Luận văn tốt nghiệp đại học
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các loại hình văn hoá dân gian, ca dao là một kho tri thức độc đáo không
chỉ về nội dung, mà cả về hình thức nghệ thuật, trong đó có như ngôn ngữ. Ca dao
Việt Nam là lời ăn, tiếng nói của nhân dân đã khắc sâu trong tâm trí con người Việt
Nam từ xưa đến nay. Trải qua biết bao thế hệ người Việt Nam đấu tranh dựng nước
và giữ nước, nhân dân ta đã gìn giữ tiếng nói của dân tộc mình qua nền văn học dân
gian, đặc biệt là thể loại ca dao.
Trong lịch sử văn học, những nhà nghiên cứu Việt Nam đã có những công trình
rất hay, rất bổ ích về ca dao. Các nhà nghiên cứu đã khảo sát ca dao trên nhiều
phương diện: nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật… Trong đó, về hình thức nghệ
thuật, yếu tố ngôn ngữ trong ca dao cũng được nhiều nhà nghiên cứu bàn đến trong
nhiều công trình. Là một trong những loại hình sáng tác của, những người bình dân
lao động, nên ca dao rất gần gũi với lời ăn, tiếng nói của con người, nên khi nghiên
cứu câu tiếng Việt, vấn đề cấu trúc cú pháp của ca dao cũng được nhiều người quan
tâm.
Với mong muốn khám phá giá trị của kho tàng ca dao Việt Nam trên bình diện
ngôn từ, người viết chọn đề tài: “Tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao Việt Nam
theo quan điểm ngữ pháp chức năng”. Thực hiện đề tài này cũng là dịp người viết
trao dồi và cũng cố thêm vốn hiểu biết của mình về ngôn ngữ, đặc biệt là tri thức ngữ
pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng - một quan điểm ngữ pháp mới trong việc
nghiên cứu câu tiếng Việt.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Về ngữ pháp chức năng
Ở Việt Nam, ngành Ngôn ngữ học ra đời muộn hơn so với các nước trên thế
giới, đặc biệt là lĩnh vực ngữ pháp nói chung và ngữ pháp chức năng nói riêng. Ở
Việt Nam, việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng xuất hiện
vào những năm của thập niên 80 của thế kỷ XX qua một số bài viết mang tính chất
giới thiệu như: Giới thiệu lý phân đoạn thực tại câu của Lý Toàn Thắng (1981); Vấn
đề thành phần câu của Hoàng tuệ (1988).
các loại hành động.
Tiếng Việt: Mấy vấn đề ngữ âm − ngữ pháp − ngữ nghĩa [4] của Cao Xuân
Hạo.
2
Luận văn tốt nghiệp đại học
Tiếng Việt − văn Việt − người Việt [3] của Cao Xuân Hạo.
Sang đầu thế kỷ XXI, xuất hiện công trình: “Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng
Việt: mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống” của Hoàng Văn Vân.
Như vậy, tính từ công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống xuất hiện vào năm
1991 đến nay, việc nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức
năng ở Việt Nam chỉ mới trải qua 18 năm. Tuổi đời một ngành khoa học còn trẻ như
thế thì chưa thể nói đến những thành tựu rực rỡ nhất của nó. Và nhìn chung, các công
trình về ngữ pháp chức năng hiện nay đều tiếp thu kết quả nghiên cứu của Cao Xuân
Hạo.
2.2 Về ca dao Việt Nam
Việc nghiên cứu câu trong tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng xuất
hiện ở Việt Nam muộn, nên vấn đề nghiên cứu cấu trúc cú pháp của ca dao theo quan
điểm ngữ pháp chức năng còn rất mới mẻ. Trong các công trình nghiên cứu về ca
dao, cũng đã có một số tác giả đã vận dụng quan điểm ngữ pháp chức năng để tìm
hiểu cấu trúc của ca dao. Tuy nhiên, những công trình như thế chưa nhiều, chưa cụ
thể và chưa đưa ra cái nhìn toàn diện và hệ thống về cú pháp ca dao Việt Nam theo
quan điểm ngữ pháp chức năng.
