ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN ĐÌNH SỸ
TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
TỈNH HÀ TĨNH
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số : 60 34 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM VŨ THẮNG
Hà Nội- năm 2014 MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục các bảng số liệu ii
CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ
NƢỚC VÀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 9
1.1. Doanh nghiệp nhà nƣớc và tái cơ cấu DNNN 9
1.1.1. Các khái niệm cơ bản : 9
1.1.2. Tái cơ cấu DNNN 19
Tỉnh Hà Tĩnh. 85
3.2.1. Các ngành, các cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm,
mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo các Nghị quyết của Đảng và chính
sách của Nhà nước; tạo sự nhất trí cao trong hệ thống chính trị để nâng
cao hơn nữa nhận thức và có hành động quyết liệt, cụ thể trong quá
trình thực hiện tái cơ cấu DNNN. 85
3.2.2. Nghiên cứu đối mới mô hình, phương thức hoạt động của tổ chức
Đảng và công tác cán bộ trong doanh nghiệp nhà nước. 86
3.2.3. Căn cứ tiêu chí, danh mục phân loại DNNN đã ban hành, tiếp tục
rà soát, bổ sung những doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ vào
diện thực hiện tái cơ cấu để tăng thêm số doanh nghiệp thực hiện cổ
phần hóa, giảm số doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn điều lệ hoặc
giữ cổ phần chi phối. 89
3.2.4.Thực hiện sắp xếp tái cấu trúc lại các Công ty TNHHMTV Lâm
nghiệp và Dịch vụ theo tinh thần đổi mới một cách mạnh mẽ, cơ bản và
bền vững theo Kết luận mới của Bộ Chính trị và Nghị quyết 30- NQ/TW.
90
3.2.5. Tập trung thoái vốn nhà nước đầu tư ngoài ngành SXKD chính,
vốn nhà nước tại các DN không cần chi phối hoặc không cần nắm giữ;
93
3.2.6. Củng cố hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật. 95
3.2.7. Tiếp tục rà soát để chuyển giao doanh nghiệp đã cổ phần hóa về
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo quy định tại Nghị
định số 151/2013/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2013 về chức năng,
nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh
vốn nhà nước nhằm tách bạch quản lý nhà nước và quản lý chủ sở hữu
về vốn và tài sản nhà nước tại DNNN 96
3.2.8 Phân tách rõ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ công ích, nhiệm vụ kinh
doanh của doanh nghiệp nhà nước trực thuộc để làm rõ hiệu quả hoạt
Cổ phần
3
DNNN
Doanh ngiệp nhà nƣớc
4
HĐND
Hội Đồng nhân dân
5
KKT
Khu kinh tế
6
SCI
Tổng công ty Đầu tƣ và Kinh doanh vốn nhà nƣớc
7
SXKD
Sản suất kinh doanh
8
TNHHMTV
Trách nhiệm một thành viên
9
TSNN
Tài sản nhà nƣớc
10
TW3
Trung ƣơng 3
11
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Bảng 2.3
Tổng hợp kết quả đánh giá, xếp loại DNNN năm 2011
49
4
Bảng 2.5
Tổng hợp kết quả đánh giá, xếp loại DNNN năm 2012
50
5
Bảng 3.1
Một số chỉ tiêu chủ yếu kinh tế- xã hội thực hiện giai
đoạn 2011- 2013, kế hoặch 2014
78 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
1.1. Quá trình tái cơ cấu (sắp xếp lại, chuyển đổi, cổ phần hóa) DNNN;
Từ năm 1998 đến nay, Hà Tĩnh đã tiến hành sắp xếp, đổi mới cơ cấu
118 DNNN, trong đó:
+ Cổ phần hóa 45 đơn vị
+ Chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu : 8 đơn vị.
+ Giải thể: 13 đơn vị
+ Phá sản: 4 đơn vị
+ Sáp nhập: 8 đơn vị
*) Những mặt, còn tồn tại hạn chế trong quá trình tái cơ cấu doanh
nghiệp Nhà nước ở Hà Tĩnh.
