Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
CHƯƠNG 1:
MỞ ĐẦU
1.1ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ngày nay, khi ống khói của các nhà máy, xí nghiệp càng vươn cao, sự gia
tăng dân số, đô thò hóa, khói bụi giao thông, rác thải, ô nhiễm môi trường…đang
trở thành vấn nạn thì nhu cầu tìm về với tự nhiên của con người là một trào lưu tất
yếu. Trong những năm gần đây, các khu bảo tồn thiên nhiên bò sức ép bởi lượng
khách tham quan quá lớn, rác thải từ các hoạt động du lòch, ý thức người dân chưa
được nâng cao, hệ sinh thái bò đe dọa. DLST trở thành mối quan tâm xuất phát và
nảy sinh từ các trăn trở về môi trường, kinh tế xã hội. Các nhà bảo tồn đang bỏ
công sức đáng kể để biến DLST thành một tác nhân đắc lực cho bảo tồn thiên
nhiên. Tiếp cận với trào lưu mới này, VQG LGXM đẩy mạnh việc phát triển
DLST.
DLST nói chung và DLST trong hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên nói
riêng là loại hình du lòch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý kinh doanh
không chỉ đối với Việt Nam mà cho tất cả các nước khác trong giai đoạn mở cửa
và hội nhập. Với lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực, tiềm năng phong phú và
đa dạng của các hệ sinh thái, nên ngay từ thời gian đầu của quá trình đổi mới đất
nước, việc phát triển DLST ở Việt Nam đã được coi trọng: 107 khu rừng đặc dụng
với tổng diện tích 2.381.791 ha, trong đó có 25 Vườn quốc gia, 48 Khu bảo tồn
thiên nhiên và 34 Khu rừng văn hóa, lòch sử làm cơ sở vững chắc cho sự phát
triển du lòch sinh thái. Sự đònh hình và khởi sắc của DLST ở các đòa phương trong
thời gian qua là cơ sở và nền tảng để ngành Du lòch Việt Nam hoạch đònh chiến
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 1
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
lược phát triển du lòch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên một cách ổn đònh
và bền vững.
Hiện nay, hầu như trong tất cả các VQG đã thành lập Văn phòng du lòch
1.2NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Tập trung chủ yếu vào tài nguyên ĐDSH, các giá trò văn hóa lòch sử tại
VQG LGXM
1.2.2 Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá tiềm năng nguồn tài nguyên ĐDSH,
các giá trò văn hóa lòch sử của VQG LGXM. Thu thập luận cứ khoa học cho
chương trình DLST cùng với những nguồn tài liệu làm cơ sở cho việc xây dựng bộ
thuyết minh về Chương trình DLST. Phát thảo bản đồ Quy hoạch tổng thể giới
thiệu về tiềm năng DLST
1.3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.2.1. Phương pháp nghiên cứu điển hình (phương pháp thu thập và tổng hợp
tài liệu, phương pháp khảo sát thực tế):
Thu thập tài liệu, nghiên cứu trong thư viện và văn phòng. Tổng quan các
nguồn số liệu hiện có, các công trình có liên quan đã công bố hoặc chưa. Thu
thập bản đồ nền, thừa kế các nguồn số liệu đã phân tích, nguồn số liệu thông tin
đòa lý và ứng dụng trong đòa bàn nghiên cứu.
Nghiên cứu chi tiết các đề án Du lòch sinh thái đã có trong đòa phương
hoặc gần giống như vậy tại vùng lân cận để làm cơ sở khoa học cho việc đònh
hướng phát triển và quy hoạch vùng dự án.
1.2.2. Phương pháp đánh giá du lòch bền vững:
Du lòch bền vững là khả năng đáp ứng nhu cầu du lòch mà không làm tổn
hại đến khả năng của các thế hệ tương lai.
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 3
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
8 chỉ tiêu đánh giá cho sự phát triển bền vững:
• Sự toàn vẹn sinh thái;
• Tính cộng đồng;
• Tính hiệu quả;
Theo đònh nghóa của I.I.Pirojnik (1985):
“Du lòch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rãnh rỗi, liên
quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm
mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ
nhận thức - văn hóa hay thể thao, kèm theo việc tiêu thụ các giá trò về tự nhiên,
kinh tế và văn hóa.”
