Thiết kế khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần văn học dân gian chương trình Ngữ văn 10, tập 1 - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ PHƯƠNG NHUNG
THIẾT KẾ KHÓA HỌC TRỰC TUYẾN
HỖ TRỢ TỰ HỌCPHẦN VĂN HỌC DÂN GIAN,
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, TẬP 1
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, TẬP 1 LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS. Tôn Quang Cường
TS. Dương Tuyết Hạnh

HÀ NỘI – 2015 i
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN nói

ii

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Viết tắt Viết đầy đủ
CNTT Công nghệ thông tin
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Glossary Bảng chú giải thuật ngữ
GV Giáo viên
HS Học sinh
LMS
Learning Management System
(Hệ thống quản lý học tập)
MS Microsoft
Nxb Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
SGK Sách giáo khoa
STT Số thứ tự
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
Tr. Trang
TS Tiến sĩ
VHDG Văn học dân gian
Wiki Từ điển mở



iv
2.2.3. Khả năng áp dụng khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần VHDG
(Chương trình Ngữ văn 10, tập 1) trên LMS Moodle 47
2.2.4. Quy trình thiết kế 50
2.3. Hướng dẫn tổ chức hoạt động hỗ trợ tự học trên khóa học VHDG 66
2.3.1. Bước 1: Giới thiệu khóa học 67
2.3.2. Bước 2: Khai thác khóa học 72
2.3.3. Bước 3: Kiểm tra, đánh giá 81
2.4. Khâu đánh giá khóa học 82
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 83
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1. Mục đích thực nghiệm 85
3.2. Đối tượng thực nghiệm 85
3.3. Nội dung thực nghiệm và tiến hành thực nghiệm 87
3.3.1. Nội dung thực nghiệm 87
3.3.2. Tiến hành thực nghiệm 87
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm 88
3.4.1. Dự giờ, phỏng vấn, đánh giá sự tích cực và khả năng tiếp thu của HS 89
3.4.2. Đánh giá kết quả học tập của HS 90
3.4.3. Kết quả phản hồi qua phiếu điều tra 92
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
v
DANH MỤC BẢNG

Sơ đồ: 1.1. Chu trình tự học 11
Sơ đồ: 1.2. Quá trình dạy tự học và năng lực hình thành 12
Sơ đồ: 1.3. Tổng quan về quá trình tổ chức dạy học tự học 19
Sơ đồ: 1.4. Mô hình hệ thống E-Learning 21
Sơ đồ: 2.1. Mô hình khóa học theo chủ đề 52
Sơ đồ: 2.2. Mô hình khóa học theo tuần 53
Sơ đồ: 2.3. Cấu trúc nội dung khóa học VHDG trên LMS Moodle 55

Biểu đồ: 3.1. So sánh kết quả học tập trước khi dạy thực nghiệm 86
Biểu đồ: 3.2. So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 91

Hình: 2.1. Khóa học thiết lập theo chủ đề 52
Hình: 2.2. Khóa học thiết lập theo tuần 53
Hình: 2.3. Màn hình truy cập khóa học 68
Hình: 2.4. Màn hình đăng nhập khóa học 69
Hình: 2.5. Màn hình giao diện chính của khóa học 69
Hình: 2.7. Màn hình phân nhóm học tập 71
Hình: 2.8. Màn hình thêm học sinh vào nhóm học tập 72
7

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21, sự bùng nổ của CNTT nói riêng và Khoa học công
nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành

phương pháp dạy học. Tuy nhiên, hầu như chúng ta mới chỉ chú trọng đến
việc tích cực hóa hoạt động học tập trên lớp còn việc tự học của học sinh ở
nhà lại là một vấn đề vẫn còn đang bỏ ngỏ. Các phong trào dạy thêm, học
thêm vốn là một vấn đề nhức nhối của ngành giáo dục nhưng khi thẳng thắn
nhìn nhận thì nguyên nhân của tình trạng này cũng xuất phát một phần từ
nhu cầu của phụ huynh cần có người định hướng hoạt động học tập ở nhà cho
con em mình. Chính vì vậy, tận dụng những thế mạnh của công nghệ thông
tin trong việc hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh là vấn đề tất yếu cần khai
thác trong một xã hội công nghệ thông tin như hiện nay.
Trong chương trình phổ thông, Ngữ văn mang đặc thù của một bộ môn
khoa học xã hội nhân văn. Đây là bộ môn có tính chất công cụ và hướng tới
việc giáo dục thẩm mĩ của con người. Do đó, nhiệm vụ của chương trình Ngữ
Văn không chỉ là cung cấp những kiến thức có sẵn về văn học mà quan trọng
hơn là đào tạo kỹ năng đọc-hiểu, cảm thụ văn bản và năng lực sử dụng ngôn
ngữ như một công cụ hữu dụng trong đời sống. Nói cách khác trọng tâm của
dạy và học Ngữ văn hiện nay phải hướng đến tính tích cực, khám phá, sáng
tạo của người học chứ không phải gò ép HS trong những khuôn mẫu có sẵn.
Hơn thế nữa, thời lượng dạy học trên lớp là có hạn trong khi năng lực cảm thụ
văn học đòi hỏi một quá trình lâu dài. Với 45 phút trên lớp, GV không thể vừa
truyền tải kiến thức vừa theo sát được sức học, khả năng cảm thụ của từng
HS. Khối lượng kiến thức nặng lại phải dồn ép trong một thời gian ngắn dễ
dẫn đến việc HS cảm thấy mệt mỏi, chán nản với những giờ học khô cứng.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu chương trình Ngữ văn chúng tôi nhận thấy đây
là mảnh đất giàu tiềm năng để khai thác những tiến bộ CNTT hỗ trợ hoạt
9

động tự học, giúp tăng cường hiệu quả học tập, đặc biệt là phần VHDG (SGK
Ngữ văn lớp 10 – Ban cơ bản).
Về mặt đặc thù, VHDG là những sáng tác nghệ thuật truyền miệng của
các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua

quản lý học tập trong một nội dung cụ thể, góp phần để việc ứng dụng CNTT
phát huy hơn nữa hiệu quả hỗ trợ tự học trong thực tiễn giảng dạy hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu ứng dụng CNTT hỗ trợ dạy học
Trên thế giới, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT làm phương tiện hỗ trợ
quá trình dạy học đã được triển khai từ rất sớm, ví dụ như Pháp (1970),
Newzeland (1975), Anh (1980)… máy vi tính được sử dụng từ cấp cơ sở đến
bậc Đại học, thậm chí cả mầm non. Về những tài liệu nghiên cứu một cách
toàn diện về việc ứng dụng CNTT vào dạy học, trước hết phải kể đến bộ giáo
trình Teach to the Future (Dạy học cho tương lai) của Intel và bộ giáo trình
Partner in Learning của Microsoft.
Ở Việt Nam, không nằm ngoài xu thế phát triển chung, CNTT đã được
quan tâm nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều ngành, trong đó có giáo dục. Có
thể kể tên một số công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT vào dạy học gồm:
đề án “Giáo dục tin học” do PGS Đinh Gia Phong chủ trì, Tài liệu sử dụng
công nghệ thông tin trong dạy và học của Bộ GD&ĐT. Đặc biệt, Giáo trình
E-learning và ứng dụng trong dạy học của hai tác giả Lê Huy Hoàng, Lê
Xuân Quang đã cụ thể hóa cách tiếp cận và ứng dụng E-learning trong dạy
học. Riêng về môn Ngữ văn cũng có không ít những bài viết, tài liệu hướng
dẫn. TS. Đỗ Ngọc Thống đề xuất việc Ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ
văn, tác giả Phong Lê đã trình bày quan điểm của mình trong Văn học và
công cuộc đổi mới. Đối với dạy học Ngữ văn, CNTT đã chứng tỏ khả năng hỗ
trợ một cách tích cực với những tranh ảnh, băng ghi âm, hoặc những đoạn
phim…có thể minh họa để trình bày bài giảng một cách sinh động, hấp dẫn,
tiết kiệm được thời gian và kích thích hứng thú học tập của HS.
11

Gần đây nhất là luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Anh Biên
soạn sách điện tử hỗ trợ dạy học phần Văn học dân gian, Ngữ văn lớp 10
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cũng đưa ra một hướng ứng dụng CNTT

phát triển đề tài của mình. Hiện nay, trong phạm vi hiểu biết của chúng tôi
chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến việc thiết kế khóa học
trực tuyến với vai trò công cụ hỗ trợ tự học phần VHDG thuộc chương trình
Chương trình SGK lớp 10 – Ban cơ bản một cách đồng bộ. Vì thế đề tài Thiết
kế khóa học trực tuyến hỗ trợ tự học phần Văn học dân gian (Chương trình
Ngữ văn 10, tập 1) có giá trị thực tiễn mới mẻ của nó.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài: thiết kế và đề xuất quy trình tổ chức
các hoạt động hỗ trợ tự học phần VHDG (Chương trình SGK Ngữ văn 10 –
Ban cơ bản) trên LMS Moodle.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Khẳng định vai trò của ứng dụng CNTT trong việc tăng cường hiệu
quả học tập cho HS
+ Thiết kế khóa học trực tuyến và quy trình sử dụng để hỗ trợ tự học
phần VHDG trên cơ sở sử dụng hệ thống quản lý học tập Moodle
+ Thiết kế, tổ chức một khóa học mẫu trong dạy học phần VHDG
(Chương trình SGK Ngữ văn 10 – Ban cơ bản) trên cơ sở sử dụng hệ thống
Moodle.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc tự học và ứng dụng CNTT
(E-learning) cùng những sự thay đổi cần thiết khi áp dụng hình thức dạy học
này cho phù hợp với giảng dạy bộ môn Ngữ văn.
+ Đề xuất thiết kế và tổ chức một khóa học E-learning hỗ trợ tự học
phần VHDG trên nền hệ quản lý học tập Moodle.
+ Bước đầu đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng khóa học trực
tuyến trong hỗ trợ tự học phần VHDG (Chương trình SGK Ngữ văn 10 – Ban
cơ bản)
13

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý thuyết của quá trình tự học
1.1.1.1. Khái niệm tự học
Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm
nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn. Khổng Tử – nhà tư tưởng nổi
tiếng và nhà sư phạm vĩ đại của Trung Quốc ngay từ trước công nguyên đã
nhấn mạnh “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”. Ông cho rằng học mà
không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Nói cách
khác, việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau. Ở
phương Tây cùng giai đoạn Socrat cũng đã nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết
lấy anh” nhằm hướng học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để
dần dần tìm ra kết luận.
Đến thế kỷ XX, khi tự học trở thành nhu cầu của thời đại thì khái niệm
này được đặc biệt chú ý nghiên cứu và phát triển. Candy (1987) xác định có ít
nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học.
Đơn cử như: tự học, học tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản
thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo
dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học,
tự học và tự dạy…
Khi đi vào nghiên cứu sâu hơn, Brockett & Hiemstra quan niệm có 2
đặc điểm của tự học là: đặc điểm bên trong - tính tự định hướng của người
đọc và đặc điểm bên ngoài - quá trình mà trong đó người học có vai trò chính
trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm. Hai đặc điểm
này có quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau.
Ở Việt Nam, từ điển giáo dục học định nghĩa: “Tự học là quá trình tự
mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành”.
15