Trong quyển Thi pháp ca dao [13], tác giả Nguyễn Xuân Kính có đề cập đến cấu
trúc cú pháp của ca dao. Trong công trình này, tác giả đã đề cập một số khía cạnh về
ca dao theo quan điểm ngữ pháp chức năng. Xem xét chức năng phản ánh phán đoán
của ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã chỉ ra vai trò của các phán đoán và các dạng mô
hình của nó (thông qua những cách kết hợp khác nhau để tạo ra lời). Từ việc chỉ ra sự
sắp xếp, tổ chức của các phán đoán, Nguyễn Xuân Kính đã rút ra một số kết cấu của
ca dao trên một số phương diện, đặc biệt là chức năng của từng thành tố (ngữ đoạn)
được kết hợp lại bằng các phương tiện để tạo thành lời ca dao. Mặc dù Nguyễn Xuân
của ca dao Việt Nam chứ không quan tâm nhiều đến nội dung, cũng như nghệ thuật
biểu hiện của từng câu ca dao.
Về vấn đề chọn ngữ liệu để thực hiện đề tài, trên thị trường sách vở có nhiều
tuyển tập về ca dao, trong đó có những câu ca dao có nhiều dị bản khác nhau. Để
thống nhất về ngữ liệu, trong luận văn này, người viết dựa vào hai quyển sách. Đó là
quyển Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập IV, quyển 1: Tục ngữ − ca dao [14]
của Viện văn học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia ấn hành và
quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam [12] của Mã Giang Lân.
4
Luận văn tốt nghiệp đại học
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu ngôn ngữ, có thể sử dụng nhiều phương pháp. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp và các thao tác, thủ pháp kỹ thuật phụ trợ cho hai phương
pháp phân tích, tổng hợp là khái quát hoá, trừu tượng hoá và mô hình hoá. Đây là hệ
phương pháp chính mà người viết sử dụng để tìm hiểu cấu trúc cú pháp của ca dao
Việt Nam. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết còn sử dụng
phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống hoá khi cần thiết, nhưng đó là những
phương pháp phụ trợ.
5
Luận văn tốt nghiệp đại học
Chương 1
HÁI LUẬN VỀ CA DAO VIỆT NAM
1.1. Khái niệm về ca dao Việt Nam
Trong kho tàng văn học dân tộc nói chung và văn học dân gian nói riêng, ca
dao là một thể loại độc đáo. Ca dao Việt Nam đã làm giàu thêm, phong phú hơn cho
nền văn học Việt Nam và văn học thế giới cả về số lượng lẫn về chất lượng. Ca dao
Việt Nam thể hiện cách nhìn, quan niệm, tình cảm của con người Việt Nam về cuộc
sống, về con người, cách đối nhân xử thế của con người trong xã hội.
Có thể nói, ca dao là tấm gương tốt để chúng ta soi mình vào đó, để tắm mình
1.2.1. Về nội dung
Ca dao Việt Nam chứa đựng nhiều nội dung khác nhau, phản ánh hiện thực đa
dạng của đời sống nhân dân, những tâm trạng, những tư tưởng và tình cảm phong
phú của con người trong nhiều mối quan hệ phức tạp với thiên nhiên và xã hội.
“Ca dao là tấm gương trung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân
dân. Tóm lại, cũng như những thể loại văn học dân gian khác, qua ca dao, ta có thể
thấy rõ hiện thực, tức là cái vốn có trong cuộc sống”. [12; tr.8]
Nội dung của ca dao Việt Nam được thể hiện trên hai mặt chính: nội dung trữ
tình và nội dung thế sự.
1.2.1.1 Nội dung trữ tình
Theo Mã Giang Lân trong quyển Tục ngữ - ca dao Việt Nam thì “Ca dao là một
thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm này nói lên mối quan hệ của
con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình xã hội hoặc nói lên những kinh
nghiệm sống và hành động… thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người
đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả khách quan
những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên ở ca dao, cái tôi trữ tình được nổi lên rõ
nét”. [12; tr.9]
Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người Việt Nam. Đó là tiếng hát của tình
yêu, tiếng hát của người phụ nữ đau khổ nhưng giàu tinh thần hi sinh và đấu tranh
dũng cảm trong quan hệ gia đình, của người nông dân, người lính… trong lao động
7
Luận văn tốt nghiệp đại học
và trong đấu tranh xã hội,… Tiếng hát trữ tình của những con người đó chứa đựng
nhiều nét tiêu biểu của tâm hồn và tính cách dân tộc ta.
