khai thác tiềm năng du lịch sinh thái trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hoà bình - Pdf 14

Lời cảm ơn
Sau một thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp
này ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học nông nghiệp
Hà Nội, cùng với sự động viên, khích lệ của toàn thể gia đình và bạn bè trong suốt quá
trình tôi học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy, cô giáo
trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội đã
trang bị cho tôi những kiến thức cũng như những điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
tốt nghiệp này. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Nguyễn Tuấn
Sơn đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện
luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn chú Hoàng Văn Tứ - Bí thư huyện uỷ Cao Phong tỉnh
Hoà Bình, cùng toàn thể các cô các chú trong huyện uỷ đã tạo nơi ăn chốn ở cho tôi. Tạo
điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình đi thực tế để nghiên cứu và
thực hiện luận văn tốt nghiệp này tại tỉnh Hoà Bình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban ngành và ban quản lý các khu du lịch
sinh thái trên địa bàn tỉnh Hoà Bình, cùng các du khách đã nhiệt tình hợp tác cùng tôi
nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng tới gia đình, bạn bè và người thân
đã hết lòng tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ và luôn ở vên tôi trong suốt quá trình học
tập và rèn luyện.
Do trình độ, thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô và độc giả để đề tài
được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa trong thực tiễn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn Sao Dần
1
Lời cam đoan

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch đang phát triển nhanh chóng và trở thành một ngành công nghiệp không
khói có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Với xu hướng mới trong tiêu dùng của
con người trong thời đại công nghiệp hiện nay, du lịch không những chỉ mang lại lợi
nhuận kinh tế đến cho những vùng, những quốc gia có phong cảnh núi non hùng vĩ,
những bờ biển thơ mộng mà còn mang lại lợi nhuận kinh tế về nhiều mặt đến cho cả
những vùng quê xa xôi hẻo lánh.
Từ xa xưa ngành du lịch Việt Nam đã hình thành, khi mà các thương nhân
người Trung Hoa hay Nhật Bản cập bờ biển Hội An hay các vùng biển khác, chính họ
đã góp phần hình thành nên các vùng đất du lịch, mà đến ngày nay cũng còn có giá trị,
đó là Hội An hay Hà Nội.
Du lịch hiện nay đã thực sự là sứ giả của hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các
dân tộc. Tại nhiều nước trên thế giới, du lịch đang được xem là một trong những ngành
kinh tế hàng đầu, ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển với tốc độ cao, bởi những lợi ích
to lớn về kinh tế - xã hội mà bản thân ngành du lịch đem lại. Du lịch đang khẳng định
vai trò quan trọng của mình bởi tỷ trọng GDP ngành du lịch trong tổng GDP của nền
kinh tế quốc dân đang tăng dần, nguồn thu ngoại tệ cho đất nước tăng, tạo ra khối
lượng việc làm cho đông đảo quần chúng nhân dân đồng thời là động lực phát triển cho
nhiều ngành kinh tế khác phát triển theo, điều này càng thể hiện rõ hơn trước xu thế
toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Từ cuối thế kỷ XX và 2 năm đầu thế kỷ XXI, du lịch sinh thái được đề cập đến
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dù có những ý kiến chưa thống
nhất về thuật ngữ song mẫu số chung của hoạt động du lịch sinh thái được tìm thấy là
hướng tới tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hoá và lịch sử trong hệ sinh thái thống
nhất của vùng, để thực hiện hoạt động du lịch có trách nhiệm của con người thưởng
ngoạn và bảo vệ tài nguyên và mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư.
4
Hoà Bình - một tỉnh miền núi cửa ngõ phía Tây bắc Thủ Đô, cách Hà Nội khoảng
hơn 70km theo phía Tây dọc đường số 6, là một vùng đất cổ giàu tiềm năng du lịch đặc
biệt là du lịch sinh thái. Nghị quyết Đại Hội XIII Đảng bộ tỉnh Hoà Bình đã nêu rõ sức