Một là, các biện pháp cơ cấu còn mang tính hành chính, ít tính thị trƣờng,
nhƣ ít áp dụng các biện pháp: phá sản, sáp nhập doanh nghiệp, kể cả với các
công ty con thuộc tổng công ty nhà nƣớc
Hai là, cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nƣớc đƣợc coi là hƣớng cơ
cấu lại bằng các biện pháp có tính thị trƣờng hơn, hiệu quả hơn, áp dụng cho
số lƣợng đông đảo các doanh nghiệp nhà nƣớc với các quy mô, ngành nghề,
lĩnh vực, cấp quản lý khác nhau. Doanh nghiệp sau cổ phần hóa cũng hoạt
động có tính thị trƣờng hơn.Các doanh nghiệp này đã có những đổi mới sâu
sắc hơn, đi vào chiều sâu của tái cơcấu. Tuy nhiên, tốc độ cổ phần hóa chậm
và lƣợng vốn do Nhà nƣớc nắm giữ còn khá cao. Sau cổ phần hóa lại phải
điều chỉnh, thoái vốn.Việc thực hiện cổ phần hóa đã diễn ra ở hầu hết các lĩnh
vực nhƣng chậm so với kế hoạch đề ra. Kế hoạch cổ phần hóa của nhiều đơn
3
vị bị trì hoãn từ năm này qua năm khác với nhiều lý do khác nhau. Đặc biệt
trong năm năm 2007-2011, không cổ phần hóa DNNN .
Cơ chế, chính sách trƣớc, trong và sau cổ phần hóa còn nhiều bất cập.
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp chủ yếu dựa trên các ngành sản xuất - kinh
doanh để xác định loại doanh nghiệp nào cần giữ lại 100% vốn nhà nƣớc, loại
doanh nghiệp Nhà nƣớc nắm giữ cổ phần chi phối, không chi phối hoặc
không tham gia cổ phần. Trong khi đó, các doanh nghiệp thƣờng kinh doanh
nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau nên rất khó xác định.
Quy định về xác định giá trị doanh nghiệp, đặc biệt là giá trị đất đai, giá
trị lợi thế địa lý và giá trị thƣơng hiệu, còn phức tạp và khó thực hiện.
Ba là, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nƣớc triển khai theo bề rộng, chủ yếu
giảm số lƣợng doanh nghiệp Nhà nƣớc, chƣa đi vào chiều sâu ở những doanh
nghiệp mà Nhà nƣớc vẫn giữ 100% vốn. Trong khi hầu hết các doanh nghiệp
hiện tại Nhà nƣớc vẫn giữ 100% vốn chƣa có những thay đổi về chất, mà chủ
+ Có 10 doanh nghiệp xếp loại A (khá tốt) : Tỷ suất lợi nhuận năm sau
cao hơn năm trƣớc, vƣợt kế hoạch lợi nhuận, hoàn thành vƣợt mức đóng góp
nghĩa vụ cho ngân sách nhà nƣớc, tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao
động, chấp hành tốt chính sách pháp luật nhà nƣớc, tuy vậy tỷ suất lợi nhuận
không cao, đầu tƣ phát triển chậm);
+ Có 4 Doanh nghiệp xếp loại B (trung bình, có một số mặt hạn chế và
khó khăn về tài chính); bảo toàn đƣợc vốn nhà nƣớc, mức độ tăng vốn chậm,
+ Có Doanh nghiệp xếp loại C (yếu kém, trì trệ, kinh doanh thua lỗ; có
biểu hiện suy giảm vốn nhà nƣớc, quản lý một số lĩnh vực còn nhiều sơ hở,
chồng chéo, chấp hành pháp luật chƣa nghiêm)
5
- Các doanh nghiệp đã CPH đang còn vốn nhà nƣớc tham gia đều có lãi,
trừ 1DN, đó là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thua lỗ kéo dài (Lỗ 2011:
274. 457. 633, đồng).
Nhìn chung các DNNN Hà tĩnh đã phát huy vai trò quan trọng, đóng
góp đáng kể cho ngân sách nhà nƣớc , đảm bảo việc làm, tăng thu nhập cho
ngƣời lao động , từng bƣớc duy trì, ổn định và phát triển, bảo toàn vốn và tài
sản nhà nƣớc, hoàn thành nhiệm vụ công ích đƣợc giao;
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, yếu kém: Tăng trƣởng
chậm, tỷ suất lợi nhuận thấp, mức độ tăng vốn hạn chế, quy mô vốn nhỏ, đầu
tƣ dàn trải, không tập trung ngành nghề kinh doanh chính, trình độ công nghệ
lạc hậu, quản lý trì trệ, thiếu chiến lƣợc kinh doanh bề vững, kinh doanh thua
lỗ; có biểu hiện suy giảm vốn nhà nƣớc, quản trị DN còn nhiều sơ hở, cơ chế quản
lý chồng chéo, thiếu công khai minh bạch, chấp hành pháp luật chƣa nghiêm;
chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, lợi thế, nguồn lực nhà nƣớc đẫ đầu tƣ.