Theo Pháp lệnh du lòch tháng 2/1999:
“Du lòch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng
thời gian nhất đònh.”
2.1.2. Du lòch sinh thái
Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đònh nghóa:
“Du lòch sinh thái là loại hình du lòch và tham quan có trách nhiệm với môi
trường tại những vùng còn tng đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên
nhiên, có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích
cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của nhân dân đòa phương.”
Theo quan điểm về DLST của ngành du lòch Việt Nam:
“Du lòch sinh thái là một loại hình du lòch dựa vào thiên nhiên và văn hoá
bản đòa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát
triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng đòa phương.”
DLST tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc chính sau đây:
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 5
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
• Giảm thiểu những tác động
• Tôn trọng những hiểu biết về môi trường và văn hóa
• Cung cấp đầy đủ kinh nghiệm tích cực cho cả khách và chủ nhà.
• Cung cấp trực tiếp tài chính và lợi nhuận cho việc bảo tồn.
• Cung cấp tài chính, lợi nhuận và trao quyền quyết đònh cho người dân đòa
phương
cho nhu cầu giải trí du lòch của du khách.
2.1.4. Lợi ích do hoạt động du lòch mang lại
Du lòch có 4 chức năng chính là: xã hội, kinh tế, sinh thái và chính trò. Từ 4
chức năng này ta có thể phân tích ra các lợi ích do các hoạt động du lòch mang lại
như sau:
2.1.4.1. Lợi ích về mặt xã hội:
Du lòch thể hiện vai trò của nó trong việc gìn giữ, hồi phục sức khỏe, tăng
cường sức sống cho người dân. Du lòch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài
tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Theo các công trình nghiên cứu sinh
học của Cricosep, Dorin, 1981, nhờ có chế độ nghỉ ngơi và du lòch tối ưu, bệnh tật
của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh
giảm 30%, bệnh đường tiêu hóa giảm 20%.
Thông qua du lòch mà du khách có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu
văn hóa phong phú và lâu dài của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước,
tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn, Điều đó quyết đònh sự phát triển
cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội.
2.1.4.2. Lợi ích về mặt kinh tế:
Thông qua các hoạt động du lòch được tổ chức hợp lý và tích cực những
người trong độ tuổi lao động nhanh chóng phục hồi sức khỏe cũng như khả năng
lao động để từ đó có thể nâng cao sản xuất, đảm bảo tái sản xuất, mở rộng lực
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 7
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt. Thông qua các hoạt động nghỉ ngơi, du
lòch tỉ lệ ốm đau trong khi làm việc giảm đi, giảm số lần khám bệnh tại các bệnh
viện.
Do du lòch là một ngành kinh tế độc đáo ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và
cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế. Trong đó nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của
du khách được thỏa mãn thông qua thò trường hàng hóa và du lòch trong đó ưu thế
mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lòch, tạo nên sự hiểu
biết và tình hữu nghò giữa các dân tộc.
2.2 PHÂN TÍCH BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN CỦA DLST
2.2.1. Tình hình phát triển DLST trên thế giới
Từ nửa cuối thế kỷ 19, cùng với sự ra đời của các VQG, du lòch thiên nhiên
đã thu hút du khách một cách đặc biệt. VQG Yellowstone (Mỹ) là một VQG đầu
tiên của thế giới được thành lập vào năm 1893. Ngay từ khi mới ra đời VQG này
đã được coi như là một biểu tượng tuyệt đối của tính hoang dã và hàng năm có
đến 3 triệu người đến đây để chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên. Như vậy từ rất sớm,
hàng thế kỷ trước những nhà du lòch sinh thái đầu tiên đã bắt đầu hình thành.
Tuy nhiên thuật ngữ “Du lòch sinh thái” mới chỉ được sử dụng và đề cập
đến trong thế kỷ 20 khoảng những năm đầu của thập kỷ 90. Về nguồn gốc, DLST
bắt nguồn từ du lòch thiên nhiên và du lòch ngoài trời. Ban đầu các hình thức du
lòch này không gắn liền với mục tiêu bảo tồn.