1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1. Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác tiềm năng du
lịch sinh thái để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay.
2. Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái của tỉnh Hoà Bình.
3. Đánh giá thực trạng khai thác tiềm năng du lịch sinh thái trong phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Hoà Bình thời gian qua.
4. Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch sinh thái
của tỉnh Hoà Bình trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ngành du lịch sinh thái, các đơn vị ban ngành liên quan đến du lịch sinh thái
trên địa bàn tỉnh Hoà Bình. Một số địa điểm du lịch sinh thái được chọn nghiên cứu
trên địa bàn tỉnh Hoà Bình.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng khai thác tiềm năng du lịch sinh thái trong phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2005 - 2007. Từ đó đánh giá, dự báo khả năng
phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2008 - 2010.
1.3.2.2. Phạm vi về không gian.
Luận văn được thực hiện tại tỉnh Hoà Bình.
1.3.2.3. Phạm vi thời gian.
Luận văn tiến hành từ tháng 1/2008 đến tháng 5/2008.
Số liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2005 -2007.
PHẦN II
6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Du lịch

“ DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và
môi trường, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có
các đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn” (Phạm Trung Lương và Nguyễn Tài Cung 1998 -
Viện nghiên cứu và phát triển du lịch).
Tại hội thảo khoa học “Phát triển DLST trong khu dự trữ sinh quyển: Cơ hội và
thách thức”, ông Nguyễn Văn Hùng – Giám đốc công ty du DLST Cần Giờ đưa ra khái
niệm về DLST: “DLST là hoạt động du lịch có trách nhiệm đối với môi trường tự
nhiên, văn hoá xã hội, qua đó du khách được nâng cao nhận thức về môi trường và một
phần lợi nhuận của hoạt động du lịch được tái đầu tư trực tiếp và việc bảo vệ và cải
thiện đối tượng du lịch, cũng như nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương thông
qua sự tham gia có tổ chức của họ vào hoạt động du lịch và bảo vệ đối tượng du lịch”.
Ông còn diễn giải thêm: Quan điểm này không chỉ áp dụng cho các công trình du lịch
dựa vào thiên nhiên như thăm rừng, thăm các cảnh quan đẹp…mà còn áp dụng cho các
chương trình mà đối tượng du lịch là các cộng đồng làng, lễ hội truyền thống và di tích
văn hoá lịch sử.
Theo Bách khoa toàn thư: DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn
hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển
bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
DLST là loại hình khai thác tìm hiểu đa hệ sinh thái tự nhiên gồm: Đa hệ sinh
thái động vật, thực vật, hệ sinh thái nhân văn của núi, của rừng, của hồ…
8
Theo luật du lịch Việt Nam 2005: DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên
nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng địa phương
nhằm phát triển bền vững [1].
Tuy nhiên gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản của DLST là tập trung
mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường. Quan điểm thụ động cho rằng:
DLST là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra. Quan điểm
chủ động lại cho rằng: DLST còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường,
lãnh thổ du lịch.
Qua đó có thể thấy, DLST là một lĩnh vực mới mẻ nhưng không xa lạ ở Việt

