BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Họ và tên: Phạm Như Cương Khóa: 54
Khoa:Viện KH&CN Nhiệt – Lạnh Ngành:Kỹ thuật Nhiệt – Lạnh
Đề tài đồ án:
Tính toán và thiết kế lò hơi tầng sôi công suất 6 tấn hơi/giờ đốt nhiên liệu trấu.
Nghiên cứu và hệ thống các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong lò hơi công nghiệp.
Số liệu ban đầu:
- Sản lượng hơi: 6 tấn hơi/giờ
- Áp suất hơi bão hòa: P
bh
= 6 bar
Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:
- Tìm hiểu chung về công nghệ lò hơi tầng sôi
- Phương pháp tính toán thiết kế lò hơi tầng sôi
- Tính nhiệt & thiết kế sơ bộ lò hơi tầng sôi đốt trấu công suất 6 tấn/h
- Nghiên cứu, hệ thống các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong lò hơi công nghiệp
- Tính toán tiềm năng tiết kiệm năng lượng chi tiết cho 02 giải pháp đề xuất
Các bản vẽ và đồ thị:
- 1 bản vẽ A0 “Sơ đồ nguyên lý cấu tạo của lò hơi tầng sôi”
- 1 bản vẽ A0 “Bản thể lò hơi” và “Bố trí mặt bằng cho lò hơi”
- Các bản vẽ chi tiết có liên quan đến bài thiết kế.
Cán bộ hướng dẫn:
Phần Họ tên cán bộ
Tính toán và thiết kế lò hơi tầng sôi công suất 6 tấn
hơi/giờ đốt nhiên liệu trấu (70%)
Ths. Trần Huy Cấp
được ghi.
Nếu sai, tôi xin chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định.
Sinh viên thực hiện
(Ký, ghi rõ họ tên)
Phạm Như Cương
PHẠM NHƯ CƯƠNG 3 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title]
MỤC LỤC
PHẠM NHƯ CƯƠNG 4 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title]
MỞ ĐẦU
Năng lượng đang chứng tỏ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội và trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu. Hiện nay, việc
khai thác và sử dụng năng lượng đặt loài người đứng trước hai thách thức:
thiếu hụt nguồn năng lượng trong tương lai và ô nhiễm môi trường. Bởi vậy,
việc sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm, có hiệu quả, sử dụng các nguồn
năng lượng mới là rất quan trọng và cần thiết trong chiến lược và chính sách
phát triển năng lượng của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, năng lượng sinh khối là một nguồn năng lượng tái tạo có
tiềm năng. Với lợi thế một quốc gia nông nghiệp, Việt Nam rất đa dạng và
phong phú về các nguồn sinh khối như bã mía, trấu, vỏ cà phê, gỗ củi,…
nhưng chỉ có một phần nhỏ được sử dụng làm nhiên liệu đốt tạo ra năng
lượng. Trong đó, trấu là một nguồn sinh khối quan trọng nhưng chưa được
khai thác triệt để. Một phần nhỏ khối lượng trấu được dùng để làm thức ăn gia
súc, sản xuất phân bón, ván ép, nhiên liệu đốt dùng trong các gia đình nông
thôn, nhiều cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như: lò nung gạch
truyền thống, nung vôi, nung gốm,… Vẫn còn một lượng lớn trấu dư thừa
đang bị đổ ra môi trường. Trong công nghiệp, công nghệ lò hơi đốt trấu có thể
cung cấp tốt nhu cầu về nhiệt và hạn chế được nạn ô nhiễm môi trường. Bên
cạnh đó, nguồn lợi từ việc bán tro trấu sẽ giảm được chi phí vận hành cũng
nghiệp.