theo tuyến mục tiêu và nội dung thực hiện trong hệ thống các hoạt động
chung hướng đến kết quả, yêu cầu mức độ tự nhận thức cao, khả năng tự đánh
giá, nhận định tốt, ý thức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cá nhân cao. Đồng
thời người dạy sẽ chuyển vai trò từ truyền đạt tri thức sang quản lý tri thức và
quá trình chuyển giao” [A.V.Chernaia, 2010]. Hiện nay, trong nỗ lực tìm
kiếm các phương án tổ chức dạy học hiệu quả, các nhà sư phạm đã tìm đến
hình thức tổ chức tự học như một cách tổ chức hoạt động nhận thức hữu hiệu.
1.1.1.2. Các hình thức tự học
Xét về phạm vi diễn ra quá trình tự học, có thể chia hình thức tự học
làm hai loại:
- Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tự học của người học
diễn ra trong các cơ sở giáo dục có sự hướng dẫn, tổ chức của người dạy theo
kế hoạch giáo dục đã định sẵn.
- Tự học trong cuộc sống: là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoài
các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu học tập.
Xét về mức độ và cách thức tự học có ba hình thức tự học sau:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc,
hiểu và vận dụng các kiến thức trong đó
- Tự học có hướng dẫn gián tiếp: GV ở xa hướng dẫn người học bằng
tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Người học có tài liệu và giáp mặt với
GV một số tiết trong ngày, trong tuần và được GV hướng dẫn giảng giải sau
đó về nhà tự học.
Xét về mối quan hệ của người tự học trong tự học, có:
- Tự học không tương tác: là hình thức học tập mà người học làm việc
độc lập, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của người dạy.
- Tự học trong tương tác: là hình thức tự học mà người học kết hợp với
những người khác (có thể với bạn, với người dạy) trong học tập để nghiên
cứu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng. Hình thức tự học này có thể có

Như vậy hoạt động tự học của HS là quá trình hoạt động học tập chủ
động tích cực của người học đặt trong mối quan hệ tương tác với bạn dưới sự
định hướng của GV. Qua quá trình này HS có thể khám phá, điều chỉnh và
hoàn thiện hệ thống tri thức theo đúng mục tiêu đề ra.
 Đối với GV
Quá trình tổ chức dạy học tự học chính là việc thiết kế và tổ chức các nhiệm
vụ tự học cụ thể theo những chỉ định rõ ràng (về mục tiêu, nội dung, kiểm tra
đánh giá). Trong quá trình thực hiện GV cần đánh giá, phân tích tác động qua
kết quả phản hồi của HS đặt trong tương quan so sánh với mục tiêu. Từ đó có
những điều chỉnh phù hợp giúp HS hình thành các năng lực cần thiết. Trong quá trình tổ chức dạy học tự học của GV cần đảm bảo những yêu
cầu sau:
- Nhiệm vụ học tập bám sát mục tiêu, nội dung môn học, phù hợp với
năng lực, kiến thức nền của đối tượng người học
- Đảm bảo tính logic, hệ thống và có sự gắn kết với các hình thức dạy
học trên lớp
- Nội dung có tính thực tiễn cao, hình thức phong phú, có tính tích hợp,
liên môn, gắn với việc hình thành hệ thống kỹ năng cụ thể.
Thiết kế hoạt

chức dạy học tự học dưới đây: Nguồn:Tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên trong dạy học ở bậc đại học
Sơ đồ: 1.3. Tổng quan về quá trình tổ chức dạy học tự học

1.1.2. Ứng dụng E-Learning trong dạy học
1.1.2.1. Khái niệm E-Learning
Từ nửa sau thế kỷ XX trong lĩnh vực khoa học giáo dục đã xuất hiện
một thuật ngữ mới: E-learning (Electronic Learning – học tập điện tử) và
ngày càng được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên về nội hàm khái niệm lại có
nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh và khía cạnh sử dụng.
Chúng tôi xin được điểm qua một số quan điểm đặc trưng nhất như sau:
a. E-Learning là hình thức học tập thông qua Internet, mạng máy tính,
CD-Rom, truyền hình tương tác hay đài truyền dẫn vệ tinh Chuẩn và Mục tiêu
môn học
Dạy học tự học


