- Khu rừng có các di tích lịch sử hoặc văn hoá đã được Nhà nước xếp
hạng.
- Khu rừng có phong cảnh đặc sắc, có tác dụng bảo vệ môi trường vui
chơi, giải trí phục vụ các trung tâm dân cư lớn, nơi nghỉ mát hoặc các vùng
công nghiệp.”
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 10
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
- Giai đoạn từ 1987 đến nay
Trong giai đoạn này, công tác xây dựng rừng đặc dụng được đẩy mạnh,
với sự quan tâm cao hơn của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa
phương, sự tham gia tích cực của các nhà khoa học trong và ngoài ngành lâm
nghiệp và đặc biệt là sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên
nhiên như: Quỹ Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), Hiệp hội Bảo vệ Thiên
nhiên Thế giới (IUCN), Tổ chức Birdlife Quốc tế, Tổ chức Bảo tồn Động thực
vật Quốc tế (FFI), Nhiều chính phủ và tổ chức phi chính phủ cũng đã giúp đỡ
về vồn, kỹ thuật và chuyên gia cho công tác xây dựng và phát triển hệ thống
rừng đặc dụng của Việt Nam (Viện ĐTQHR, 1998). Vì vậy, nhiều Khu bảo tồn
lần lượt được xây dựng hoặc củng cố như Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn
(1991), VQG Tràm Chim (1994), Khu bảo tồn đất ngập nước Xuân Thuỷ
(1994), Đến tháng 11/1997, hệ thống rừng đặc dụng của nước ta đã bao gồm
92 khu với tổng diện tích là 1.928.979 ha. Trong đó, có 10 vườn quốc gia, 56
Khu bảo tồn thiên nhiên và 26 khu Văn hoá- Lịch sử- Môi trường.
Tuy nhiên, hệ thống rừng đặc dụng trong thời kỳ này còn có nhiều khiếm
khuyết cần khắc phục như: tỷ lệ diện tích rừng đặc dụng so với diện tích rừng
của cả nước còn thấp, đa số các khu có diện tích nhỏ, diện tích đất không có
rừng (trảng cỏ, trảng cây bụi, đất canh tác nông nghiệp) chiếm tỷ lệ lớn trong
các Khu bảo tồn, tỷ lệ rừng thường xanh và các hệ sinh thái khác nhau được
bảo vệ trong các khu rừng chưa cân đối, các khu rừng đặc dụng thường được
thành lập ở những vùng có độ cao lớn, một số loài có nguy cơ bị tiêu diệt trên
Vườn quốc gia, 52 khu dự trữ thiên nhiên, 28 Khu bảo tồn loài /sinh cảnh và 21
Khu bảo tồn cảnh quan). Không kể 10 Khu bảo tồn loài/sinh cảnh biển, tổng diện
tích của 123 Khu bảo tồn trên đất liền (kể cả đất ngập nước) là 2.852.310ha,
chiếm 8,7% diện tích cả nước. Tỷ lệ này được xem là tương đối phù hợp với yêu
cầu bảo tồn các hệ sinh thái và điều kiện kinh tế-xã hội đặc thù của nước ta, cũng
gần đạt được như hướng dẫn của IUCN là chiếm 10% - 15% diện tích đất nước.
Bảng 1: Hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam đến 3/2013
Phân hạng Số lượng Diện tích
I. Vườn quốc gia 30 khu 957.330 ha
II. Khu bảo tồn thiên nhiên 60 khu 1.369.058 ha
IIa. Khu dự trữ thiên nhiên 49 khu 1.283.209 ha
IIb. Khu bảo tồn loài/sinh cảnh 11 khu 85.849 ha
III. Khu bảo vệ cảnh quan 41 khu 215.287
Tổng cộng: 131 khu 2.541.675 ha
- Rừng đặc dụng đã được bố trí ở các vùng khí hậu khác nhau (vùng
nhiệt đới, vùng Á nhiệt đới, vùng mưa ẩm, vùng khô hạn, vùng núi cao, vùng
trung du núi thấp, vùng đồng bằng, ), đặc biệt, là ở cả 8 vùng sinh thái cơ bản
của nước ta.