Nội dung của bản đồ án bao gồm:
PHẦN CHUNG: Tính toán thiết kế lò hơi tầng sôi 6 tấn/h đốt trấu
Chương 1: Cơ sở lý thuyết tầng sôi
Chương 2: Phương pháp tính toán thiết kế lò hơi tầng sôi
Chương 3: Tính toán thiết kế lò hơi tầng sôiđốt trấu
PHẦN CHUYÊN ĐỀ: Nghiên cứu và hệ thống các giải pháp tiết kiệm
năng lượng trong lò hơi công nghiệp
Chương 4: Tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong lò hơi công nghiệp
Chương 5: Đề xuất tính toán tiết kiệm năng lượng trong lò hơi công nghiệp
PHẠM NHƯ CƯƠNG 6 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title]
PHẦN CHUNG
TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ LÒ HƠI TẦNG SÔI
CÔNG SUẤT 6 TẤN HƠI/GIỜ ĐỐT NHIÊN LIỆU TRẤU
PHẠM NHƯ CƯƠNG 7 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title] CHƯƠNG I
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT TẦNG SÔI
1.1Giới thiệu sơ lược về tầng sôi
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Kỹ thuật tầng sôi được phát minh đầu tiên vào năm 1910 của hai tác giả
người Anh là Phillips và Bukteel. Mới đầu, kỹ thuật này chỉ áp dụng vào các
công nghệ xúc tác, chọn quặng, sấy,… cho đến những năm 40 thì bắt đầu
được sử dụng vào các quá trình cháy nhiên liệu trong buồng lửa và phát triển
mạnh từ những năm 1970 đến năm 1980. Cùng với thời gian, kỹ thuật này đã
phát triển và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.
Ứng dụng sớm nhất của công nghệ tầng sôi là thiết bị hóa khí của Fritz
Winkler, người Đức(năm 1921). Tuy nhiên, sau đó lý thuyết mới về công
nghệ hỗn hợp khí-rắn không được phát triển. Đến những năm 50, công nghệ
này được ngành dầu hỏa ứng dụng để cracking dầu nặng. Những cố gắng áp
ghi cố định. Trong buồng đốt, nhiên liệu cùng với lớp vật liệu sôi được thổi
lên cao từ 5001000 mm, tạo nên bởi dòng không khí thổi qua một bộ phân
phối với tốc độ xác định.Gió cấp được thổi từ dưới ghi lên. Khi tốc độ gió đủ
lớn sẽ tạo ra một lực cuốn thắng được trọng lực của hạt và khi đó, các hạt sẽ
bắt đầu dịch chuyển lên trên tạo ra một lớp hạt lơ lửng giống như 1 lớp chất
lỏng. Các chế độ tương tác giữa khí và hạt phụ thuộc vào tốc độ gió cấp vào
bao gồm: lớp cố định, giả lỏng sôi đều, sôi bọt, sôi dạng pít tông, sôi rối, sôi
chèn và sôi tuần hoàn.
1.2 Cơ chế quá trình tạo tầng sôi
Nguyên nhân quan trọng để hình thành lớp sôi là do lực “nâng” của dòng
khí thắng trọng lực của hạt. Nhưng mức độ tương tác giữa gió và hạt phụ
PHẠM NHƯ CƯƠNG 9 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title] CHƯƠNG I
thuộc vào rất nhiều yếu tố như tốc độ gió, trở lực của khối hạt (kích thước,
đặc tính của hạt,…) qua đó hình thành các trạng thái sôi khác nhau, chiều cao
lớp sôi khác nhau. Mối quan hệ giữa chiều dày lớp nhiên liệu h và trở lực của
lớp nhiên liệu Δp với tốc độ của dòng được thể hiện trong hình 1.2:
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa vận tốc của gió với trở lực lớp sôi
đòi hỏi khử lưu huỳnh).
Đôi khi, phối hợp các hạt liệu lớp sôi cũng được sử dụng. Kích thước
của hạt nhiên liệu, đặc biệt với nhiên liệu có hàm lượng tro thấp khác nhau
không nhất thiết mang lại một lượng lớn hạt rắn lớp sôi, bởi vì chúng chỉ có
thể tạo thành một lượng hạt nhỏ hơn 13% [9] tổng lượng hạt rắn lớp sôi trong
lò.