Về nguyên nhân của hạn chế yếu kém, tồn tại: ngoài nguyên nhân khách
quan khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, nhà nƣớc điều
chỉnh một số chính sách liên quan (cắt giảm đầu tƣ công, hạn chế xuất khẩu
thô ); còn do nguyên nhân chủ quan quan là :
« Tái cơ cấu DNNN tỉnh Hà Tĩnh » làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp khóa học
của mình. Hy vọng Luận văn sễ góp phần đƣa ra những giãi pháp tích cực, giãi
quyết đƣợc phần nào về nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu:
- Tái cơ cấu DNNN đã đƣợc các Bộ, ngành cũng nhƣ các địa phƣơng
khác quan tâm nhƣng chỉ là sự cụ thể hóa chính sách chung của Đảng và nhà
nƣớc trên phạm vi từng Bộ, ngành, địa phƣơng đó ;
7
- Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo các tài liệu: Bài phát biểu tham
luận một số nội dung về tái cấu trúc DNNN tại cuộc tọa đàm « Cơ cấu lại nền
kinh tế ngày 16/12/2011 do Báo Nhân dân phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ,
Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam tổ chức ; Bài viết Nguyễn Đình
Cung, Phó viện trƣởng - Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ƣơng- Cải cách,
cơ cấu lại DNNN: Vấn đề và giải pháp; Tạp chí Tài chính số 5/2013: tái cơ cấu
DNNN, thực trạng và giải pháp hành động; Đề tài «Thực trạng và giãi pháp để
phát triển DNNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2000- 2005» ; tuy có
một số nội dung có liên quan nhƣng chƣa giãi quyết đƣợc mục tiêu yêu cầu đặt ra
cho tái cơ cấu DNNN của tỉnh Hà Tỉnh ; Đây là Đề tài mới, Vì vậy phải nghiên
cứu, nắm vững chủ trƣơng, chính sách chung của Đảng và Nhà nƣớc, tham khảo
kinh nghiệm của các Bộ ngành, các địa phƣơng, kinh nghiệm quốc tế để vận
dụng, đề xuất các giãi pháp tái cơ cấu DNNN đảm bảo phù hợp với điều kiện,
tình hình đặc điểm riêng của tỉnh Hà Tĩnh;
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu đề tài là đƣa ra các giãi pháp tái cơ cấu DNNN
tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhà nƣớc, phát huy vai trò chủ đạo và tƣơng xứng với
nguồn lực nhà nƣớc đã quan tâm đầu tƣ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn tỉnh một cách bền vững.
- Nhiệm vụ: Hệ thống hóa một cách cơ bản lý luận, học thuật về Tái cơ
Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về Tái cơ cấu DNNN ;
Chƣơng 2 : Thực trạng Tái cơ cấu DNNN tỉnh Hà Tĩnh ;
Chƣơng 3 : Giải pháp Tái cơ cấu DNNN tỉnh Hà Tĩnh ; 9
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
VÀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC
1.1. Doanh nghiệp nhà nƣớc và tái cơ cấu DNNN
1.1.1. Các khái niệm cơ bản :
1.1.1.1. Khái niệm chung về doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nƣớc là cơ sở kinh tế do Nhà nƣớc sở hữu hoàn toàn
hay một phần quyền sở hữu thuộc về Nhà nƣớc, là đặc điểm để phân biệt
DNNN với doanh nghiệp khác; còn hoạt động kinh doanh là đặc điểm để
phân biệt DNNN với các tổ chức, cơ quan khác của Chính phủ;Tuy nhiên, sự
xác định giới hạn của DNNN ở mỗi nƣớc trên thế giới khác nhau.
Riêng ở Việt Nam nói về DNNN có thể khái quát ra những đặc trƣng cơ
bản sau đây: Nhà nƣớc có một tỷ lệ vốn nhất định trong doanh nghiệp nhờ đó
có thể gây ảnh hƣởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh
nghiệp, các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân,
nguồn thu chủ yếu từ hoạt động kinh doanh và phải thực hiện song song các
mục tiêu sinh lời lẫn mục tiêu xã hội.