được những “điểm nhấn” độc đáo cho mình để thu hút du khách đến tham gia.
c) Mô hình du lịch sinh thái có thể thay đổi theo thời gian, không gian cho phù
hợp với tình hình
Chúng ta sống trong một thế giới luôn luôn vận động và thay đổi, để phù hợp
với tình hình thực tế thì DLST nói riêng và các loại hình du lịch khác nói chung cũng
phải thay đổi theo thời gian và không gian. Sự thu hẹp diện tích ở chỗ này, mở rộng
diện tích ở chỗ kia là một điều tất yếu phải xảy ra.
Tuy nhiên những thay đổi này cũng phải đảm bảo nguyên tắc toàn vẹn của môi
trường và đem lại lợi ích cho con người, cho cộng đồng xã hội nhất là người bản địa.
d) Chịu ảnh hưởng về chính sách, hoạt động của các ngành khác
Bất kỳ một quốc gia lãnh thổ nào có tiềm năng về một lĩnh vực nào đó mà chính
sách của quốc gia lãnh thổ đó không phù hợp thì cũng không khai thác triệt để được
tiềm năng quý báu này. DLST cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Đối với mỗi khu DLST nói riêng và ngành DLST nói chung đều bị chi phối, ảnh
hưởng của chính sách.
Một khu rừng nguyên sinh không thể tồn tại trong điều kiện chính sách lỏng lẻo
để tình trạng khai thác rừng bừa bãi. Những cây cổ thụ bị chặt lấy gỗ, thú rừng bị săn
bắn cho vào các nhà hàng đặc sản, phá hại tràn lan không có sự kiểm soát. Một điệu
xoè trước sự thờ ơ lạnh nhạt của người dân, không truyền lại cho con cho cháu, và một
khu DLST có tài nguyên phong phú chẳng có tác dụng gì khi mà không ai biết đến và
cũng không được bảo vệ đúng cách.
e) Dễ phát sinh dị bản
10
“Hàng nhái, hàng dởm” luôn là điều làm đau đầu và cũng là nguy cơ đe doạ sự
hưng thịnh của tất cả các ngành kinh tế nói chung và DLST nói riêng.
Một khu rừng trồng mới được vài năm tuổi, một thác nước nhân tạo từ một bể
nước lớn trên cao, một vài thú rừng nhốt trong lồng cũng học đòi làm DLST.
Để làm được DLST phải là nơi có tài nguyên thiên nhiên dồi dào mà cụ thể là các hệ
sinh thái được làm giàu từ rất nhiều các loại động thực vật khác nhau. yếu tố cây cối, nguồn
nước, bầu khí quyển, đất đai cũng được kể đến, môi trường tự nhiên phải là những nơi còn

Đổi mới ở đây không phải là làm biến dạng các tài nguyên DLST mà là đổi mới
các dịch vụ, cung cách quản lý, cách thức vận chuyển…trên nguyên tắc giữ gìn toàn
vẹn môi trường và đem lại lợi ích cho con người, cho cộng đồng, cho xã hội. Đổi mới
để có khả năng hấp dẫn số lượng khách du lịch ngày càng tăng và thường xuyên đáp
ứng cho du khách những kinh nghiệm lý thú.
f) Xây dựng hình ảnh đẹp trong lòng du khách
Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực đến
thăm, bảo đảm tính giáo dục cao. Phong cách phục vụ tận tình để du khách thực sự là
“thượng đế”.
g) Phát huy nội lực
Nội lực là sức mạnh bản thân vốn có, khi phát huy được sức mạnh nội lực sẽ tạo
ra được một nền tảng vững chắc. Không chỉ trông chờ vào bên ngoài mà phải tự mình
vươn lên, và khi đó các tác động, nguồn lực từ bên ngoài sẽ là nguồn động lực để phát
triển một cách bền vững.
h) Phải có tính liên kết
Liên kết với các ngành kinh tế khác, các lĩnh vực xã hội khác là một nguyên tắc cần
thiết tạo đà tăng trưởng và bền vững cho DLST nói riêng và các ngành khác nói chung.
2.1.4 Ý nghĩa của du lịch sinh thái
Có nhiều lý do để du khách đến với các khu DLST: Những nhà khoa học, sinh
viên, học sinh đến để nghiên cứu, tìm hiểu về hệ sinh thái môi trường, di tích lịch sử,
văn hoá xã hội; có những người đến để thoả mãn trí tò mò - tận mắt thấy chim, thú
12
đang sinh sống trong điều kiện hoang dã nhưng cũng có khi du khách tìm đến đây để
ngắm cảnh hay gọi là “đổi gió”.
Ý nghĩa phải kể đến của du lịch sinh thái là:
a) Góp phần bảo tồn di sản, bảo vệ tài nguyên môi trường và bản sắc văn hoá
dân tộc
DLST là một hình thức du lịch có trách nhiệm, thân thiện với môi thường với tự
nhiên. Tất cả các cơ quan tổ chức du lịch, người dân địa phương và cả khách du lịch
đều phải ý thức được điều này.

