VẤN ĐỀ QUỐC TỊCH TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Tôi xin được trình bày về những khó khăn thực tế mà các công dân của Việt Nam,
Campuchia, Lào và Pháp gặp phải trong lĩnh vực quốc tịch.
Sau đây, tôi xin được trích dẫn một đoạn trong cuốn sách "Người Pháp là gì?" của nhà
chính trị học Patrick WEIL, chuyên gia nghiên cứu về chính sách nhập cư và quốc tịch,
thay cho phần mở đầu của bài phát biểu. Thực vậy, Patrick WEIL đã bắt đầu cuốn sách
bằng một loạt các câu hỏi sau:
"Cơ sở nào để xác định một người là công dân Pháp? Bởi vì người đó sinh ra tại Pháp?
Bởi vì người đó có cha, mẹ hoặc tổ tiên là người Pháp? Làm thế nào để cha, mẹ hoặc
tổ tiên của người đó trở thành người Pháp? Liệu có phải họ cũng sinh tại Pháp? Cũng
có cha, mẹ, tổ tiên là người Pháp? Kết hôn với một người Pháp? Hay họ đã được nhập
quốc tịch Pháp? Người Pháp là gì?
Ngày nay, những câu hỏi này thường xuyên được đặt ra đối với những người Pháp khi
họ phải gia hạn thẻ căn cước: Bởi vì chỉ đến khi ấy, họ mới nhận ra rằng mình không
thể chứng minh được quốc tịch Pháp".
Thực vậy, qua đây, chúng ta có thể thấy rằng chứng minh một quốc tịch không phải là
điều đơn giản, nhất là khi nhân thân của người có liên quan có gắn với yếu tố nước
ngoài.
Trước hết, tôi xin lưu ý rằng trong đa số trường hợp, quốc tịch Pháp được xác lập kể từ
thời điểm một người sinh ra: khi đó, quốc tịch được xác lập là quốc tịch gốc.
Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép người nước ngoài được nhập quốc tịch Pháp: trong
trường hợp này, quốc tịch Pháp được xác lập sau sinh, trên cơ sở tuyên bố nhập quốc
tịch (do kết hôn với công dân Pháp…) hoặc nhập quốc tịch theo quyết định của cơ
quan có thẩm quyền hoặc đương nhiên nhập quốc tịch khi đến tuổi thành niên do sinh
ra và cư trú tại Pháp.
Ngoài ra, pháp luật Pháp quy định đương sự có nghĩa vụ chứng minh quốc tịch Pháp
nếu không có giấy chứng nhận quốc tịch.
Trong trường hợp được hưởng quốc tịch theo thủ tục tuyên bố nhập quốc tịch, giấy tờ
chứng minh đã có sẵn và đương sự có nghĩa vụ trình bản sao tuyên bố nhập quốc tịch
đã được đăng ký hoặc bản sao giấy khai sinh có chú thích về việc hưởng quốc tịch
Pháp. Nếu không có các giấy tờ này, đương sự phải trình giấy xác nhận của cơ quan có
Trước hết, chúng ta phải tìm hiểu về tình hình của Đông Dương trong thời kỳ thuộc địa
của Pháp
Xuất phát từ đặc điểm đa dạng về quy chế lãnh thổ, pháp luật quốc tịch Pháp được áp
dụng cho các vùng lãnh thổ đó trong giai đoạn này rất phức tạp. Thực vậy, Đông
Dương lúc ấy được chia thành:
Nam Kỳ
3 vùng tô giới: Hà Nội, Hải Phòng và Tourane (Đà Nẵng)
4 xứ bảo hộ: An Nam (Trung Kỳ), Bắc Kỳ, Cao Miên (Campuchia) và Lào.
Nam Kỳ và 3 vùng tô giới có quy chế lãnh thổ Pháp. Người dân của Nam Kỳ và 3 vùng
tô giới có quốc tịch Pháp nhưng không được mặc nhiên hưởng các quyền công dân
Pháp. Để được hưởng các quyền này, người yêu cầu phải tiến hành một thủ tục đặc
biệt.
Người dân của An Nam, Bắc Kỳ, Lào và Cao Miên có quy chế bảo hộ của Pháp nhưng
không có quốc tịch Pháp. Để được nhập quốc tịch Pháp, người yêu cầu phải tiến hành
thủ tục "xin hưởng các quyền công dân".
Sau khi Luật ngày 10 tháng 8 năm 1927 được ban hành, pháp luật về quốc tịch tại
Đông Dương đã phân biệt quy chế về nhân thân của từng cá nhân, giống như đã phân
biệt đối với các vùng lãnh thổ hải ngoại khác của Pháp. Theo đó, có sự phân biệt giữa
những người được hưởng quy chế thông thường và những người được hưởng quy chế
đặc biệt.
Sau khi có sự thay đổi quy chế chính trị tại Đông Dương theo các Hiệp định ngày 8
tháng 3 năm 1949, các quy định pháp luật riêng về quốc tịch Pháp ngừng được áp
dụng cùng với việc chuyển giao chủ quyền. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng vẫn
được phép kéo dài cho đến ngày 29/8/1953 đối với Lào và Campuchia và ngày 16
tháng 8 năm 1955 (ngày ký Hiệp định Pháp-Việt) đối với Việt Nam.
Ở Việt Nam, quy định pháp luật riêng về quốc tịch Pháp trước đây được thay thế bằng
cơ chế phân chia mới giữa Pháp và Việt Nam dựa trên tiêu chí dân tộc và được quy
định cụ thể tại Hiệp định ngày 16 tháng 8 năm 1955 về quốc tịch (Nghị định ngày
22/4/1959, đăng Công báo ngày 3/5/1959).