Bảng 2: Phân bố các khu rừng đặc dụng trên 8 vùng sinh thái của
Việt Nam
T
TT
Vùng sinh thái Một số Khu bảo tồn đại diện
1
1
Đông Bắc
(Cao Bằng, Hà Giang,
- 6 VQG: Ba Bể, Bái Tử Long, Tam Đảo,
Hoàng Liên Sơn-Sapa, Xuân Sơn.
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 12
Lư, Hương Sơn, Kim Bình.
3
3
Tây Bắc
(Lai Châu, Sơn La, Hoà
Bình)
- 9 KBTTN: Mường Nhé, Nậm Dôn, Pà Cò-
Hang Kia, Phu Canh, Sốp Cộp, Tà Sùa,
Copia, Thượng Tiến, Xuân Nha.
- 1 KBTCQ: Đảo hồ Sông Đà.
4
4
Bắc Trung Bộ
(Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tỉnh, Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên-
Huế)
- 5 VQG: Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Bạch
Mã, Phong Nha-Kẻ Bàng.
- 9 KBTTN: Hòn Mê, Xuân Liên, Kẻ Gỗ, Pù
Huống, Pù Luông, Pù Hoạt, Pù Hu, Đak
Rông, Phong Điền.
- 1 KBTL/SC: Tam Quy
- 8 KBVCQ: Đền Bà Triệu, Bắc Hải Vân,
Lam Sơn, Ngọc Trạo, Núi Chung, Săng Lẻ
Tương Dương, Yên Thành.
5
5
Nam Trung Bộ
(Quảng Nam, Đà Nẵng,
Lò Gò-Sa Mát, Núi Chúa.
- 9 KBTTN: Đèo Ngoạn Mục, Kalon-Sông
Mao, Núi Đại Bình, Núi Ông, Tà Kou, Vĩnh
Cửu, Bi Đúp-Núi Bà, Bình Châu-Phước
Bửu, Núi Đại Bình.
- 6 KBTCQ: Chàng Riệc, Chiến khu Bời
Lời, Dương Minh Châu, Núi Bà Đên, Núi Bà
Rá, Rừng Thông Đà Lạt,
8
8
Đồng Bằng Sông Cửu
Long
(An Giang, Bạc Liêu,
Bến Tre, Cà Mau, Cần
Thơ, Đồng Tháp, Kiên
Giang, Long An, Tiền
Giang, Trà Vinh, Vĩnh
Long
- 4 VQG: Phú Quốc, Tràm Chim, U Minh
Thượng, Mũi Cà Mau.
- 3 KBTTN: Lung Ngọc Hoàng, Núi Cấm,
Thạnh Phú.
- 5 KBTL/SC: Sân chim Bạc Liêu, Sân chim
Chà Là, Đầm Dơi, Kiên Lương, Vồ Dơi.
- 2 KBTCQ: Hòn Chông, Núi Sam.
Tóm lại: Với lịch sử trên 40 năm xây dựng, ở Việt Nam đã hình thành
một hệ thống rừng đặc dụng gồm 131 khu với tổng diện tích là 2.541.675ha,
chiếm 7,7% diện tích Đất nước.
Hiện nay, tổng số khu rừng đặc dụng là 131, trong đó có 30 Vườn quốc
gia, 48 khu dự trữ thiên nhiên, 12 Khu bảo tồn loài, 40 khu bảo vệ cảnh quan.