b) Giảm nghèo thông qua phát triển sinh kế nông thôn, phát triển ngành nghề
Các khu vực có tiềm năng DLST chủ yếu nằm ở những vùng sâu vùng xa, giao
thông gặp nhiều khó khăn. Khai thác đúng DLST cũng là nhân tố giúp phát triển ngành
nông nghiệp sinh thái, giảm nghèo nông thôn và phát triển các ngành nghề.
Khu DLST được thành lập việc thu hồi đất đai, đồng cỏ, nguồn nước, làm cho
người dân mất đất mất ruộng là chuyện không thể tránh khỏi.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân
nhất là đối với trồng trọt và chăn nuôi. Nhưng đổi lại, DLST lại là cơ hội phát triển
kinh tế địa phương.
Khi DLST phát triển, người dân địa phương hơn ai hết, họ là những người am
hiểu địa hình, am hiểu văn hoá bản địa. Họ được nhận vào làm tại các cơ sở kinh doanh
du lịch, tham gia phục vụ du lịch tại địa phương và họ cũng chính là nguồn tài nguyên
nhân văn của các khu DLST. Hay nói cách khác DLST tạo việc làm cho lao động sở
tại, giảm thiểu dòng lao động di chuyển ra thành phố và các nơi khác.
Các ngành nghề mới như dịch vụ lưu trú, ăn uống, hướng dẫn viên du lịch, vận
chuyển…được đưa vào khai thác và sử dụng tạo ra sự khác biệt mới so với các ngành
nghề sẵn có trước kia. Sản phẩm của địa phương không những được tiêu thụ tại chỗ mà
còn làm quà cho du khách sau mỗi chuyến đi du lịch, chính điều này đã quảng bá được
sản phẩm của địa phương đi khắp muôn phương.
Văn hoá địa phương luôn hấp dẫn du khách DLST, những nét văn hoá đặc sắc
này khi có DLST là một hình thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và còn tạo thu nhập
cho người dân địa phương thông qua các buổi biểu diễn văn nghệ, các lễ hội truyền
thống.
14
Nguồn thu từ DLST làm tăng nông sản địa phương, và cũng nhờ DLST mà cơ
sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng nhiều hơn. Trẻ em
được đi học, mọi người được chăm sóc sức khỏe chu đáo hơn, giảm bệnh tật…
Kinh tế ngày càng phát triển, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao. Như vậy
DLST đã làm cho kinh tế - xã hội địa phương thay da đổi thịt, cải thiện đời sống nhân
dân, phát triển ngành nghề mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