Trong nội dung trữ tình, ca dao về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất. Ca
dao trữ tình về tình yêu nam nữ hay nói đến những cuộc gặp gỡ của trai gái trong
khung cảnh lao động. Tình cảm gắn bó giữa trai gái, do đó, thường được biểu hiện
trong mối quan hệ khăng khít với cuộc sống của nhân dân lao động.
Nội dung ca dao trữ tình về sinh hoạt trong gia đình phản ánh những mối quan hệ
giữa các thành viện trong gia đình. Nhân vật chính thường xuất hiện trong nội
Nói về tính hoàn chỉnh của một bài ca dao, Chu Xuân Diên đã đưa ra nhận
định: “Mỗi bài ca dao đều thể hiện một ý trọn vẹn và thường là cô đọng. Do đó,
ca dao thường là những bài, những câu thơ ngắn có biện pháp kết cấu nghệ thuật
dần dần trở thành truyền thống, làm khuôn mẫu cho việc thể hiện thi hứng của
nhân dân”. [7; tr.410]
Hình thức nghệ thuật của ca dao được thể hiện trên nhiều phương diện:
1.2.2.1 Thể thơ
Nói về số lượng của các câu trong một bài ca dao, Vũ Ngọc Phan đã nhận
định: “Ca dao là những bài hát thường thường ngắn, hoặc hai, hoặc bốn, sáu hay
tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú”.[16; tr.62]
Đặc điểm của ca dao về hình thức là vần vừa sát, lại vừa thanh thoát, không gò
ép, giản dị, tươi tắn. Nó có vẻ như lời nói thường mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải
chuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc. Ca dao của ta đã tận dụng tính nhạc của
tiếng Việt ở những tiếng đơn, tiếng kép, tiếng ghép, nên tả người, tả cảnh rất tài tình.
Bàn về hình thức thể loại của ca dao, Hoàng Trinh đã nhận xét: “Về hình thức
thơ, đối ngẫu là hình thức phổ biến trong ca dao dưới mọi thể loại: đối ngẫu từ ngữ,
đối ngẫu ngữ pháp, đối ngẫu ngữ nghĩa, đối ngẫu hai chiều, đối ngẫu đối lập và
phản đề…” [13; tr.132]
Khi sáng tác ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng nhiều thể thơ khác nhau. Trong
đó, thể lục bát gồm câu sáu, câu tám được dùng rất phổ biến.
Thể song thất lục bát gồm hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám
chữ.
9
Luận văn tốt nghiệp đại học
Thể vãn gồm câu có bốn hoặc năm chữ, thường được sử dụng trong đồng dao.
Ngoài ra, ca dao cũng sử dụng hợp thể: thể thơ bốn chữ, năm chữ và thường kết
hợp với lục bát biến thể.
Các thể thơ phong phú của ca dao đã diễn tả được nhiều sắc thái tình cảm của
nhân dân lao động
Cũng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Mã Giang Lân cũng đã nhận xét
người nghệ sĩ dân gian đặt được dấu bằng giữa các tín hiệu ngôn ngữ trong cùng
một hệ hình. Muốn thành công, người nghệ sĩ phải bắt đầu bằng việc xác định cho
được các tiêu chí tạo nên đặc trưng của từng yếu tố”. [15; tr.45]
Cấu trúc so sánh là một cấu trúc tu từ được sử dụng rộng rãi. Tác giả dân gian
dùng những tín hiệu chỉ dẫn: như, bằng, tựa… với chức năng như dấu bằng trong
toán học. Các tín hiệu này là những khớp nối để tác giả tạo dựng những thông báo
hoàn chỉnh.