Cho đến thập niên 70 thì ngày càng nhiều các du khách tham quan nhận
thức được hậu quả sinh thái mà họ có thể gây ra và làm tổn thương sâu sắc đến
thiên nhiên cũng như quyền lợi lâu dài của người dân đòa phương. Do đó, đã hình
thành nên các tour du lòch chuyên môn hóa mà nội dung chỉ đơn giản là ngắm
chim, cưỡi lạc đà trên sa mạc, đi bộ ngoài thiên nhiên cùng với người hướng dẫn
đòa phương. Đến lúc này có thể nói là ngành DLST đã hình thành và phát triển.
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 9
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
Ngay từ khi mới ra đời, DLST đã và đang làm cho cả ngành công nghiệp lữ
hành trở nên nhạy cảm hơn đối với môi trường. Vì DLST không chỉ là một
khuynh hướng bao gồm những người yêu và gắn bó với thiên nhiên, mà còn là
một tổ hợp các mối quan tâm, những trăn trở về môi trường, kinh tế, và các vấn
đề xã hội. Nhiều hội thảo và hội nghò chuyên đề về DLST đã được tổ chức từ
năm 1990. Chính phủ giờ đây rất quan tâm đến DLST. Tại nhiều nơi trên thế giới
các nhà đầu tư tư nhân cũng đang chuyển mối quan tâm của mình tới lónh vực
GVHD: Vũ Ngọc Long
2.2.2. Tình hình phát triển DLST trong nước
Với tiềm năng và tài nguyên du lòch lớn, đa dạng và phong phú, ngành Du
lòch Việt Nam đã có những bước đi tương đối vững chắc, tạo ra bước phát triển
mới. Từ một ngành kinh tế tổng hợp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế -
xã hội, đến nay DLST đã được xác đònh là một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. Những thành quả trong ngành Du lòch
Việt Nam đạt được những năm qua do nhiều nguyên nhân mang lại, nhưng trong
đó nguyên nhân có ý nghóa quan trọng, không thể không nói đến: đó là sự ổn đònh
về chính trò của đất nước, sự nghiệp quốc phòng - an ninh được giữ vững. Chính
điều đó đã tạo ra một điểm đến an toàn, thân thiện, thu hút du khách đến với Việt
nam. Đồng thời, khẳng đònh trên thực tế giữa quốc phòng - an ninh và du lòch đã
từng bước có sự gắn bó cần thiết.
Trong quá trình triển khai, thực hiện các kế hoạch về phát triển du lòch,
Việt Nam đã khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên du lòch, môi trường sinh thái
một cách có hiệu quả. Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các loại
hình DLST ở các khu vực trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng
kháng chiến cũ hoặc một số hải đảo xa bờ… nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân,
tăng thu nhập cho xã hội, tạo công ăn việc làm, nâng cao ý thức bảo vệ, gìn giữ
và khai thác hợp lý tài nguyên du lòch của đất nước. Với những nỗ lực bảo vệ môi
trường và gìn giữ giá trò của nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, Việt Nam đã
hình thành mạng lưới các chương trình DLST trong tất cả các VQG, khu dự trữ
sinh quyển và các khu vực bảo tồn thiên nhiên.
Trong những năm qua, hoạt động Du lòch Việt Nam đã có nhiều khởi sắc
và đạt được những tiến bộ vững chắc: từ năm 1991 đến 2001, lượng khách du lòch
quốc tế tăng từ 300 ngàn lượt người lên 2,33 triệu lượt người, tăng 7,8 lần. Khách
du lòch nội đòa tăng từ hơn 1,5 triệu lên 11,7 triệu lượt người, tăng gần 8 lần. Thu
nhập xã hội từ du lòch tăng nhanh, năm 2001 đạt 20.500 tỷ đồng, so với năm 1991,
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 12
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
(Đảo Cát Bà, Đảo Phú Quốc, Cù Lao Chàm); Du lòch dài ngày trên sông (Đồng
bằng Sông Cửu Long); Du lòch hồ nước nội đòa (Hồ Ba Bể, Hồ Núi Cốc ); Du lòch
núi đá vôi và hang động (Chùa Hương, Chùa Thầy, Phong Nha); Du lòch theo
tuyến đường bộ (Đường mòn Hồ Chí Minh); Du lòch núi (Sa Pa. Bạch Mã, Ba vì);
Du lòch văn hóa lòch sử của 40.000 di tích lòch sử (Cố Đô Huế, Phố cổ Hội An,
Thánh đòa Mỹ Sơn); Du lòch giải trí tiêu khiển trong các trung tâm của thành phố
(vườn thú Tp HCM, vùng bưởi Biên hòa,) và Du lòch thể thao (lướt ván thuyền
trên biển Mũi Né Phan Thiết, Nha Trang ); Đặc biệt là du lòch trong rừng tại
LGXM tỉnh Tây Ninh.