Lò tầng sôi có hai loại chính:
• Lò tầng sôi kiểu sôi nhẹ (công nghệ đốt tầng sôi bọt)
• Lò tầng sôi kiểu sôi mạnh (công nghệ đốt tầng sôi tuần hoàn)
PHẠM NHƯ CƯƠNG 11 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title] CHƯƠNG I
Hình 1.4 Chuyển động của khí và chất rắn ở các loại lò hơi khác nhau[9]
1.3.1 Phương thức sôi bọt (BFB)
Trong phương thức này, chiều cao lớp sôi được giữ cố định trong một
khoảng cho phép nào đó. Không gian này chỉ chiếm một phần trong toàn bộ
buồng đốt. Gió cấp vào từ quạt có nhiệm vụ cung cấp không khí cho quá trình
cháy nhiên liệu, đồng thời tạo ra và duy trì lớp sôi. Khi tốc độ gió vượt quá
tốc độ giới hạn cho phép, chất rắn sẽ bị thổi bay ra khỏi lớp. Nếu hạt tương
đối thô sẽ quay trở lại mặt ghi do ảnh hưởng của trọng lực. Nếu tiếp tục tăng
tốc độ gió thì có thể một bộ phận hoặc toàn bộ hạt trên mặt ghi rơi vào trạng
thái chuyển hai hướng: một hướng đi lên do lực nâng, một hướng đi xuống trở
lại mặt ghi do trọng lực. Trạng thái này giống như trạng thái sôi hay lớp sôi.
Khi tốc độ gió tiếp tục tăng đến một giá trị tới hạn (ω
gh
), toàn bộ lớp sôi sẽ
thay đổi trạng thái, các hạt trong lớp sôi đều bị bay ra ngoài. Tương tự nếu tốc
độ gió quá nhỏ không đủ để nâng khối lượng các hạt lên thì lớp sôi trở lại
thành lớp cố định.Như vậy, trong vận hành lò hơi BFB, tốc độ gió cấp vào
phải nằm trong khoảng giới hạn sau: ω
mf
1.4Ưu điểm và nhược điểm của lò hơi tầng sôi
1.4.1 Ưu điểm của lò hơi tầng sôi
Lò hơi tầng sôi có một số các đặc điểm nổi bật hơn so với những lò hơi
đốt nhiên liệu rắn khác. Những đặc tính này bao gồm:
• Độ mềm dẻo trong sử dụng nhiên liệu: Đây là một đặc tính ưu việt chính của
lò hơi tầng sôi. Các hạt nhiên liệu rắn chiếm một lượng ít hơn 1÷3% khối
lượng hạt rắn trong lớp nhiên liệu trong buồng lửa của một lò hơi tầng sôi đặc
trưng. Các hạt rắn còn lại không cháy được gồm: các chất hấp thụ, tro nhiên
liệu và cát. Điều kiện khí động đặc biệt của tầng sôi tạo ra một sự hỗn hợp
khí-rắn rất hoàn hảo. Do vậy, các hạt nhiên liệu cấp vào buồng lửa sẽ nhanh
chóng được phân tán vào trong khối hạt và cũng nhanh chóng được gia nhiệt
đến nhiệt độ bắt cháy mà không dẫn đến một sự suy giảm đáng kể nào nhiệt
độ tầng hạt. Đặc tính này của buồng lửa tầng sôi cho phép nó đốt bất cứ một
PHẠM NHƯ CƯƠNG 14 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title] CHƯƠNG I
dạng nhiên liệu nào mà không cần cấp nhiên liệu mồi để cấp nhiệt cho không
khí và chính nhiên liệu nâng nhiệt độ của chúng đến điểm bắt cháy của nó. Do
vậy, có thể đốt thay nhau nhiều loại nhiên liệu trong một lò tầng sôi mà không
cần một sự thay đổi nào về cấu trúc lò. Lò hơi tầng sôi có thể đốt nhiên liệu
trấu chứa 18% hàm lượng tro.
• Hiệu suất cháy lò hơi tầng sôi bọt là 90÷98% và trong lò hơi tầng sôi tuần
hoàn có thể lên tới 97,5÷99,5%.
• Tro ở dạng vô định hình nên sử dụng làm chất phụ gia trong công nghiệp sản
xuất xi măng, composit, gạch chịu lửa, gạch xây nhà cao tầng,…
• Lò hơi tầng sôi có hiệu quả khử lưu huỳnh cao do thời gian lưu lại của khí lớn
3÷4 giây, và các hạt hấp thụ rất mịn trải ra bề mặt phản ứng rộng, thúc đẩy
quá trình phản ứng khử lưu huỳnh.
• Giảm phát thải NO
x
là một đặc tính quan trọng của lò hơi tầng sôi. Các số liệu
PHẠM NHƯ CƯƠNG 15 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title] CHƯƠNG I
• Yêu cầu điều chỉnh tốc độ gió phù hợp với điều kiện lớp sôi.