Ở Việt Nam, DNNN đã có một quá trình hình thành và phát triển trên 50
năm và trải qua nhiều thời kỳ đổi mới, ở mỗi thời kỳ nhận thức về DNNN
cũng rất khác nhau; Điều này đƣợc thể hiện rõ qua hai thời kỳ: thời kỳ trƣớc
đổi mới (trƣớc Đại hội lần thứ VI) và sau đổi mới từ năm 1986 cho đến nay.
Trƣớc thời kỳ đổi mới, doanh nghiệp đƣợc nhìn nhận nhƣ cơ quan thực
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
11
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi.
- Vai trò của DNNN trong nền kinh tế quốc dân:
Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, chúng ta thấy vai trò
của DNNN đƣợc nhấn mạnh ở khía cạnh kinh tế chính trị, vì mục tiêu xây
dựng quan hệ sở hữu toàn dân trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân hơn là khía
cạnh kinh tế vì mục tiêu tăng trƣởng.
Hiện nay trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trƣờng định hƣóng XHCN. Hệ thống kinh tế nhà nƣớc bao gồm đất đai
và tài nguyên, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nƣớc, ngân hàng nhà
nƣớc, hệ thống dự trữ quốc gia, các DNNN và một phần vốn của DNNN góp
vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Nhƣ vậy DNNN là
một bộ phận của kinh tế nhà nƣớc, hệ thống kinh tế nhà nƣớc có nghĩa rộng
nhƣ trên mới có vai trò chủ đạo, chi phối và định hƣớng của nền kinh tế. Hệ
thống này đƣợc lãnh đạo trực tiếp bởi đại diện sở hữu và phát huy sức mạnh
đựơc nhân lên bởi quyền lực chính trị của nhà nƣớc do pháp luật quy định hoàn
toàn có khả năng và cần thiết thực hiện vai trò chủ đạo định hƣớng nói trên .
Trong hệ thống kinh tế nhà nƣớc, các DNNN là một bộ phận hợp thành
hết sức quan trọng, vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành
phần. DNNN góp phần thực hiện vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nƣớc
trên các mặt sau:
Một là: DNNN đóng vai trò là một công cụ kinh tế, một lực lƣợng vật
chất trong tay nhà nƣớc để nhà nƣớc định hƣớng và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế theo các chƣơng trình, kế hoạch, chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội.
13
Có thể nói rằng DNNN trong việc đầu tƣ vào những ngành quyết định
cho sự phát triển dài hạn và hiệu quả sử dụng của nền kinh tế làm cho nó có
vai trò. Đặc biệt là vai trò bà đỡ của nền kinh tế. Đây là vai trò lâu bền của
khu vực DNNN ngay cả khi doanh nghiệp tƣ nhân đã trƣởng thành. Khi
DNNN thu hẹp lại thì vai trò trong việc cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng,
khắc phục khuyết tật thị trƣờng và vai trò bà đỡ cho nền kinh tế vẫn đƣợc duy trì.
Hai là: Vai trò chủ đạo của DNNN phải đƣợc thể hiện không ngừng nâng cao
hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng điều tiết trong nền kinh tế thị trƣờng.
Lợi nhuận là mục tiêu cơ bản, thậm chí là mục tiêu duy nhất của doanh
nghiệp tƣ nhân, do đó không có lợi nhuận thì đối với họ kinh doanh là mục
tiêu vô nghĩa và đƣợng nhiên họ không đầu tƣ. Còn DNNN lại khác, lợi
nhuận không phải là mục tiêu duy nhất và thậm chí cũng không phải là mục
tiêu chủ yếu. Tuy nhiên nó đóng vai trò động lực để xem xét đến lợi ích chính
trị, xã hội, kinh tế của đất nƣớc.
Vì thế, hiệu quả của DNNN có thể là hiệu quả tổng hợp kinh tế, chính trị
và hiệu quả xã hội. Do đó, trong nhiều trƣờng hợp các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực công ích phải đặt mục đích lợi nhuận xuống hàng thứ
yếu, còn chủ yếu vẫn là hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ đƣợc nhà nƣớc giao.
Tuy nhiên, nếu xét trên tổng thể toàn bộ khu vực DNNN đều không có lợi
nhuận hoặc lợi nhuận thấp thì tất yếu phải dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nƣớc để
tồn tại. Điều này sẽ làm cho DNNN mất sức cạnh tranh thiếu sức sống, trở
thành gánh nặng cho cả Nhà nƣớc và xã hội, vì thế vai trò chủ đạo của nó khó
có thể thực hiện đƣợc một cách có hiệu quả.