Cấu trúc so sánh của ca dao có mô hình chung như sau:
A + tín hiệu so sánh + B
Mô hình của cấu trúc so sánh được diễn đạt như sau:
- A thường là cái trừu tượng.
- B thường là cụ thể.
Đây là kiểu làm việc trên chất liệu ngôn ngữ mang tính phổ biến của ca dao.
Bên cạnh việc xác lập các yếu tố trong ca dao trên hai thao tác lựa chọn và kết
hợp, Trương Thị Thuyết còn lưu ý thêm: “Mỗi ngữ đoạn đã được mã hoá thành
một chỉnh thể, rồi toàn bộ cấu trúc cũng trở thành một chỉnh thể nữa”. [15; tr.60]
Nhờ những yếu tố ngôn ngữ, cấu tứ và các biện pháp nghệ thuật được dùng
trong ca dao mà ca dao có những cái hay rất đặc sắc và đa dạng. Có những lời ca
dao giản dị, cụ thể. Bên cạnh đó cũng có những bài ca dao rất điêu luyện, tinh tế.
(4)
Sông Cầu nước chảy lơ thơ,
Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi.
(5)
Em ơi chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.
1.2.2.4 Các biện pháp nghệ thuật
11
Luận văn tốt nghiệp đại học
So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, chơi chữ,… là những biện pháp nghệ thuật rất tiêu
biểu trong ca dao.
tưởng có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên hình tượng trong
ca dao và trong thơ. Ẩn dụ là nơi có mối liên tưởng không bị quy định bởi tín hiệu
12
Luận văn tốt nghiệp đại học
thông báo cũng như bởi nội dung của tín hiệu được kêu gọi nên đã trở thành vô cùng
linh hoạt, đa dạng, cho phép tác giả đi hết chiều sâu năng lực hình tượng của mình.
Năng lực mã hoá các đơn vị ngôn ngữ của ẩn dụ là to lớn đến mức cho phép tác
giả dễ dàng vượt giới hạn các câu ngữ pháp:
Ví dụ: Như trong trường hợp sau đây:
(10)
Cực lòng mẹ lắm con ơi!
Một con chim chích mấy nơi đan lồng”. [15; tr.67]
Trên đây là một số đặc điểm quan trọng trong cấu tứ của thơ trữ tình dân gian,
và những truyền thống nghệ thuật do những đặc điểm cấu tứ ấy tạo nên trong ca dao
Việt Nam. Những truyền thống nghệ thuật này không chỉ tồn tại dưới dạng những
đặc điểm về thủ pháp nghệ thuật mà còn tồn tại dưới dạng những câu hát có sẵn được
dùng vào trong những tác phẩm mới. Sự hình thành nên một kho văn liệu thơ ca
dân gian phong phú và việc sử dụng thường xuyên kho văn liệu đó trong sáng tác ca
dao là một đặc điểm của sự sáng tạo nghệ thuật trong văn học dân gian.
1.3. Phân biệt ca dao và các thể loại gần gũi
Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tuy có phát triển muộn, các nhà nghiên cứu trên
phương diện này cũng rất quan tâm tới đặc điểm các mặt của ca dao. Trên cơ sở đó,
các tác giả đã nêu ra một số kiến giải về ca dao để phân biệt với các thể loại văn học
khác.
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu ca dao Việt Nam, muốn hiểu được
khái niệm cũng như những biểu hiện cụ thể của nó, ngoài việc chỉ ra được dấu hiệu
đặc trưng của nó, chúng ta còn phải đặt nó trong mối tương quan với các sản phẩm
ngôn từ khác có liên quan để thấy được những nét tương đồng cũng như khác biệt
giữa chúng. Những sản phẩm ngôn từ có liên quan rất dễ nhầm lẫn với ca dao là tục
ngữ và dân ca. Trong thực tiễn nghiên cứu, việc phân định ranh giới giữa các thể loại
(b). Nếu xét dân ca Việt Nam với tư cách là những tác phẩm ngôn ngữ, đặc
biệt là khi được ghi lại bằng văn tự thì việc phân loại căn cứ vào đối tượng phản
ánh của tác phẩm. Trong trường hợp này, nó là ca dao.