• Tốn điện cho quạt để tạo chế độ hóa lỏng.
• Tốn lượng đá vôi lớn, tăng chi phí nghiền.
• Mài mòn mạnh các ống và tường do các hạt trơ gây ra.
• Cần hệ thống thu hồi và tuần hoàn phức tạp, làm lò trở nên cồng kềnh.
Tuy nhiên, các nhược điểm này đang dần được khắc phục trong những lò
thế hệ mới.
1.5 Tiềm năng sử dụng lò tầng sôi vào thực tế ở Việt Nam
Chất thải dân dụng và công nghiệp là những chất được loại ra khỏi quá
trình sinh hoạt cũng như sản xuất, yêu cầu phải có công nghệ xử lý thích hợp
nhằm bảo vệ môi trường và tận dụng lại một phần. Ở nước ta là một nước
đang phát triển, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, nên lượng phế thải nông
lâm nghiệp thải ra có trữ lượng lớn. Ở Miền Trung và đồng bằng sông Cửu
Long có nhiều nguồn nhiên liệu xấu chưa khai thác hết như than nâu, than
bùn, than có thành phần lưu huỳnh cao, phế thải sinh khối(rơm, rạ, bã mía,
mùn cưa…).
- Thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: năm 2013 sản
lượng thóc cả nước khoảng 44,1 triệu tấn thóc thì lượng rơm rạ cũng được xác
định khoảng 43,3 triệu tấn và 8,68 triệu tấn. Viện nghiên cứu Phát triển đồng
bằng sông Cửu Long cho biết: Với sản lượng thóc hơn 20 triệu tấn như hiện
nay, nếu lấy tỷ lệ trung bình là 100kg thóc cho 20kg trấu, mỗi năm trong vùng
đồng bằng sông Cửu Long có trên 4 triệu tấn trấu. Với lượng trấu này, hàng
năm đồng bằng sông Cửu Long có thể cung ứng cho các nhà máy sản xuất
nhiệt điện với tổng công suất 500MW.
- Ngoài thóc, Việt Nam cũng là một quốc gia có sản lượng lớn về mía. Phế thải
thu hoạch và chế biến đường đã tạo ra một nguồn nguyên liệu lớn để đáp ứng
nhu cầu về năng lượng cho các nhà máy đường và nhân dân vùng trồng mía.
Theo kết quả nghiên cứu thực tế thì ép 1 tấn mía cây trung bình thải ra 300kg
Việc thiết kế một lò hơi đốt than theo phương pháp lớp sôi-FB là một
công việc mới, phức tạp, đòi hỏi những người thiết kế phải nắm vững nhiều
vấn đề về kĩ thuật nói chung, kĩ thuật nhiệt, về bản chất các quá trình FB xảy
ra trong thiết bị thiết kế. Cần tiến hành các tính toán cần thiết để có thể dự báo
chính xác các hiện tượng cơ nhiệt xảy ra trong thiết bị. Cũng như việc thiết kế
các lò hơi thông thường, việc thiết kế một lò hơi lớp sôi cũng phải thực hiện
qua các bước chính sau:
• Lựa chọn phương pháp đốt: đốt theo lớp sôi bọt, lớp sôi tuần hoàn hay theo
phương pháp trung gian.
• Lựa chọn các phương pháp cấp than, cấp gió, thải tro xỉ.
• Lựa chọn hình dạng của toàn bộ lò hơi và các phần tử chính.
• Lựa chọn các thông số làm việc cơ bản của các phần tử của lò.
• Tiến hành các bài tính để khẳng định các kích thước; các thông số chính của
lò và của các thiết bị chính.
Kết quả của các bước trên là phải đưa ra được các thông số cơ bản về
kích thước, đặc tính kĩ thuật của các bộ phận chính của lò, để có thể tiến hành
thiết kế thi công chi tiết.
Bài toán tính nhiệt lò hơi là bài toán đầu tiên phải thực hiện và là bài
toán quan trọng, xác định ra các số liệu nhiệt quan trọng nhất để thực hiện các
tính toán khác hoặc lựa chọn thiết bị.