Trong những năm qua, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh
chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới, ngày càng thu hút được sự quan tâm
rộng rãi của các tầng lớp xã hội. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên,
bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng, phát triển du lịch sinh thái đã
và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội tăng thêm việc
làm và nâng cao thu nhập cho các quốc gia cũng như cộng đồng người dân
các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các khu
bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn. Ngoài ra, du lịch sinh thái còn
góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông qua các
hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí. Chính
vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, bên cạnh các lợi ích về
kinh tế, du lịch sinh thái còn được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo
vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn
lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của người dân địa phương
khi tham gia vào các hoạt động du lịch.
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 15
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài
trên 15 độ vĩ tuyến với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, với hơn 3200 km
đường bờ biển, hàng ngàn hòn đảo…, giàu có về đa dạng sinh học trên lãnh
thổ, là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm
đấu tranh dựng nước và giữ nước với nhiều truyền thống có những nét đặc
trưng riêng, nhiều di tích văn hóa lịch sử nên Việt Nam có nhiều điều kiện phát
triển du lịch sinh thái. Mặc dù có tiềm năng phát triển, song du lịch sinh thái ở
Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu, còn là loại hình du lịch mới cả về khái
niệm lẫn tổ chức quản lý và khai thác sử dụng tài nguyên phục vụ cho mục đích
du lịch. Công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản và quy hoạch phát triển du lịch
sinh thái còn hạn chế.
Nhận thức rõ vai trò của du lịch sinh thái đối với sự phát triển của ngành
du lịch nói riêng và bảo vệ tài nguyên, môi trường đảm bảo cho sự nghiệp phát
Cát bà, Khu du lịch Đền Hùng (Phú Thọ), Khu du lịch Tràng An, Tam cốc –
Bích Động (Ninh Bình), Khu du lịch Măng Đen (Kon Tum), Khu du lịch Phan
Thiết - Mũi Né (Bình Thuận), Khu du lịch đảo Phú Quốc Kiên Giang).
Một số khu du lịch vừa mới được tiến hành lập quy hoạch như Khu du
lịch Mộc Châu (Sơn La), Khu du lịch Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Khu du lịch thác
Bản Giốc (Cao Bằng).
Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đang chỉ đạo ngành Du lịch thực hiện
các quy hoạch Khu du lịch Điện Biên Phủ- Pá Khoang- Mường Phăng
(Điện Biên), Khu du lịch Sơn Trà (Đà Nẵng), Khu du lịch núi Bà Đen (Tây
Ninh). Trong những năm tiếp theo sẽ tiếp tục chỉ đạo thực hiện quy hoạch
các khu du lịch khác.
Trong luật du lịch năm 2005, đã định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh
thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa
phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Theo quy
chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên, do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì “Du lịch
sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa
phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển
bền vững”.
Một số chính sách có liên quan đến phát triển DLST đã được ban hành,
như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Nghị định 23 về hướng dẫn thực
hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng, Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, ngày
14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý các loại rừng,
Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày 27/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về Quản lý các hoạt động DLST tại các VQG,
Khu BTTN. Năm 2002, mô hình sử dụng môi trường rừng đặc dụng để phát
triển du lịch sinh thái được triển khai thí điểm tại Vườn Quốc gia Ba Vì theo
Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Kết quả sau 6 năm thực
hiện cho thấy mô hình thí điểm đã có những tác động tích cực, như giảm áp lực
cho công tác bảo vệ rừng, tạo cơ hội khôi phục nghề truyền thống và giải quyết
(Ninh Bình) bao gồm cả hệ sinh thái đất ngập nước và hệ sinh thái rừng rừng
trên núi đá vôi với loài Voọc quần đùi quý hiếm và các loài chim nước như
Sâm cầm. VQG Tràm chim là nơi bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên Đồng Tháp
Mười với loài đặc hữu là Sếu đầu đỏ đã thu hút hàng nghìn khách du lịch mỗi
năm.