Nhu cầu vui chơi giải trí, nhu cầu thư giãn hay đến với các khu du lịch tận
hưởng những dịch vụ, cảnh quan thiên nhiên, thưởng thức nền văn hoá đặc sắc thì ai
cũng có. Tuy nhiên để đáp ứng được những nhu cầu đó thì vấn đề tài chính giữ vai trò
hết sức quan trọng.
Kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng lên nhu cầu du lịch cũng sẽ tăng
lên. Vì thế mà ở các Quốc gia có nền kinh tế phát triển thì du lịch phát triển rất mạnh
mẽ và lượng khách đi du lịch của các nước này cũng rất đông.
Muốn khai thác được tiềm năng DLST không chỉ phụ thuộc vào điều kiện sẵn
có của địa phương làm du lịch mà còn phụ thuộc tình hình tài chính của người dân.
Yếu tố này có tác động rất mạnh tới khả năng khai thác của các khu du lịch nói chung
và DLST nói riêng.
c) Chất lượng dịch vụ phục vụ khách du lịch
Đối với DLST việc tuyên truyền quảng bá và hoạt động xúc tiến thương mại là
rất quan trọng. Chương trình quảng bá, xúc tiến phải làm thế nào khuyến khích được
du khách có mong muốn được đi du lịch theo hình thức DLST. Trên thực tế nhu cầu đi
du lịch, nhất là du lịch theo hình thức DLST của con người ngày càng tăng nhưng nếu
những thông tin về một điểm du lịch hay một khu du lịch dù có cảnh quan thiên nhiên
độc đáo, hấp dẫn, môi trường trong lành, hệ sinh thái đa dạng có thể nói đó là một điểm
du lịch lý tưởng nhưng không được quảng bá rộng rãi không đến được với du khách và
cũng không có dịch vụ vận chuyển tới đó thì điểm du lịch đó không khai thác được
tiềm năng vốn có và cũng có rất ít khách đến thăm.
Hoạt động dịch vụ, vận chuyển và thông tin phải được quan tâm, chú trọng một
cách thích đáng thì việc khai thác tiềm năng DLST mới có thể đạt được kết quả tốt
nhất.
d) Động lực hay nhận thức của khách du lịch
16
Xã hội, trình độ dân trí càng cao thì nhu cầu đi DLST ngày càng nhiều.
Nếu nhận thức của xã hội về DLST tốt, thấy rõ được tác dụng của nó thì mọi
người sẽ đồng tâm thúc đẩy nó phát triển, ngược lại nếu chưa nhìn nhận ra giá trị của
nó thì mọi người sẽ không ủng hộ, thậm chí còn gây khó khăn cho quá trình phát triển

chính sách đúng sẽ vừa khuyến khích khai thác được tiềm năng DLST một cách bền
vững vừa bảo đảm đời sống của cư dân địa phương.
f) Tài nguyên du lịch sinh thái của địa phương
Tài nguyên DLST bao gồm: Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Hai
yếu tố này hợp thành một thể thống nhất của loại hình DLST.
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: cảnh quan thiên nhiên, vùng rừng, núi có
phong cảnh đẹp, các hang động, bờ biển chứa trong đó các hệ sinh thái phong phú đa
dạng. Các hệ sinh thái hồ, hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển…tạo nên kho tàng tài
nguyên DLST.
Tài nguyên nhân văn bao gồm các nét văn hoá đặc trưng của vùng, miền, địa
phương. Ví dụ như: xoè Thái, múa sạp, ném còn, cồng chiêng…. Môi trường tài
nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn càng phong phú thì việc khai thác tiềm năng
DLST càng thuận tiện hơn.
Tài nguyên là yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm của DLST nói riêng và du lịch nói
chung. Tài nguyên DLST được xem là tiền đề để khai thác loại hình DLST. Tuy nhiên
việc khai thác tài nguyên này phải dựa trên nguyên tắc là việc khai thác phải đi đôi với
việc bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên, bảo đảm nguyên tắc sức chứa.
2.1.6 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái với phát triển kinh tế - xã hội
2.1.6.1 Lợi ích
* Kinh tế: Lợi ích kinh tế của du lịch sinh thái bao gồm:
- Những công việc gia tăng trong kinh doanh du lịch cùng với sự tồn tại các cơ
hội nghề nghiệp do dịch vụ thiết thực góp phần làm tăng thu nhập cho người dân địa
phương.
- Kinh tế địa phương được đa dạng hoá do có sự biến chuyển tích cực trong cơ
cấu kinh tế địa phương. Làm tăng giá trị của đất đai vì mục đích sử dụng đất có sự thay
đổi, đất không chỉ để ở để sản xuất đơn thuần như trước mà giờ đất còn được sử dụng
18
vào mục đích làm du lịch. Do vậy phần nào đã làm thay đổi nông thôn truyền thống,
nhiều ngành nghề mới xuất hiện do du lịch mang lại.
- Du lịch nói chung và DLST nói riêng có vai trò như một điểm tựa, một sự hậu