Việc tính nhiệt lò hơi FB cũng thực hiện theo các bước tương tự như tính
nhiệt các lò hơi PC, gồm: tính nhiệt buồng đốt, tiếp đó tính nhiệt các bề mặt
đốt phần đuôi. Việc tính nhiệt các bề mặt đốt phần đuôi lò FB thực hiện hoàn
toàn giống như tính nhiệt các bề mặt đốt phần đuôi lò PC. Nhưng việc tính
nhiệt buồng đốt lò FB thực hiện hoàn toàn khác.
Do có hai loại buồng đốt lớp sôi là buồng đốt lớp sôi bọt (BFB) và lớp
sôi tuần hoàn (CFB), về nguyên lí làm việc của hai loại buồng đốt này, cũng
như các phần tử buồng đốt đi kèm có khác nhau, nên việc tính nhiệt buồng
đốt lớp sôi bọt và lớp sôi tuần hoàn cũng thực hiện khác nhau.
PHẠM NHƯ CƯƠNG 18 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
Với các lò hơi FB, thiết kế phải đạt được các ưu việt của phương pháp đốt FB
như các vấn đề về môi trường, nhiên liệu,…
Trước khi thiết kế, tính chọn một lò hơi đốt theo lớp sôi, cần có lưu ý là các lò
hơi lớp sôi BFB có các đặc điểm sau:
- Thường áp dụng đốt nhiên liệu theo phương pháp - BFB cho các lò hơi công
nghiệp, có công suất nhỏ và trung bình (công suất nhiệt từ 5 đến 100MW
nhiệt, thông số hơi tất nhiên tùy theo yêu cầu sử dụng, nhưng có thể đạt tới
các thông số của các lò hơi năng lượng công suất trung bình (P
QN
= 10÷70bar,
t
QN
=200÷500
o
C) [10]
PHẠM NHƯ CƯƠNG 19 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
!
"#$%
&'()*$
&'+,
/0*1
234(5
61%
7
[Type the document title] CHƯƠNG II
- Thường áp dụng khi cần đốt các loại nhiên liệu xấu (độ tro cao; A
lv
> 30%, độ
.V
khoi
.(θ
ls
+273)/273.ω, m
2
(2.1)
Trong đó: B
tt
- Tiêu hao nhiên liệu tính toán, kg/s;
V
khoi
- Thể tích khói, m
3
tc
/kg.nl;
θ
ls
- Nhiệt độ lớp sôi,
o
C;
ω - Tốc độ không khí hoặc khói đi qua lớp sôi ở nhiệt độ tính
toán.
Có thể chọn sơ bộ diện tích ghi theo cường độ toả nhiệt của một đơn vị
diện tích ghi: q
ghi
= 1÷2 (MW/m
2
) - đối với lò tầng sôi bọt [10].
Hoặc xác định theo công thức thực nghiệm sau [12]:
1
) hơn 50
o
C.
• Tốc độ sôi của buồng đốt tầng sôi bọt:chọn trong khoảng 1÷3,5÷4,0 m/s [10].
Hoặc có thể chọn theo lượng không khí thổi qua 1 m
2
diện tích ghi, theo [11]
lượng không khí vận hành tối ưu, cỡ 2000÷2800 m
3
tc
/m
2
ghi (tức bằng
khoảng 3÷4 lần lượng gió tối thiểu để lớp hạt bắt đầu sôi). Tốc độ sôi không
nên lớn hơn 0,5.ω
bay
.
