SVTH: Nhóm 9
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết ở mỗi quốc gia, mỗi tộc người trên thế giới nền Văn
hóa đóng một vai trò quan trọng. Nó thể hiện những nét độc đáo riêng của mỗi
quốc gia, mỗi tộc người. Hơn nữa, nó còn thể hiện những tinh hoa và những đặc
thù riêng của từng tộc người đó và ở Việt Nam cũng vậy.
Việt Nam có nền Văn hóa lâu đời, mang đậm bản sắc dân tộc, thêm vào đó
Việt Nam có nền Văn hóa rất phong phú và đa dạng vì Việt Nam có hơn 54 dân
tộc anh em cùng chung sống trên cùng một lãnh thổ. Mỗi dân tộc lại mang một
nét Văn hóa truyền thống riêng.
Có rất nhiều thành tố để ta nhận biết về Văn hóa Việt Nam như: Ngôn ngữ,
Tôn giáo, Tín ngưỡng, Phong tục tập quán và Lễ hội cũng không nằm ngoài điều
đó. Trong đó lễ hội được coi là món ăn tinh thần độc đáo của một quốc gia. Mỗi
quốc gia, mỗi vùng miền khác nhau lại có những lễ hội khác nhau. Lễ hội không
chỉ mang nét truyền thống của mỗi dân tộc, để phân biệt các dân tộc với nhau mà
nó còn là bằng chứng lịch sử chứng minh sự tồn tại của một quốc gia, một nền
văn hoá đã được công nhận.
Lễ hội ở Việt Nam rất độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, nó thể hiện
những nét Văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Lễ hội Việt Nam gắn liền
với đời sống mỗi người dân, với các di tích lịch sử, với những trò chơi dân gian
đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân, khiến cho mỗi đứa con xa quê hương
luôn cảm thấy bâng khuâng khi nhớ về quê cha đất tổ. Không chỉ vậy, thông qua
các hoạt động của lễ hội còn giúp Việt Nam giới thiệu những tinh hoa văn hoá
của đất nước mình tới bạn bè thế giới, để mỗi người dân luôn tự hào rằng: mình
là con cháu Rồng tiên, con cháu Lạc Hồng.
Lớp: ĐH LTQTVP - K2
1
SVTH: Nhóm 9
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LỄ HỘI
1.1. Một số khái niệm
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,
chủng loài mình. Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành
viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định
nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên.
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn
hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư
tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,
v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách
nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là
Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác
nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến
trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của
Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn
hóa học, văn hóa học, xã hội học,...và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa
về văn hóa cũng khác nhau.
Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả
cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Một trong những cách đó
phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây:
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus"
mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng
đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm
hồn con người". Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động
giành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần".
Lớp: ĐH LTQTVP - K2
3
SVTH: Nhóm 9
Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao
hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917)
đã định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong
của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa. Các định nghĩa nguồn gốc: định
nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim
Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người
sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ
tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô
thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của
nhau.
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa
đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ
thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát
triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham
gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa
được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con
người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện
trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như
trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam -
Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin,
xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người
sáng tạo ra trong lịch sử”. Còn trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do
NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt
quan niệm về văn hóa:
- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
Lớp: ĐH LTQTVP - K2
5
6
SVTH: Nhóm 9
1.2. Các lễ hội ở việt nam
Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ
cây...Giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về
cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc.
Lễ hội ở nước ta thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà
nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải
rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét
tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh
thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người
có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân
độ thế... Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày
hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với
hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về
truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với
làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống
cộng đồng nhân dân.
Bởi phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng
nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò
vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như:
thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam
Định), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v...ở các lễ hội
của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất.
Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa
khiên, ném lao, đấu gậy.
Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn hoá, xã
hội khác như thi hát Quan họ, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu...