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 14
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
CHƯƠNG 3:
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1. Vò trí đòa lý:
Tây Ninh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ, phía Đông giáp các tỉnh Bình
Phước và Bình Dương, với đường ranh giới 123km, phía Nam giáp tỉnh Long An
và TP. HCM với đường ranh giới 36km, phía Bắc và Tây giáp Campuchia với
đường biên giới 240km, có cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và cửa khẩu quốc gia là
Xa Mát và một số cửa khẩu đòa phương.
Diện tích hành chính của tỉnh Tây Ninh là 4.029,6 km
2
, có 08 huyện và 1
thò xã Tây Ninh, với 95 xã, phường thò trấn.
3.1.2. Điều kiện khí hậu:
Tây Ninh nằm trong khoảng 10
0
57’08” – 11
nhiệt độ có ngày xuống dưới 15
0
C. Nhìn chung chế độ nhiệt quanh năm cao, ổn
đònh, ít biến động từ tháng này qua tháng khác, thường chỉ lên xuống từ 0,5 -
1,0
0
C
Tây Ninh chủ yếu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ cuối tháng 4 đến đầu
tháng 11và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình năm 1.600 -
1.900 mm, tỉ trọng lượng mưa trong mùa mưa so với lượng mưa năm rất lớn từ 90
- 96%. Độ ẩm không khí trung bình cả năm 78%, mùa khô 70 - 73% và mùa mưa
80 - 86%. Số giờ nắng trung bình là 6 giờ/ngày trở lên, trung bình cao nhất là 9
giờ/ngày, cực đại có thể đạt 12 giờ/ngày.
3.1.3. Thủy văn:
Tây Ninh có hệ thống sông suối tương đối đồng đều nhưng mật độ thưa
0,314 km/km
2
, có 2 con sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ
Đông.
Sông Sài gòn bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc tỉnh
Bình Phước chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam ở thượng lưu và trung lưu, hạ
lưu chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đến Tân Thuận hợp với sông Đồng
Nai thành sông Nhà Bè rồi đổ ra biển. Sông Sài Gòn dài 280 km, chảy trên lãnh
thổ Tây Ninh 135 km, lưu vực 4.500 km
2
, lưu lượng nước trung bình là 85 m
3
/s, độ
dốc của sông 0,69%.
Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ tỉnh Compongcham (Campuchia) chảy
cao 986m. Có tác động
chắn gió, ảnh hưởng ít nhiều đến phân bố mưa và dòng chảy.
• Dạng đồi: Phổ biến ở thượng nguồn sông Sài Gòn, dọc ranh giới tỉnh Bình
Phước với độ cao 50-80m.
• Dạng đồi dốc thoải: Phổ biến ở phía Nam huyện Tân Biên với độ cao 10-
20m và một số nơi ở các huyện Dương Minh Châu, Hoà Thành, Trảng
Bàng, Bến Cầu, Gò Dầu.
• Dạng đồng bằng: Phổ biến dọc ở hai bờ sông Vàm Cỏ Đông thuộc các
huyện Hoà Thành, Trảng Bàng, Bến Cầu, Châu Thành.
3.1.5. Thổ nhưỡng:
Tây Ninh có các nhóm đất chính như sau:
• Đất xám trên phù sa cổ 347.569 ha chiếm 86,3% diện tích đất tự nhiên,
phân bố ở đòa hình cao phổ biến ở các huyện Tân Biên, Tân Châu, Châu
Thành và đòa hình thấp ở phía Nam huyện Dương Minh Châu, phía Tây và
Bắc thò xã Tây Ninh.