Ca dao được thể hiện dưới hình thức của những câu lục bát ngắn, hàm súc, là
những lời thơ dân gian. “Ca dao người Việt thường được cấu tạo bằng hai câu lục
14
Luận văn tốt nghiệp đại học
bát, một thể thơ rất âm điệu tiếng Việt. Khi có nhiều câu ca dao kết thành một đoạn
ngắn và kết hợp với những thể thức hát nhất định nữa thì thành dân ca”. [9; tr.355]
Theo Chim Văn Bé (qua trao đổi cá nhân), ca dao và dân ca khác nhau như sau:
“Dân ca là những bài hát của dân gian, là những chỉnh thể nghệ thuật với sự gắn bó
máu thịt giữa ca từ, làn điệu, giai điệu, gắn liền với môi trường diễn xướng cụ thể”.
Còn “Ca dao là văn bản nghệ thuật, không mang làn điệu và giai điệu về âm nhạc và
không gắn bó trực tiếp với môi trường diễn xướng, được lưu truyền phổ biến bằng
hình thức ngâm, đọc”.
Nói cách khác, ca dao là văn bản nghệ thuật phái sinh từ ca từ của dân ca khi
tiếng đế, tiếng đệm, tiếng láy bị lược bỏ. Nhưng không phải bài dân ca nào cũng trở
thành ca dao.
Như vậy, điểm khác biệt rõ nhất của ca dao và dân ca và ca dao là ở chỗ: ca dao là
một thể loại được sáng tạo trên cơ sở hình thức thơ lục bát còn dân ca là lời ca ngắn
có giai điệu. Vì thế, dân ca thường được nghiên cứu trên phương diện văn hoá nghệ
thuật còn ca dao có thể được nghiên cứu trên nhiều phương diện: văn học, ngôn ngữ
học…
1.3.2. Ca dao và tục ngữ
So sánh về đặc tính của ca dao và tục ngữ, nhà nghiên cứu Hoa Bằng đã nhận
định: “Đặc tính của tục ngữ là đem những điều kinh nghiệm về thiên thời, về nhân
sự, về thế thái, về tục tình, về cách xử lý, về phương tiếp vật mà nêu lên những bài
học thuộc phạm vi nhân cách,… tuỳ theo trình độ và hoàn cảnh thời đại. Đặc tính
của ca dao là khoác hình thức văn chương bình dị và thiết thực mà trau dồi cái ý
bóng bẩy, tư tưởng thâm trầm, khiến cho nghe dễ lĩnh hội vì lời văn nhẹ nhàng, giản
dao Việt Nam của những nhà nghiên cứu tiêu biểu. Trên tinh thần đó, các nhà
nghiên cứu đã trình bày quan điểm của mình trên góc độ ngôn ngữ học. Do
đứng trên những lập trường nhìn nhận khác nhau và trên những góc độ nhìn nhận
khác nhau nên những kiến giải có khi còn chưa nhất quán. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu cũng đã có những đóng góp đáng kể cho sự bảo tồn và phát huy nét đẹp
của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng trên nhiều phương diện, ngôn ngữ
cũng như văn học.
Cũng như thành ngữ, tục ngữ thường được thể hiện trong khuôn khổ một dòng
trên văn bản viết. Còn ca dao được thể hiện bằng nhiều dòng và hình thức thể hiện
của nó đa phần là những câu lục bát (câu 6 chữ và câu 8 chữ). Những câu tục ngữ sau
đây được thể hiện trên khuôn khổ một dòng thì ít khi bị nhầm lẫn với ca dao:
(11)
Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa.
16
Luận văn tốt nghiệp đại học
(12)
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Như vậy , các sản phẩm ngôn từ dân gian được thể hiện ngắn gọn trên một dòng,
có nội dung đúc kết kinh nghiệm đời sống chính là tục ngữ. Những trường hợp này
rất dễ nhận diện.