- Cải thiện môi trường nông thôn qua sự điều chỉnh, sắp đặt lại hệ thống cơ sở
hạ tầng, giao thông vận tải, nhà cửa, dịch vụ…có hệ thống hơn.
- Hậu thuẫn cho sự bảo quản và thúc đẩy xây dựng các công trình có ích như
nhà thôn quê, nhà vườn, công viên xanh…
- Tạo được ý thức cho người dân, di sản thiên nhiên được lưu giữ tốt hơn.
2.1.6.2 Chi phí
* Kinh tế
- Tăng chi phí để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành
DLST.
- Tạo ra biến động giá cả thị trường như: tăng giá đất, hàng hoá dịch vụ…làm
tăng sự phân hoá trong xã hội.
- Mọi hoạt động đều hướng tới ngành DLST nhưng DLST lại mang tính mùa vụ
(khách vắng vào mùa đông và các ngày làm việc trong tuần), chi phí cho hoạt động lại
phải phân bố đồng đều. Gây ra sự mất cân bằng về thu nhập từ đó tạo ra sự mất cân
bằng trong đời sống, sinh hoạt.
- Cộng đồng trở nên phụ thuộc vào ngành công nghiệp riêng biệt này.
* Văn hoá – xã hội
- Sự đông đúc ồn ào, gây ra những va chạm làm phá vỡ cuộc sống thường ngày
và sự riêng tư của người dân địa phương. Làm cho không gian sống của địa phương có
nhiều biến động.
- Trộm cắp cướp giật, sự gia tăng tội phạm và đôi khi làm xuất hiện những hành
vi phi xã hội khác. Nhiều giá trị văn hoá bị xói mòn bởi sự tối mắt trước những nguồn
lợi ở trước mắt.
- Có nhiều luồng văn hoá mới du nhập tốt có xấu có. Sự xuất hiện những ý
tưởng mới, phong cách và những hành vi làm thay đổi giá trị văn hoá truyền thống;
làm thay đổi lối sống, quan niệm sống của cộng đồng địa phương.
- Tạo áp lực cho cơ sở hạ tầng, làm tăng mâu thuẫn về thu nhập giữ nhân viên
tạm thời và cư dân của địa phương.
20
- Các dịch vụ nhà hàng, khách sạn thay thế cho các “quán cóc liêu xiêu”. Các

Để du khách đến được với DLST cần có dịch vụ vận chuyển. Vận chuyển bao
gồm: vận chuyển con người, vận chuyển hàng hoá, hành lý, vận chuyển thông tin…Sự
vận chuyển này có tính chất hai chiều giữa DLST và du khách.
- Những dịch vụ khác như: y tế, chăm sóc sức khoẻ, thông tin, bưu chính….
2.2 Cơ Sở thực tiễn
2.2.1 Khai thác tiềm năng du lịch sinh thái trong phát triển kinh tế - xã hội trên
thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ II đặc biệt từ năm 1995 hoạt động du lịch thế giới
phát triển với nhịp độ cao, số khách du lịch quốc tế tăng từ 25 triệu người năm 1950
đến 168 triệu người năm 1971, 350 triệu người năm 1985, 450 triệu người năm 1991
và 525 triệu người năm 1994. Dự kiến năm 2010 con số này là 1046 triệu người. Trong
hơn 30 năm (1960 – 2001) số khách du lịch tăng 69 lần, thu nhập từ du lịch của thế
giới tăng bình quân 11,8%/năm du lịch trở thành ngành kinh tế hàng đầu thế giới [10].
Nền công nghiệp phát triển đi đôi với nó là môi trường bị tổn thất nặng nề, tầng
ozon thủng, bầu khí quyển đã không được như xưa. Càng ngày con người ta càng chú ý
đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên gắn liền với hoạt động này
có loại hình DLST (du lịch thân thiện với môi trường) đã và đang ngày càng được khai
thác và phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Loại hình này vừa mang lại thu nhập cao
vừa là phương thức hữu hiệu cho việc truyền bá các cách thức bảo vệ môi trường tự
nhiên, nâng cao ý thức bảo vệ, tôn tạo lại tài nguyên thiên nhiên và văn hoá bản địa.
Những năm qua hoạt động khai thác tiềm năng DLST diễn ra rầm rộ và đem lại
nguồn sinh khí lớn trong phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới. Đặc
biệt có một số nước tiêu biểu sau:
2.2.1.1 Malaixia
Malaixia là quốc gia có nền kinh tế du lịch phát triển vào bậc nhất Đông Nam
Á. Chính phủ Malaixia đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của du lịch trong nền
kinh tế quốc dân, nên đã đi trước một bước dài trong công tác khai thác tiềm năng và
phát triển du lịch.
22
Malaxia có lợi thế về DLST bởi đất nước này có sông, suối và ngọn núi cao nhất