học tập, đào tạo hay giáo dục (www.intelera.com/glossary.htm)
d. E-Learning là việc cung cấp nội dung thông qua tất cả các phương tiện
điện tử bao gồm Internet, Intranet, Trạm phát vệ tinh, Băng tiếng, hình,
tivi tương tác và CD-Rom [15, tr. 5]
e. E-Learning là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet
theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền
tảng PPDH. [15, tr. 5]
Rõ ràng, với những quan niệm khác nhau về E-Learning chúng ta có
đặc điểm tập trung khác nhau về cách thức triển khai và cơ sở hạ tầng. Trên
cơ sở tham khảo nhiều định nghĩa, kết hợp xem xét bản chất trong từng
trường hợp chúng tôi nhận thấy một hệ thống E-learning phải đảm bảo những
điều kiện dưới đây:
- Sử dụng mạng Internet
- Tồn tại dưới các dạng khóa học
- Sử dụng hệ thống quản lý học tập
- Đảm bảo sự tương tác, hợp tác trong học tập
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất: Elearning là một loại hình
đào tạo thông qua mạng Internet dưới dạng các khóa học, hướng tới thực
hiện tốt mục tiêu học tập. Trong đó đảm bảo sự tương tác giữa người dạy và
người học cũng như cộng đồng học tập một cách thuận lợi dưới sự quản lý
của một hệ thống quản lý học tập.

21

1.1.2.2. Kiến trúc hệ thống E-Learning
Trung tâm của hệ thống E-Learning là hệ thống quản lý học tập LMS
(Learning Management System). Đây chính là một gói phần mềm cung cấp
các bộ công cụ để xây dựng và quản lý các khóa học trực tuyến. Phần lớn các
LMS là các gói phần mềm thương mại như: Blackboard, WebCT,
Desire2Learn, ANGEL, và eCollege nhưng cũng có nhiều LMS được phát

Về bản chất E-Learning vẫn là quá trình truyền tải kiến thức và thu
nhận phản hồi từ người dạy đến người học dưới sự giám sát của hệ thống
quản lý học tập. Tuy nhiên do những đặc thù của các hoạt động học tập, E-
Learning mang trong mình những đặc trưng riêng biệt. Cụ thể như sau:
- Sự thay đổi về vai trò của người dạy và người học: E-Learning đã
thay đổi từng bước cách nhìn trong mối quan hệ giữa dạy và học: Lấy người
dạy làm trung tâm  Tạo sự bình đẳng giữa thầy và trò  Lấy người học
làm trung tâm.
+ Vai trò của người dạy:
Trong lớp học truyền thống, GV nắm giữ tất cả kiến thức và truyền tải
đến HS. Với E-learning, trong suốt tiến trình khóa học GV chỉ đóng vai trò là
người hướng dẫn (guide) và tham vấn (advise) thông qua môi trường mạng
chứ không phải là những “ông đồ ngồi trên phản”, “cầm tay chỉ việc” cho HS.
Trong môi trường này, GV phải trở thành động lực thúc đẩy vai trò tự chủ của
23

HS thông qua các hoạt động học tập và gắn kết các hoạt động với nhau. GV
chịu trách nhiệm tư vấn và hỗ trợ HS giải quyết các vướng mắc chứ không
giải quyết hộ. Mục đích là giúp HS tự xác định và dần trả lời được các câu hỏi
để thực hiện yêu cầu này cần “làm gì?”, “tại sao?” và “làm như thế nào?”.
Quan trọng nhất là phải khơi gợi được hứng thú của HS và GV tránh cung cấp
quá nhiều thứ có sẵn.
+ Vai trò của người học:
Trong môi trường của E-Learning HS là người chịu trách nhiệm chính,
là trung tâm của quá trình dạy học. Người học dựa trên những tài nguyên học
liệu được cung cấp sẽ tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động và
tích cực. Quá trình tích lũy kiến thức được chính bản thân các em thực hiện
sau khi tiến hành thu thập dữ liệu, tổng hợp, phân tích. Thậm chí, thông qua
những cuộc thảo luận, những bài tập theo hướng tích cực hóa người học còn
có thể đóng vai trò là người “kiến tạo” kiến thức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status