Bên cạnh đó là những trường hợp ca dao và tục ngữ giao thoa, xâm nhập lẫn
nhau, gây khó khăn cho việc nhận diện, phân biệt hai thể loại. Điều này cũng đã được
một số nhà nghiên cứu lưu ý: “Nhưng thực ra, giữa hai thể loại tục ngữ và ca dao
không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau. Trong ca dao cũng có
xen tục ngữ và cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức ca dao còn nội dung là
tục ngữ”. [12; tr.9]
Đặc biệt là khi những sản phẩm ngôn từ dân gian có yếu tố cảm xúc và được thể
hiện bằng một cặp lục bát thì việc xác định nó là ca dao hay tục ngữ trở nên rất phức
tạp. Điển hình như trong những trường hợp sau đây:
(13)
được dùng để hát, để ngâm. Tục ngữ được dùng trong khi nói. Trong hoạt động nói
năng, mỗi câu tục ngữ là một câu nói đặc biệt được dùng xen vào giữa những câu
nói bình thường khác”. [13; tr.50]
Chương 2
18
Luận văn tốt nghiệp đại học
CẤU TRÚC CÂU TIẾNG VIỆT
THEO QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG
2.1. Khái niệm về cấu trúc đề - thuyết
Theo quan điểm chức năng, cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt được chia
thành hai thành phần trực tiếp: phần đề và phần thuyết. Cao Xuân Hạo đã định nghĩa
đề và thuyết như sau: “Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ phạm vi ứng dụng của
điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần thuyết” [5; tr.41].
Ở đây, chúng tôi tiếp thu định nghĩa: “Đề là thành phần trực tiếp thứ nhất của
câu nêu lên phạm vi hiệu lực của nội dung được triển khai trong thành phần trực tiếp
thứ hai: phần thuyết”.[6]
Ta xét các ví dụ sau:
(18)
Cụ bà cắn môi nghĩ ngợi. (Vũ Trọng Phụng)
ĐT T
(19)
Đèn ghi đã ra kia rồi. (Thạch Lam)
ĐT T
(20)
Cả đình đổ xô trông ra. (Ngô Tất Tố)
ĐT T
Ở ví dụ
(18)
, “Cụ già” là phần đề nêu lên một đối tượng mang tính chất cá nhân,
ngữ đoạn “cắn môi nghĩ ngợi” là phần thuyết. Phần thuyết triển khai nội dung nhận
lực [5; tr.42].
Trong hai loại đề mà Cao Xuân Hạo đã nêu, chúng tôi băn khoăn về khái niệm
“chủ đề”. Khái niệm “chủ đề” theo cách dùng của Cao Xuân Hạo dễ gây chồng
chéo với khái niệm “chủ đề” trong lĩnh vực văn học. Vì vậy, chúng tôi tiếp thu quan
niệm chia phần đề thành hai loại: đề tài và đề khung (đổi vị trí của khung đề thành đề
khung để có sự đối xứng nghĩa với đề tài).
2.2.1. Đề tài
Đề tài là loại đề nêu lên đối tượng mang tính chất cá nhân, cá thể, hay mang tập
hợp, chủng loại mà phần thuyết sẽ triển khai.[6]
Ví dụ:
(22)
Cái xe đạp / đã hỏng.
(23)
Tôi / xồng xộc chạy vào. (Nam Cao)
(24)
Hai mươi hai cầu thủ / đang chạy trên sân bóng.
20
Luận văn tốt nghiệp đại học
(25)
Rắn / là một loài bò sát, không chân.
Ba ví dụ trên, ví dụ
(22)
có đề tài nêu lên đối tượng là một cá thể. Ví dụ
(23)
có đề
tài nêu lên đối tượng là một cá nhân. Ví dụ
(24)
có đề tài nêu lên đối tượng là một tập
hợp (một tập hợp gồm hai mươi hai người). Ví dụ
(25)
quan hệ ngữ đoạn là các hiện tượng ghép: ghép đề, ghép thuyết, ghép đề −
thuyết, mà phương thức ngữ pháp được sử dụng ở đây là trật tự tuyến tính hay kết
từ. [6]
Khi câu có hiện tượng ghép đề − thuyết mà một vế là mỗi cấu trúc đề - thuyết thì
mỗi cấu trúc đó là một cú (cú là cấu trúc đề − thuyết dưới bậc câu).