Năm 2005: “Bản đồ du lịch sinh thái của Việt Nam”, đây là lần đầu tiên
một bản đồ chi tiết về du lịch sinh thái ở Việt Nam được xuất bản, Chương
trình Hỗ trợ bảo tồn Việt Nam – FFI thực hiện. Bản đồ được trình bày dưới
dạng một cuốn sách hướng dẫn về thiên nhiên Việt Nam, trong đó có nhiều ảnh
chụp phong cảnh và động vật hoang dã có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Tuy có nhiều tiềm năng phát triển DLST song lượng khách đến các
KBTTN Việt Nam còn rất thấp. Theo số liệu điều tra của đề tài nghiên cứu đề
xuất tiêu chí khu DLST ở Việt Nam (2009), thì phần lớn là khách du lịch đến
các VQG và KBTTN là khách nội địa (chiếm tới 80% tổng lượng khách) và
cũng chưa thể thống kê được có bao nhiêu khách là khách DLST đích thực.
Tuy nhiên có những điểm thu hút được đa số khách du lịch quốc tế, điển hình là
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 18
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
KBTTN đất ngập nước Vân Long với trên 82,3% (40,000 khách) lượng khách đến
tham quan du lịch là khách quốc tế .
Một số mô hình DLST cộng đồng đã hình thành, như ở Bản Khanh
(VQG Cúc Phương), Bản Pác Ngòi (VQG Ba Bể), thôn Chày Lập (VQG Phong
Nha - Kẻ Bàng), bản A Đon (VQG Bạch Mã),….Do khó khăn trong khâu tiếp
thị nên chưa thu hút được nhiều khách du lịch, lợi ích mang lại cho người dân
còn rất khiêm tốn.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ cho phát triển DLST đã được xây dựng
nhưng chất lượng và số lượng còn rất hạn chế. Nhiều khu DLST như VQG Cúc
Phương, Bái Tử Long, Bạch Mã, Cát Tiên đã xây dựng Trung tâm du
khách/Trung tâm thông tin và các đường mòn thiên nhiên có các biển diễn giải.
Nhiều khóa tập huấn về DLST và giáo dục môi trường đã được các dự án, các
nhau phân bố hầu như đều khắp lãnh thổ và có giá trị sử dụng vào nhiều mục
đích, trong đó đặc biệt du lịch sinh thái, một số cụm như cụm Tam Hợp -
Quang Hanh (Quảng Ninh) cụm Mỹ An (Huế), cụm Vĩnh Hảo (Bình Thuận)
cụm Mỹ Khê (Hà Nội), cụm Đồng Nghệ(Đà Nẵng). Các cộng đồng dân tộc với
bản sắc văn hoá riêng về phong tục, tập quán, lối sống, di tích lịch sử, văn hoá,
kiến trúc, nghệ thuật, lễ hội là nguồn thông tin tiềm tàng, hấp dẫn cuốn hút rất
nhiều đối tượng cho nhiều du khách trong và ngoài nước; hệ thống di sản văn
hoá vật thể và phi vật thể phong phú và đa dạng gắn kết với hệ sinh thái đặc sắc
của đất nước là một trong những điều kiện thuận lợi phát triển du lịch sinh thái.
- Một số công trình nghiên cứu ở Khu BTTN Pù Hoạt: Trước đây công
việc nghiên cứu đã được tiến hành bởi các nhà địa lý, địa chất, kinh tế, sinh vật
của người Pháp; các nhà Khoa học Việt Nam ở các trường Đại học; Viện
nghiên cứu khoa học như: trường Đại học Lâm nghiệp; Viện điều tra quy hoạch
rừng; Viện sinh thái; Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật; trường Đại học xã
hội và nhân văn; Viện nghiên cứu và Phát triển du lịch và một số các tác
giả kết quả một số công công trình liên quan vấn đề nghiên cứu ở Khu BTTN
Pù Hoạt như: Dương Văn Lợi và cộng sự(2013) “Quy hoạch bảo tồn và phát
triển bền vững rừng đặc dụng- Khu BTTN Pù Hoạt giai đoạn 2013 – 2020”
Nguyễn Hải Hà và cộng sự (2013) “Báo cáo đánh giá đa dạng Khu hệ động-
thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An”.