Ba là: Vai trò của DNNN có tính quy định lịch sử cụ thể, nên vai trò
chủ đạo của DNNN phải thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào trình độ phát triển
của nền kinh tế.
14
Năm là: DNNN có vai trò quan trọng trong việc khắc phục những khuyết
tật do cơ chế thị trƣờng tạo ra, đầu tƣ vào các lĩnh vực cần thiết cho sự phát
triển kinh tế - xã hội. Đó là lĩnh vực kinh doanh lãi ít, nhiều rủi ro, thu hồi vốn
chậm, nhƣng sự tồn tại phát triển của chúng quyết định đến sự phát triển
chung của nền sản xuất xã hội, sản xuất đồ dùng cho ngƣời tàn tật, các hoạt
động nghiên cứu cơ bản, hoạt động vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo
đặc biệt khó khăn…
Nhƣ vậy, trong khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trƣờng mà coi nhẹ DNNN hoặc tƣ nhân hoá tất cả
các tƣ liệu sản xuất là phiếm diện. Song, duy trì DNNN tràn lan, hoạt động
không hiệu quả, hạn chế sự phát triển kinh tế, làm lãng phí vốn tài sản của
Nhà nƣớc thì thực chất là hạ thấp vai trò của DNNN. Vai trò chủ đạo của hệ
thống kinh tế Nhà nƣớc nói chung và DNNN nói riêng gắn liền với vai trò
quản lý của Nhà nƣớc đối với nền kinh tế theo định hƣớng XHCN phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nƣớc ta. Nó khác với vai trò, qui mô, bản
chất của DNNN ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa: Kinh tế nhà nƣớc cùng với kinh
tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh quốc dân (Cƣơng lĩnh xây dựng đất
nƣớc thời kỳ quá độ lên CNXH bổ sung phát triển năm 2011).
1.1.1.2. Cơ cấu DNNN, tiêu chí, danh mục để phân loại bố trí cơ cấu hợp lý
- Hiện nay trong điều kiện sản xuất hàng hoá với nhiều thành phần kinh
tế cùng tồn tại, đan xen, trong xu thế hội nhập quốc tế và thu hút vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài, việc nhận rõ DNNN là một yêu cầu hết sức cần thiết để có cơ chế
quản lý thích hợp. Tuỳ theo góc độ xem xét mà DNNN đƣợc phân chia thành
các loại khác nhau, để định ra thể chế quản lý phù hợp của DNNN; có 2 cách
phân loại :
16
* Phân loại theo mục đích kinh doanh đƣợc phân chia thành hai loại sau:
Loại thứ nhất: DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh, là doanh nghiệp
có chức năng hoạt động tìm kiếm lợi nhuận theo cơ chế thị trƣờng, các doanh
- Các doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh và các doanh nghiệp
đóng tại các địa bàn chiến lƣợc, vùng sâu, vùng xa kết hợp kinh tế với quốc
phòng theo quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ;
- Truyền tải hệ thống điện quốc gia; sản xuất, phân phối điện quy mô lớn
đa mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc
phòng, an ninh;
- Quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đƣờng sắt quốc gia, đô thị;
các cảng hàng không; cảng biển loại I (cảng biển đặc biệt quan trọng, có quy
mô lớn phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc hoặc liên vùng);
- Điều hành bay; điều hành vận tải đƣờng sắt quốc gia, đƣờng sắt đô thị;
- Bảo đảm an toàn hàng hải;
- Bƣu chính công ích;
- Phát thanh, truyền hình;
- Xổ số kiến thiết;
- Xuất bản, báo chí;
- In, đúc tiền;
- Sản xuất thuốc lá điếu;
- Quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên
huyện, kè đá lấn biển;
- Quản lý, duy tu công trình đê điều, phân lũ và phòng chống thiên tai;
- Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;
- Tín dụng chính sách, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
18
- Những doanh nghiệp thành viên có vai trò chủ yếu trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, chiến lƣợc phát triển, nắm giữ các bí quyết kinh doanh, công
nghệ mà tập đoàn, tổng công ty nhà nƣớc cần thiết phải nắm giữ 100% vốn để
thực hiện các nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính đƣợc giao.
* Những DN thực hiện CPH, nhà nƣớc nắm giữ trên 50% tổng số cổ
phần, bao gôm :