21
Luận văn tốt nghiệp đại học
(Để dễ dàng trong cách trình bày cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt bằng
sơ đồ, chúng tôi quy ước về chữ viết tắt:
Đề tài bậc câu, cú thì được ký hiệu là: ĐT
Đề tài bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: đt
Đề khung bậc câu, cú thì được ký hiệu là: ĐK
Đề khung bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: đk
Đề tình thái bậc câu, cú thì được ký hiệu là: ĐTh
Đề tình thái bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: đth
Thuyết bậc câu, cú thì được ký hiệu là: T
Thuyết bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: t
Thuyết tình thái bậc câu, cú thì được ký hiệu là: TTh
Thuyết tình thái bậc tiểu cú thì được ký hiệu là: tth
Cú được ký hiệu là: C’
Cú thứ nhất của câu được ký hiệu là: C’
1
Cú thứ hai của câu được ký hiệu là: C’
2
Cú thứ ba của câu được ký hiệu là: C’
3
Cú thứ tư của câu được ký hiệu là: C’
4
).
Ta xét các ví dụ sau:
Lão Hạc đang vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch. (Nam
cao)
ĐT T ĐT T ĐT T
C’
1
C’
2
C’
3
Ví dụ này có ba cú, có quan hệ ngữ pháp đẳng lập, được ghép với nhau bằng trật
tự tuyến tính.
2.4. Phức tạp hoá cấu trúc đề - thuyết theo quan hệ đối vị
Cấu trúc đề − thuyết trong câu có thể được phức tạp hóa theo quan hệ đối vị mà
kết quả thu được là hiện thượng phức: phức đề, phức thuyết, phức đề − thuyết. Khái
miện “phức” ở đây được hiểu theo nghĩa: phần đề, thuyết hay cả cấu trúc đề
thuyết được cấu tạo bằng hay bao chứa trong nó cấu trúc đề − thuyết dưới bậc, được
gọi là tiểu cú. [6]
Ta xét các ví dụ sau:
(32)
Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon. (Nam Cao)
đt t
ĐT T
Trong ví dụ này, phần đề “Hắn uống rượu với cái gì” được phức tạp hoá theo
quan hệ đối vị thành một tiểu cú, trong đó, “hắn” là đề tài, “uống rượu với cái gì” là
thuyết của tiểu cú. “Cũng ngon” là thuyết của câu. Đây là hiện tượng phức tạp hóa
đề bằng một tiểu cú.
(33)
Môn nào nó học cũng giỏi.
đt t
Nội dung tình thái của câu có thể được cấu trúc hoá thành phần đề hay phần
thuyết. Khi nội dung tình thái được cấu trúc hoá thành phần đề thì ta có đề tình thái.
Khi nội dung tình thái được cấu trúc hoá thành phần thuyết thì ta có thuyết tình thái.
24
Luận văn tốt nghiệp đại học
2.5.2. Đề tình thái
Đề tình thái là loại đề nêu lên sự nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự tình hay
sở thuyết được nêu tiếp theo. Nội dung đánh giá xoay quanh các tính chất: tính hiện
thực, chân thực, khả năng; tính chân lý, hợp lý, đạo lý; tính tất yếu; tính may rủi; tính
tích cực, tiêu cực. Đề tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú, tiểu cú. [6]
Ta xét các ví dụ sau:
(37)
Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ! (Nam Cao) đt t
ĐTh T
Trong ví dụ này, “ông giáo ạ!” là hô ngữ gọi, nằm ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản
của câu. “Có lẽ” là đề tình thái. Phần đề tình thái này nêu ra khả năng trỏ thành hiện
thực của sự tình được nêu tiếp theo. “Tôi bán con chó” là phần thuyết biểu thị một sự
việc mà người nói là chủ thể.
(38)
May ra (thì) họ không chết đói. (Kim Lân)
đt t
ĐTh T
Trong ví dụ này, “may ra” là đề tình thái nêu lên một nhận định của người nói về
sự tình được nêu tiếp theo là kết quả trong tương lai. “Họ không chết đói” là phần
thuyết (được cấu tạo bằng một tiểu cú), là sự tình có khả năng xảy ra. Giữa đề tình