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 20
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
Phần 2
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ- XÃ HỘI
2.1. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích
Theo kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng tỉnh Nghệ An
năm 2013 thì Khu BTTN Pù Hoạt có tổng diện tích tự nhiên 85.761,43 ha,
trong đó rừng đặc dụng34.589,89 ha và rừng phòng hộ 51.171,54 ha. Nằm trên
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 21
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
- Địa hình núi cao: Là địa hình đặc trưng trong khu vực, gồm các dãy núi
có độ cao hơn 1.700m, nằm ở phía Tây Bắc của huyện, tập trung ở 5 xã Đồng
Văn, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải và Tri Lễ. Địa hình bị chia cắt mạnh
bởi các dãy núi cao và hệ thống sông suối khá dày đặc, điển hình dãy núi cao
Trường Sơn từ 1.600 - 1.828m và núi Chóp Cháp (1.705m), đỉnh cao nhất là Pù
Hoạt (2.457m). Địa hình có độ dốc thường trên 30o, dễ gây hiện tượng sạt lở,
trượt đất, diện tích dạng địa hình này gần 52% diện tích tự nhiên, đây cũng là
vùng thượng lưu của hai con sông lớn là sông Chu và sông Hiếu. Thảm thực
vật chủ yếu là rừng cây tự nhiên, dạng địa hình này chỉ có ý nghĩa lâm sinh duy
trì độ che phủ đất rừng tự nhiên phòng hộ, tạo nguồn sinh thuỷ điều hòa khí hậu
trong vùng.
- Địa hình núi trung bình và núi thấp: Bao gồm các dãy đồi núi có độ cao
trong bình từ 300 đến 1.700m; là vùng chuyển tiếp khu vực núi cao và vùng
thấp, nằm ở phía Tây Nam của vùng quy hoạch, tập trung ở các xã Châu Thôn,
Cắm Muộn, Nậm Nhoóng, Tri Lễ và Nậm Giải. Diện tích chiếm 40% diện tích
tự nhiên, thảm thực vật chủ yếu là rừng cây tự nhiên và ngoài ra còn có ít diện
tích rừng trồng đặc sản (quế), rừng nguyên liệu gỗ như keo lai v.v Trên địa
hình này còn diện tích đất đồi núi chưa sử dụng có khả năng khai thác vào
trồng rừng.
- Địa hình bằng, thấp: Gồm những thung lũng nằm dưới chân núi cao
hoặc dải đất bằng nằm dọc hai bên bờ suối, có những nơi diện tích rộng từ 300
đến 400 ha, phân bố tập trung ở xã Tiền Phong. Độ dốc thường từ 3 đến 5 độ
rất thuận lợi cho canh tác, đây là vùng sản xuất lúa, rau, màu tập trung với sản
lượng lớn của huyện Quế Phong.
2.1.1.3. Địa chất, đất đai
- Địa chất: Vùng quy hoạch Khu BTTN Pù Hoạt có cấu trúc địa chất rất
phức tạp, với nhiều loại đá có tuổi trên 2 triệu năm: Đá cổ sinh (Paleozoi), đá
trung sính (Mezozoi) phát triển khá rộng rãi trên khu vực và ít hơn là đá tân
+ Ngoài ra trên địa bàn còn có 79,3 ha núi đá, chiếm 0,1% diện tích tự
nhiên, phân bố ở các xã Hạnh Dịch, Nậm Giải và Tri Lễ.
2.1.1.4. Khí hậu, thuỷ văn
- Khí hậu: Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn Quỳ Châu, Khu
BTTN Pù Hoạt nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều,
khu vực chịu ảnh hưởng lớn của khí hậu dãy Trường Sơn Bắc.