II. HIỆP ĐỊNH PHÁP-VIỆT NGÀY 16 THÁNG 8 NĂM 1955
khai sinh để chứng minh mối quan hệ huyết thống với người được hưởng quy chế công
dân Pháp theo Nghị định hoặc quyết định của Tòa án.
Người Việt lai Pháp
Đối với người Việt lai Pháp, tiêu chí phân biệt là mốc 18 tuổi vào thời điểm Hiệp định
có hiệu lực.
Người thành niên (từ 18 tuổi trở lên) mang quốc tịch Pháp, trừ trường hợp lựa chọn
quốc tịch Việt Nam (Điều 6).
Người chưa thành niên dù sinh ra sau khi ký kết Hiệp định, vẫn mang quốc tịch theo
cha, trừ trường hợp có sự lựa chọn khác khi đến tuổi thành niên (Điều 9 và 10).
Kết hôn giữa người Việt và người Pháp
Hiệp định cũng giải quyết vấn đề quốc tịch của người vợ, trong trường hợp kết hôn
giữa người Việt và người Pháp.
Trong trường hợp việc kết hôn được thực hiện trước khi Hiệp định có hiệu lực, người vợ
có quyền lựa chọn quốc tịch theo quốc tịch của chồng. Cụ thể là phụ nữ Pháp kết hôn
với công dân Việt Nam thì được quyền chọn quốc tịch Việt Nam và ngược lại, phụ nữ
Việt Nam kết hôn với công dân Pháp thì được quyền chọn quốc tịch Pháp (Điều 11).
Tiếp đến, Hiệp định cũng giải quyết vấn đề quốc tịch của người vợ trong trường hợp
việc kết hôn giữa người Việt và người Pháp được thực hiện sau khi Hiệp định có hiệu
lực.
Cụ thể là, trong trường hợp kết hôn giữa người vợ mang quốc tịch Pháp và người
chồng mang quốc tịch Việt Nam được thực hiện tại Pháp hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam,
thì người vợ vẫn giữ nguyên quốc tịch Pháp, trừ trường hợp có tuyên bố khác theo quy
định của pháp luật Pháp.
Nếu kết hôn tại Việt Nam, thì người vợ trở thành công dân Việt Nam, trừ trường hợp
có tuyên bố khác theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 12).
Trong trường hơp kết hôn giữa người vợ mang quốc tịch Việt Nam và người chồng
mang quốc tịch Pháp được thực hiện tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ của Pháp, người
vợ vẫn giữ nguyên quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp có tuyên bố khác theo quy định
của pháp luật Việt Nam. Nếu kết hôn tại Pháp, thì người vợ trở thành công dân Pháp,
trừ trường hợp có tuyên bố khác theo quy định của pháp luật Pháp.
dân nước ngoài chỉ được nhập quốc tịch Pháp theo vợ hoặc chồng nếu có tuyên bố
nhập quốc tịch Pháp.
Trẻ em sinh ra tại Pháp, có cha mẹ là công dân Việt Nam, thì có quốc tịch Pháp
khi đến tuổi thành niên nếu cư trú tại Pháp hoặc đã từng cư trú tại Pháp trong một
thời gian nhất định và theo quy định về cư trú.
Trẻ em sinh ra tại Pháp sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có cha hoặc mẹ sinh
ra tại Đông Dương trước ngày 4 tháng 6 năm 1949 hoặc tại Hà Nội, Hải Phòng hoặc
Tourane trước ngày 8 tháng 3 năm 1949, thì có quốc tịch Pháp theo nguyên tắc
quyền nơi sinh kép.
Trong trường hợp nhập quốc tịch theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền,
đương sự không mặc nhiên mất quốc tịch gốc.
Như vậy, Hiệp định Pháp-Việt được ký kết trước đây chỉ nhằm giải quyết các tình
huống khác nhau có thể xảy ra trên thực tế tại Đông Dương.
Mọi khả năng xung đột quốc tịch đã được tính đến và loại bỏ dựa trên cơ chế lựa chọn
quốc tịch. Tuy nhiên, do Hiệp định đã hết hiệu lực nên tình trạng một người có cả hai
quốc tịch Pháp và Việt vẫn tồn tại ở Pháp.
Cần lưu ý rằng pháp luật Pháp cho phép một người được giữ nguyên quốc tịch của
cha, mẹ theo nguyên tắc quyền huyết thống, và đặc biệt là theo quốc tịch của người
mẹ. Như vậy, sẽ không tránh khỏi trường hợp trẻ em có hai quốc tịch khi cha và mẹ là
công dân của hai quốc gia khác nhau. Ngoài ra, pháp luật của Pháp cũng cho phép
một người được nhập quốc tịch Pháp mà không phải thôi quốc tịch gốc.
Bằng quy định cho nhập quốc tịch Pháp hoặc quốc tịch Việt Nam, Hiệp định cũng đã
giải quyết được vấn đề người không quốc tịch.
Hiện nay, các hồ sơ liên quan đến việc áp dụng Hiệp định Pháp-Việt chuyển đến Phòng
Quản lý quốc tịch, Bộ Tư pháp, không đặt ra vướng mắc gì trong pháp luật về quốc
tịch.
Phần lớn các khó khăn gặp phải đều chủ yếu liên quan đến các giấy tờ về hộ tịch để
chứng minh quan hệ huyết thống với tổ tiên là người Pháp chính gốc tại một trong
những vùng lãnh thổ hải ngoại trước đây của Pháp.
Một số giấy tờ hộ tịch hiện đang được giữ tại Bộ Văn hóa, Vụ Lưu trữ hồ sơ về vùng,