• Trở lực phần buồng đốt lớp sôi: Chủ yếu gồm trở lực của ghi Δp
ghi
và trở lực
của lớp hạt trơ Δp
ls
. Trở lực của ghi nên khá lớn để đảm bảo phân bố không
khí đều trên toàn bộ bề mặt lớp, thường chọn Δp
ghi
= Δp
ls
; Δp
ghi
: Cần phải tính cho hạt có cỡ hạt là d
k
. Công
thức dùng để tính ω
th
là công thức tính tốc độ sôi tới hạn thông thường:
Re
th
= (a
2
+ b.Ar)
0,5
– a (2.5)
Trong đó: a = 42,85(1-ε
th
)/Φ; b = 0,571. ε
th
3
.Φ
hoặc đơn giản hơn:
Re
th
= Ar/(1400 + 5,22.Ar
0,5
), nếu ε
th
= 0,40 (2.6)
Re
th
= Ar/(710 + 4,0.Ar
hat
và Φ là khối lượng riêng, kg/m
3
và hệ số hình dạng hạt;
ρ
khi
và υ
khi
là khối lượng riêng của khí, kg/m
3
và độ nhớt động học
của khí m
2
/s;
ε
th
độ rỗng của khối hạt ở chế độ bắt đầu sôi; khi số liệu về ε
th
và
Φ không tin cậy, có thể lấy như sau:a= 33,7; b= 0,0408.ε
th
= 0,40÷0,48; độ
nhớt động lực học của khí khói ở áp suất khí quyểnµ =1,5.10
-6
.T
1,5
/(T+123,6),
N.s/m
2
; khối lượng riêng không khí (có thể dùng cho khói với sai số nhỏ) ρ
bay
của hạt có ρ
hat
= 2,65g/cm
3
, khi thổi
bằng không khí có nhiệt độ 20
o
C và 1000
o
C; ε
th
=0,4.
Bảng 2.1 Bảng giá trị ω
th
và ω
bay
của hạt có ρ
hat
= 2,65g/cm
3
d, mm 0,1 0,2 0,5 1,0 2,0 5,0
ω
th
, m/s (20
o
C)
0,01 0,037 0,18 0,47 0,96 1,84
ω
bay
davoi
/B
tt
(2.12)
V
khoi
= V
khoi
+ 0,3125.B
davoi
/B
tt
(2.13)
d) Phân lượng tro bay trong khói của lò lớp sôi bọt (a
b
):
Hình 2.2 (Toán đồ 3; [11]) Xác định phần tro bay a
bay
trong khói
Phụ thuộc cỡ hạt nhiên liệu; tính chất vật lí của tro và tốc độ làm việc
của khói trong buồng đốt. Giá trịa
b
chọn theo kinh nghiệm, lấy trong khoảng
0,15÷0,6; (có khi có thể lên tới 1,0) hoặc xác định theo đồ thị hình 2.2; và 1 =
a
bay
+ a
xi
.
e) Cân bằng nhiệt:
/Q
t
lv
.(100- Г
xi
), % (2.15)
Trong đó: Q
t
lv
- Nhiệt trị thấp làm việc của nhiên liệu, MJ/kg;
a
xi
= 1 - a
bay
: Phần tro nhiên liệu thải khỏi lớp từ đáy buồng lửa;
Г
xi
- Phần nhiên liệu chưa cháy nằm trong tro của lớp sôi;
A
lv
- Phần tro của nhiên liệu, %.
Giá trị q
4xi
sẽ lấy bằng 0,5÷2,0% với loại nhiên liệu có A
lv
< 50%; với
nhiên liệu có A
lv
> 50% tính q
4xi
α - hệ số không khí thừa;
V
o
- lượng không khí lí thuyết, m
3
/kg;
θ
kc
- nhiệt độ lớp sôi,
o
C;
PHẠM NHƯ CƯƠNG 24 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54
[Type the document title] CHƯƠNG II
k
c
- hằng số tốc độ phản ứng của nhiên liệu với không khí, m/s;
Khi không có số liệu thực nghiệm tin cậy, có thể tính k
c
theo định luật
Areniuss:
k
c
= k
o
.exp(-E/8,31.T
ls
) (2.17)
T
ls
= θ
; ∂
1
- cỡ
hạt tro lớn nhất bay khỏi lớp sôi, khi làm việc với tốc độ sôi ω; ∂
o
– cỡ hạt
trung bình của nhiên liệu.
Khi không có số liệu tin cậy về cỡ hạt, có thể xác định gần đúng q
4bay
theo hệ số khả năng phản ứng của nhiên liệu R
T
= V
daf
/(100 - V
daf
), như sau:
q
4bay
= 25 - 25.R
T
(2.19)
- Khi có áp dụng hệ thống quay vòng tro bay về buồng đốt (tái tuần hoàn tro
hoặc các biện pháp khác), với hiệu suất thu hồi là µ
thu
, thì tổn thất nhiệt do
cháy không hết về cơ khí giảm, bằng:
PHẠM NHƯ CƯƠNG 25 KT Nhiệt Lạnh 1 – K54