vài nghìn du khách lưu trú. Afamosa có nhiều khu vui chơi, giải trí với các trò chơi địa
phương cũng như quốc tế vô cùng hấp dẫn. Đặc biệt du khách có thể đi ô tô xem sư tử,
hổ thả tự do, được xem chim, khỉ, hay nhiều loại vật khác biểu diễn những tiết mục vô
cùng độc đáo làm cho du khách khó tính nhất cũng phải thán phục [14].
Hàng không quốc gia Mlaixia đã mở nhiều tuyến bay nội địa và quốc tế, phát
triên nhiều trung tâm du lịch mạo hiểm, các khách sạn được phân bố đều khắp cả nước.
2.2.1.2. Singapo
Năm 2007 Singapo và Thái Lan nổi lên là những “điểm vàng” thu hút khách du
lịch Châu Á. Singapo được mệnh danh là con rồng Châu Á với tốc độ phát triển kinh tế
và môi trường trong sạch nơi đây. Ngành DLST ở đây cũng rất phát triển đặc biệt
những năm gần đây thế giới cực kỳ ấn tượng với DLST của nước này bởi Singapo đã
khai thác một điểm DLST vô cùng độc đáo đó là bãi rác Semakau. Bãi rác Semakau
với diện tích 350ha hình thành từ 2 đảo Pulausemakau và Pulau Sakeng – Đây là bãi
rác nhân tạo đầu tiên trên thế giới ở ngoài khơi, một điểm du lịch hấp dẫn độc nhất vô
nhị ở eo biển Singapo.
Cách đất liền Singapo 8km về phía Nam, đảo chứa rác Semakau có thể chứa 63
triệu mét khối rác, đủ đáp ứng nhu cầu chứa rác của Singapo đến năm 2040. Tất cả
lượng rác thải của Singapo được chất tại bãi rác này. Cùng với những thảm cỏ biển,
những rạn san hô trải dài và bờ cát trắng, cánh rừng đước biến Semakau thành một khu
DLST đa dạng, phong phú với sự xuất hiện của nhiều loài động thực vật. Sự xuất hiện
của bãi rác không hề ảnh hưởng tới đời sống của bất kỳ một loại sinh vật nào trên đảo.
Trong thời gian gần đây, các nhà khoa học Singapore còn phát hiện khá nhiều loài có,
chim và cây cối lạ trên quần đảo. Từ tháng 7/2005, Chính phủ Singapore quyết định tổ
chức các tour du lịch sinh thái cho người dân đến quần đảo Semakau [nguồn:
INFOTERRA VN (XL theo tuổi trẻ, 5/8/2007)].
Trên đất liền nước này cũng đã khai thác được rất nhiều điểm DLST hấp dẫn du
khách trong và ngoài nước.
2.2.1.3 Thái Lan
Đồng hành với Singapo, Thái Lan cũng là “điểm vàng” thu hút khách du lịch
Châu Á năm 2007.

dạng tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status