Đặc biệt nhất là thi đánh đu, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là
một trò vui chơi dân dã trong những ngày Tết ở khắp các làng xã.
vùng miền. Mỗi lễ hội đều có những nét khác biệt riêng:
Lớp: ĐH LTQTVP - K2
8
SVTH: Nhóm 9
* Lễ Tết:
Lớp: ĐH LTQTVP - K2
- Tết Nguyên đán
- Tết Trung nguyên
- Tết Trung thu
- Các lễ hội tại Miền Bắc
- Các lễ hội tại Miền Trung
- Các lễ hội tại Miền Nam
9
SVTH: Nhóm 9
* Một số trò chơi dân gian trong các lễ hội:
LỄ HỘI MIỀN BẮC
• Hội Thăng Long 1000
Năm
• Hội Bát Tràng
• Hội Bạch Hạc
• Hội Bơi Thuyền
• Hội Bơi Đăm
• Hội Cầu Trâu
• Hội Chém Lợn
• Hội Chen
• Hội Chọi Trâu Đồ Sơn
• Hội Chùa Hương
• Hội Chùa Keo
• Hội Chùa Thầy
• Hội Chùa Trông (Hải
• Hội Lệ Mật
• Hội Lim
• Hội Nhồi
• Hội Núi Voi
• Hội Phong Chúa Rước
Vua
• Hội Phủ Giầy
• Hội Pút Tồng
• Hội Quan Lạn
• Hội Quang Trung
• Hội Rằm Trung Thu
• Hội Rước Bà Đống
• Hội Rước Chúa Gái
• Hội Rước Kẻ Giá
• Hội Rước Trên S.
Hồng
• Hội Sáo Đên
• Hội Suối Mỡ
• Hội Tây Bắc
• Hội Tết
• Hà Nội
• Hội Thánh Gióng
• Hội Thả Diều Bằng
Giang
• Hội Thi Gói Bánh Thờ
Lớp: ĐH LTQTVP - K2
- Thia la thìa lảy - Nu na nu nống - Thi đồ xôi và thổi cơm
- Chọi gà - Chọi gà - Thi thổi cơm và giữ trẻ
- Cờ người - Cờ người - Thi dệt vải ở cầu Lim
- Kéo co - Thả đỉa ba ba - Thi Thả chim
• Hội Đền Hai Bà Trưng
LỄ HỘI MIỀN NAM
• Lễ Đền Thờ Trương Định
• Lễ Dolta và hội đua bò người Khơme
Nam Bộ
• Lễ hội dân gian - Nét đẹp sinh hoạt
văn hóa Nam Bộ
• Lễ hội Gò Tháp - Đồng Tháp
• Lễ hội Bà Chúa Xứ
• Lễ Hội Chôl Chhnăm Thmây
• Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu
• Lễ Hội Chùa Bà Bình Dương
• Lễ Hội Cúng Đình Nam Bộ
• Lễ hội Dinh Cô
• Lễ hội đình Thần Thắng Tam
• Lễ dâng bông của người Khmer Nam
Bộ
• Lễ hội đua bò của người Khmer
• Lễ Hội đua Ghe Ngo
• Lễ hội lăng Ông
• Lễ hội Lăng Ông ở Trà Ôn, Vĩnh Long
• Lễ Hội Nghinh Ông Ở Bến Tre
• Lễ Hội Nghinh Ông ở Tiền Giang
• Lễ Hội Nghinh Ông Ở Vũng Tàu
• Hội Xuân Núi Bà
• Lế giỗ Nguyễn Trung Trực
• Lễ Giỗ Trương Công Định
• Những lễ hội ở tỉnh Tiền Giang
• Lễ Hội Bến Tre
• Lễ Hội Tầm Vu
• Lễ Hội Đua Voi Tây Nguyên
Lễ hội Katê
Lễ hội Làng Sình
• Lễ Hội Mừng Nhà Rông Mới
• Lễ Hội Nghệ An
Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng
cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài
nước.
Lớp: ĐH LTQTVP - K2
12
II – MỘT SỐ LỄ HỘI TIÊU BIỂU Ở VIỆT NAM
2.1. Tết Nguyên Đán
Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội
truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa
năm cũ và năm mới; giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ
cây. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đã tiềm
tàng những giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với
thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân-hạ-thu-đông và quan niêm "ơn trời mưa nắng
phải thì" chân chất của người nông dân cày cấy ở Việt Nam... Tết còn là dịp để mọi
người Việt Nam tưởng nhớ, tri tâm tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan
hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng ...
Ông Táo hay thần bếp là người mục kích sự làm ăn của mọi
nhà. Theo tập tục hàng năm ông Táo phải thu xếp lên trời vào ngày
23 tháng chạp để tâu bày mọi việc dưới trần thế với Ngọc Hoàng.