• Đất phèn 25.359 ha chiếm 6,3% diện tích đất tự nhiên, phổ biến ở ven
Sông Vàm Cỏ Đông và những nơi trũng
• Đất đỏ vàng 6.850 ha chiếm 1,7% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở phía
Bắc Tân Châu, Tân Biên, chân núi Bà Đen.
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 18
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
• Đất phù sa 1.775 ha chiếm 0,40% diện tích đất tự nhiên, phân bố ven sông,
rạch, suối.
• Đất than bùn khoảng 1.072 ha chiếm 0,30% diện tích đất tự nhiên, tập
trung ở hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông thuộc các huyện Châu Thành, Hoà
Thành và Bến Cầu.
3.1.6. Tài nguyên khoáng sản:
Khoáng sản Tây Ninh thuộc nhóm phi kim loại như:
• Đá vôi tập trung ở Sroc Con Trăn, suối Ben xã Tân Hòa huyện Tân Châu,
Công nghiệp xây dựng: 25,4% tăng 4,5% so với năm 2002
Dòch vụ: 32,2% tăng 0,1% so với năm 2002
Kim ngạch xuất khẩu đạt 135,7 triệu USD, đạt 144,3%
Nông - Lâm - Ngư nghiệp
Trong năm 2003, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp khu vực tỉnh Tây Ninh
tiếp tục phát triển với tổng giá trò sản xuất đạt 4.152 tỷ đồng và tăng 11,04% so
với năm trước. Diện tích một số cây trồng chủ yếu tăng so với năm 2002 như lúa
tăng 0,96% mì tăng 10,91%, ngô 14,53%
Chăn nuôi: Tổng số các loại vật nuôi như trâu, bò, heo, gia cầm#tăng từ
1% đến 7% và chăn nuôi bò sữa với quy mô trang trại, nuôi trồng thủy sản đang
có xu hướng phát triển
Lâm nghiệp: công tác bảo vệ và chăm sóc rừng được tiến hành theo kế
hoạch, đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng và các ngành do đó các vụ
vi phạm rừng đã giảm hơn so với năm trước. Trồng rừng tập trung thực hiện 17,08
tỷ đồng và tăng 5,03% so với năm trước.
Công nghiệp:
Trong những năm qua, nền công nghiệp tỉnh Tây Ninh có những bước phát
triển rõ rệt nhưng so với một số tỉnh lân cận thì tốc độ này còn chậm. Trong
những tháng cuối năm, các nhà máy đường hoạt động sớm hơn so với mọi năm
nên góp phần gia tăng giá trò sản xuất công nghiệp 31,73% so với năm trước.
3.2.1.2. Thương mại - Dòch vụ
Ngành thương mại - dòch vụ của tỉnh tây Ninh vẫn đang ở mức độ dòch vụ
bán lẻ do các thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tư nhân nắm phần lớn
lượng hàng hóa lưu thông. Các mặt hàng buôn bán bán lẻ chủ yếu phục vụ cho
nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của nhân dân và sản xuất nông nghiệp chủ yếu.
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 20
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
3.2.1.3. Cơ sở hạ tầng
Giao thông
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
sân bay cấp 4 - 5, đường băng dài 600 - 1000m, rộng 25 - 30m để đón nhận các
lạoi máy bay 40 - 70 chỗ ngồi cũng như xây dựng bãi đáp trực thăng trên đỉnh núi
Bà Đen phục vụ du lòch và mở tuyến đường sắt xuyên Á song song với đường bộ
xuyên Á qua Campuchia, nối tuyến đường sắt Bắc Nam của Việt Nam.
3.2.1.4. Thông tin liên lạc:
Những năm qua hệ thống thông tin liên lạc phát triển rất nhanh. Mật độ
máy điện thoại khoảng 2,5 máy/100 dân. Bán kính phục vụ một bưu cục 5,17km.
Hiện có dòch vụ nối mạng internet gián tiếp, Tây Ninh có thể liên lạc với các nơi
trong nước và các quốc gia trên thế giới.
3.2.1.5. Cấp điện:
Điện lưới cung cấp cho Tây Ninh bằng mạch liên kết 110KV Trò An -
Đông Xoài - Thác Mơ - Lộc Ninh - Tây Ninh - Trảng Bàng - Củ Chi - Hóc Môn
tạo thành mạch 110KV khép kín.
Khu vực Tây Ninh được cấp điện trực tiếp từ 2 nguồn: thủy điện Thác Mơ
và thủy điện Trò An. Hiện 100% xã trong tỉnh đã có điện, 79% hộ dân sử dụng
điện. Sản lượng điện bình quân trên đầu người 175KWh/người/năm. Số hộ nông
thôn có điện 60%. Công suất trạm Trảng Bàng được nâng lên để bán điện sang
tỉnh Svay-ri-eng của Campuchia.
3.2.1.6. Cấp nước:
Hệ thống cung cấp nước sạch tập trung ở Thò xã Tây Ninh và trung tâm
huyện Hoà Thành sử dụng từ hai nguồn nước chính:
Nước ngầm: hiện khai thác 10 giếng khoan đường kính 200-400mm, sâu
60-72m, công suất 2.400 m
3
/ngày.
Nước mặt: nhà máy Kênh Tây công suất 7.000 m
3
/ngày.
3.2.2.4. Văn hoá - thông tin:
Hoạt động văn hoá, thể dục - thể thao phong phú về nội dung, hình thức
và phát triển theo hướng xã hội hoá. Các cơ quan văn hoá - nghệ thuật, thông tin
đại chúng được đầu tư khá nhiều trang thiết bò mới; cơ bản đã phủ sóng phát
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 23
Đánh giá tiềm năng DLST VQG LGXM
GVHD: Vũ Ngọc Long
thanh, truyền hình toàn tỉnh. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá” được triển khai sâu rộng; đến nay đã có 55,5% ấp ( khu phố) đạt chuẩn
văn hoá, 81% xã (phường, thò trấn) có nhà văn hoá; 88% số hộ gia đình đạt đạt
chuẩn văn hoá, vượt chỉ tiêu Nghò quyết. Công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích văn
hoá - lòch sử; sưu tập và phát huy nền văn hoá của các dân tộc thiểu số được quan
tâm.
3.2.2.5. Dân tộc và tôn giáo:
Các ngành chức năng thường xuyên phối hợp tham mưu cho chính quyền
xem xét, giải quyết các yêu cầu chính đáng của các tôn giáo; giúp đỡ và tạo điều
kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà
nước.
Dân số
Tỉnh Tây Ninh hiện có 17 Dân tộc anh em và một bộ phận người nước
ngoài. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 98,59% tổng dân số và một số dân tộc
chiếm tỷ lệ thấp như: Khơme, Chăm, Tà Mun, Hoa, … một số dân tộc như Khơme,
Chăm, Tà Mun hầu hết tập trung ở các huyện thuộc tuyến biên giới như Châu
Thành, Tân Châu, Tân Biên. Tỷ lệ một số dân tộc chính ở Tây Ninh được thể
hiện bảng sau
Bảng 1: Bảng tỷ lệ một số dân tộc chính ở Tây Ninh
STT Tên dân tộc Tổng số người Tỷ lệ %
1 Kinh 951.601 98,59
2 Khơme 5.504 0,57
3 Hoa 3.309 0,34
thánh Cao Đài Tây Ninh, Hồ nước Dầu Tiếng, Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát,
đặc biệt là các khu di tích lòch sử Cách mạng như: Căn cứ Trung ương Cục miền
Nam, Căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Căn
cứ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam,
Tây Ninh là một trong những điểm thu hút khách du lòch đông đảo hàng
đầu trong nước. Nếu như năm 2005, toàn ngành du lòch đón tiếp 16 triệu lượt
khách du lòch nội đòa và 3,6 triệu lượt khách quốc tế, trong số ấy đã có 1,8 triệu
lượt người đến Tây Ninh. Nếu như doanh thu của du lòch Tây Ninh năm 2004 đạt
SVTH: Nguyễn Thò Lan Tú 25