+ Nhiệt độ trung bình năm 23,1
o
C. Nhiệt độ cao nhất 41,3
o
C (tháng 6),
thấp nhất 10
0
C (tháng 12);
+ Độ ẩm trung bình năm 86%;
+ Lượng mưa trung bình năm 1.734,5mm. Mùa mưa từ tháng 7 đến
tháng 9 hàng năm, do địa hình cao dốc nên mỗi khi mưa lớn thường gây lũ
nhanh, lũ lớn trên các con sông. Lượng mưa thấp ở các tháng về mùa khô (1-3);
+ Gió: Trong khu vực có hai loại gió chính, đó là: Gió mùa Đông Bắc
xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thổi mạnh vào tháng 11, 12 và
tháng 1, mỗi đợt 3-4 ngày, có khi kéo dài cả tuần. Gió mùa đông bắc về gây giá
rét, thường kéo theo mưa phùn. Gió Lào thổi từ tháng 5 đến tháng 6, khi có gió
Lào, nhiệt độ lên cao, có khi lên đến 41,3
o
C, độ ẩm xuống thấp, gây khô nóng.
- Thủy văn: Khu BTTN Pù Hoạt thuộc là vùng đầu nguồn của hai hệ
sông:
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 23
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
+ Sông Chu ở phía Bắc bắt nguồn từ phía Tây Pù Hoạt (Lào) với tên là
Theo số liệu của Chi cục Thống kê huyện Quế Phong và các xã trong
khu vực Khu BTTN Pù Hoạt tính đến tháng 6 năm 2013, tình hình dân số, dân
tộc và lao động như sau:
- Dân số: Tổng dân số 09 xã, trong khu vực Khu BTTN Pù Hoạt là 2.993
hộ với 10.924 nhân khẩu.
- Dân tộc: Trên địa bàn có 2 dân tộc sinh sống, gồm:
+ Dân tộc Kinh với 10.498 người, chiếm tới 96,1% dân số. Nhóm đồng
bào Kinh, Thái,
Đoàn Điều tra Quy hoạch Lâm nghiệp - Số 08, Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Vinh, Nghệ An - 24
Báo cáo đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái Khu BTTN Pù Hoạt – Tỉnh Nghệ An
+ Dân tộc Mông với 426 người chiếm 3,9% dân số. Nhóm đồng bào
Mông, Đan Lai, Rục, Sách sinh sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng cao xa, nơi
gần rừng, có nguồn nước, nhưng đường giao thông đi lại khó khăn. Kinh tế
nương rẫy là nguồn sống chính, ngoài ra còn kết hợp chăn nuôi và thu lượm sản
phẩm sẵn có trong rừng.
- Lao động: Tổng số 6.818 lao động trong độ tuổi, 80% lao động thuần
nông, còn lại là CBCNV chức và lao động dịch vụ buôn bán khác
2.2.2. Các hoạt động kinh tế
Sản xuất nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp đang giữ vai trò chủ đạo
trong các hoạt động kinh tế chính của khu vực, trong sản xuất nông nghiệp thì
lương thực là chủ yếu và là nguồn sống chính của đồng bào.
- Trồng trọt: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là ha, chiếm 3,2% tổng
diện tích tự nhiên. Bình quân diện tích đất nông nghiệp 0,13 ha/người là quá
thấp, cây trồng trên đất nông nghiệp chủ yếu là cây lương thực (lúa, ngô, khoai,
sắn), ngoài ra còn có cây nông nghiệp ngắn ngày (lạc, mía) và các loài cây ăn
quả (mận, mơ, nhãn, cam, bưởi, chuối ).
- Chăn nuôi: Toàn khu vực có 55.330 con Trâu, 77.738 con Bò, 109.257
con Lợn và 700.613 con gia cầm tính bình quân mỗi hộ có từ 1-2 con Trâu, Bò
hoặc Ngựa, 2 con Lợn và từ 10-12 con gia cầm. Hình thức chăn nuôi chủ yếu là
thả rông, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nhất