Bởi thế nên, trong ngày này, mọi gia đình người Việt Nam đều làm
mâm cơm đạm bạc tiễn đưa "ông Táo ". Ngày ông Táo về chầu trời
được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán. Sau khi tiễn đưa
ông Táo người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh,
câu đối, và cắm hoa ở những nơi trang trọng để chuẩn bị đón tết.
Cùng với tranh (tranh dân gian, câu đối), hoa quả là yếu tố tinh thần cao quý
cha mẹ. Ông bà cũng chuẩn bị ít tiền để mừng tuổi con cháu trong nhà và con cháu
hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc tết thường là sức khoẻ, phát tài phát
lộc, những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau "tai qua nạn khỏi"hay "của đi
thay người"nghĩa là trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành.
Nhưng nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta thường kiêng không nói tới
điều rủi ro hoặc xấu xa. Phong tục ta ngày Tết việc biếu quà Tết, tỏ ân nghĩa tình cảm,
học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà tết
không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó câu nệ sẽ hạn chế tình
cảm: không có quà ngại không đến...
Ở nước ta, vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thất tuần, bát
tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày Tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang
rãnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui. Cũng vào dịp đầu Xuân, người có chức tước khai
ấn, học trò, sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sĩ,
Nông, Công, Thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn
năm mới vận hội hành thông, làm ăn suôn sẻ. Sau ngày mùng Một, dù có mải vui tết
cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng
Một bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng
Một là ngày tốt hay xấu. Ngườu thợ thủ công nếu chưa ai thuê nướn đầu năm thì cũng
tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng
chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ,
người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.
Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm
đoán con cháu không được cờ bạc rượi chè nhưng trong dịp tết, nhất
là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì người bố
cho phép vui chơi. Tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu,
chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Ðến lễ khai hạ, tiễn đưa
gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt
luôn hoá vàng.
Vì sao có tục kiêng hót rác đổ đi trong ba ngày Tết: Trong "Sưu thần ký" có
chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được thuỷ thần cho một
chúng ta vào đúng giữa mùa thu tức là vào rằm tháng Tám âm lịch.
Tết Trung Thu là tết của trẻ em.
Ngay từ đầu tháng, Tết đã được sửa soạn với những cỗ đèn
muôn mầu sắc, muôn hình thù, với những bánh dẻo, bánh nướng mà ta gọi gồm là
bánh trung thu, với những đồ chơi của trẻ em muôn hình vạn trạng, trong số đó đáng
kể nhất của thời xưa là ông Tiến sĩ giấy.
Trẻ em đón tết có đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao, đèn con giống... sặc sỡ thắp
sáng kéo nhau đi từng đoàn ca hát vui vẻ, tối tối cùng nhau đi nhởn nhơ ngoài đường,
ngoài ngõ. Và khi rằm tới, có những đám múa sư tử với tiếng trống, tiếng thanh la thật
náo nhiệt. Trong dịp này, để thưởng trăng có rất nhiều cuộc vui được bày ra. Người
lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em.
Thi cỗ và thi đèn: Trong ngày Tết Trung Thu người ta bày cỗ với bánh trái hình
mặt trăng, treo đèn kết hoa, nhảy múa ca hát, múa lân rất tưng bừng. Nhiều nơi có
những cuộc thi cỗ, thi làm bánh của các bà các cô. Trẻ em có những cuộc rước đèn và
nhiều nơi có mở cuộc thi đèn. Nhiều gia đình bày cỗ riêng cho trẻ em và trong mâm cỗ
xưa thường có ông tiến sĩ giấy đặt ở nơi cao đẹp nhất, xung quanh là bánh trái hoa
quả. Sau khi chơi cỗ trông trăng, các em cùng nhau phá cỗ, tức là ăn mâm cỗ lúc đã
khuya.
Hát Trống quân: Tết Trung Thu ở miền Bắc còn có tục hát trống quân. Ðôi bên
nam nữ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai hoặc dây thép
căng trên một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng "thình thùng thình" làm nhịp cho
câu hát. Những câu hát vận (hát theo vần, theo ý) hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc
hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui và
nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc.
Múa Sư tử (múa lân): Vào dịp Tết Trung Thu có tục múa Sư tử
còn gọi là múa Lân. Người ta thường múa Lân vào hai đêm 14 và
15. Ðám múa Lân thường gồm có một người đội chiếc đầu lân bằng
giấy và múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Ðầu lân
có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo nhịp múa của lân.
Ngoài ra còn có thanh la, não bạt, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu