PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI
Trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia thì giáo dục tiểu họcgiữ vị trí quan
trọng.Nó đặt cơ sở vững chắc, nền tảng cho toàn bộ hệ thống giáo dục. Trong quyết
định số 2957/QĐ - ĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ vị trí, tính chất của
Giáo dục Tiểu học.
"Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành phát triển
toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và
cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân".Do đó ở tiểu học các em học sinh được
tạo điều kiện để phát triển toàn diện tối đa thể chất, tài năng, năng khiếu.
Trong các môn học ở trường tiểu học hiện nay thì môn toán có ý nghĩa và vị
trí quan trọng. Những tri thức toán học, kỹ năng toán học cùng phương pháp toán
học đã trở thành công cụ để học tập tốt những môn học khác. Kỹ năng tính toán, vẽ
hình, ước lượng và sử dụng công cụ toán học giúp học sinh ứng dụng khoa học vào
thực tiễn, đồng thời phát triển tư duy và nhân cách của học sinh.
Trong môn toán học nói chung và trong dạy học giải toán nói riêng. Hoạt
động cơ bản của người làm toán là giải toán . Do vậy, dạy học giải toán rất quan
trọng trong dạy học toán. Đối với người giáo viên điều đầu tiên là phải nắm được
mục đích của việc dạy giải toán ở Tiểu học.
Trong dạy học giải toán, các yêu cầu cơ bản được sắp xếp có chủ định trong
từng lớp, tạo thành một hệ thống các yêu cầu từ thấp đến cao, từ lớp 1 đến lớp 5
trong sự kết hợp chặt chẽ với lý thuyết trong chương trình và sách giáo khoa. Nhiều
yêu cầu cơ bản của giải toán được trải ra ở nhiều lớp, nên việc nắm chắc yêu cầu
của từng lớp là rất quan trọng . Đặc biệt giáo viên phải nắm vững trình độ chuẩn
của dạy giải toán ở từng lớp.
II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
* Lý do chủ quan:
Trong dạy học toán ở tiểu học giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan trọng
đặc biệt. Các bài toán sử dụng để tìm hiểu kiến thức mới .giải toán để luyện tập
củng cố kiến thức đã học. Giải toán giúp nâng cao năng lực tư duy cho học sinh,
rèn cho học sinh tính chính xác, tìm tòi sáng tạo về khoa học, kỹ thuật về tự nhiên
giáo khoa Toán 3 nói riêng. Từ đó có thể chuẩn bị cho bản thân tinh thần, thái độ và
kiến thức cần thiết để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ giảng dạy theo sách giáo khoa
Toán 3 với chất lượng và hiệu quả cao. Đồng thời góp phần một tài liệu tham khảo
có ích đối với giáo viên Tiểu học.
III. ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung và phương pháp dạy học Toán 3 trong đó trọng tâm là chủ đề giải
toán có lời văn.
*Phạm vi nghiên cứu: 11 học sinh lớp 3- Hua Puông Trường Tiểu học xã Nậm
Cần.
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Tìm hiểu những nổi bật về nội dung và PPDH của Toán 3 trong đó đi sâu
mạch kiến thức giải toán có lời văn.
- Nêu ra một số nhận định chủ quan có tính dự đoán về những thuận lợi và
khó khăn đối với giáo viên và học sinh khi dạy và học sách Toán 3.
-Tìm ra những biện pháp thích hợp nhất giúp học sinh nắm chắc khái niệm về
Toán học, có kĩ năng giải toán thành thạo và đặc biệt là kĩ năng giải toán có lời văn,
trau dồi tri thức cho bản thân. đáp ứng được sự đi lên của xã hội còn là nhiệm vụ
của người thầy trước thế hệ tương lai của nước nhà.
2
V. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của lối dạy học cũ có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của
giáo viên và hoạt động học của học sinh trong đó: Giáo viên chỉ truyền đạt giảng
dạy theo các tài liệu có sẵn trong SGK, SGV. Do đó giáo viên thường làm việc một
cách máy móc và ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh.
Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ rồi làm bài
theo mẫu. Do đó, học sinh ít hứng thú học tập, các năng lực vốn có của cá nhân các
em ít có cơ hội để phát triển.
Điểm mới trong kết quả nghiên cứu của tôi đi theo định hướng đổi mới
PPDH là dạy học trên cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt đọng học tập tích cực,
bản về tâm sinh lý của lứa tuổi này để vận dụng những nét tâm lý đặc thù của học
sinh tiểu học mà tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với mục đích dạy học. Đây
là một trong những vấn đề không đơn giản đòi hỏi phải có quá trình lao động công
phu, sáng tạo của những người nhiệt huyết.
Như vậy thực tế cho thấy, người giáo viên phải chủ động lựa chọn nội dung
theo từng đối tượng học sinh. Tức là dạy học phải xuất phát từ trình độ năng lực,
điều kiện cụ thrể của từng học sinh. Điều đó cũng có nghĩa là phải "cá thể hoá"
hoạt động dạy học. Trong đó giáo viên là người tổ chức điều khiển, hướng dẫn học
sinh trong quá trình học tâp. Điều này không có nghĩa là làm giảm vai trò của người
giáo viên mà chính là làm tăng thêm vai trò chủ động, sáng tạo của họ.Chính điều
này sẽ kéo theo sự thay đổi kiểu hoạt động học tập của học sinh. Mà mục đích cuối
cùng của việc làm này nhằm tạo mọi điều kiện cho học sinh có thể học tập một
cách tích cực, chủ động sáng tạo theo khả năng của mình trong từng lĩnh vực. Cách
dạy học này là " Dạy học sinh phát huy tính tích cực của học sinh" hay " Dạy học
lấy học sinh làm trung tâm" (PPDHToán P). Đây là một trong những cơ sở quan
4
trọng góp phần đổi mới nội dung chương trình và PPDH hiện nay.
Như chúng ta đã biết mục đích của việc dạy học Toán ở tiểu học nhằm giúp
học sinh biết vận dụng những kiến thức về Toán được rèn luyện kỹ năng thực hành
với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc dạy học
giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn
luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới.
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Qua quá trình công tác qua các buổi sinh hoạt chuyên môn và tham khảo ý
kiến của các đồng nghiệp về dạy kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh. Tôi tổng
hợp được một số kết quả sau:
* Về giáo viên :
+ Ưu điểm: Một số giáo viên nắm được các đối tượng học sinh của mình .
Nắm được phương pháp chung để hướng dẫn học sinh giải toán.
như vậy thì nội dung dạy phải tinh giản và được xây dựng theo các tình huống đòi
hỏi người học phải tự tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh và vận dụng. Cách dạy học mới
sẽ xóa dần cách dạy học "áp đặt" cái có sẵn, dạy học theo kiểu bình quân đồng loạt
như trước đây.
* Yêu cầu sử dụng đúng lúc đúng chỗ các PPDH truyền thống cũng như các
PPDH hiện đại để phát huy tối đa các mặt mạnh của từng phương pháp và sự phối
hợp các phương pháp dạy học.
* Đổi mới PPDH được đặt trong sự đổi mới đồng bộ về nội dung về sách thiết
bị dạy học, về nâng cao trình độ của giáo viên.
* Phải đảm bảo được 3 giai đoạn học tập:
- Giai đoạn học tập cơ bản: Đây là giai đoạn giáo viên thực hiện kiến thức cơ
bản (kiến thức chuẩnk) trong một tiết học hoặc một nội dung bài học hoặc trong
chương trình một môn học .
- Giai đoạn thực hành: Đây là giai đoạn hướng dẫn học sinhvận dụng các kiến
thức cơ bản để luyện tập.
- Giai đoạn học tập sâu: Đây là giai đoạn dành cho học sinh khá, giỏi đòi hỏi
phải có sự dẫn dắt sâu hơn.
2. PPDH giải toán có lời văn Toán 3.
A. PPDH chung:
Đối với học sinh lớp 3 thì các em đã tương đối thành thạo với các hoạt động
giải toán. Tuy nhiên vẫn cần có phương pháp chung để hướng dẫn học sinh giải
toán .Cụ thể là có 4 bước như sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán
Bước 2: Tóm tắt đề toán
Bước 3: Trình bày lời giải
Bước 4: Kiểm tra lại bài giải
Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu nội dung từng bước một.
* Bước 1: Đọc kĩ đề toán
Dù bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh hay tóm tắt sơ đồ, mô hình hình
vẽ thì giáo viên vẫn phải yêu cầu học sinh đọc lại đề từ 2 - 3 lần (Đọc to hoặc đọc
* Hoặc BT8 - T64
Tùng nghĩ ra một số. Nếu gấp số đó lên 5 lần được bao nhiêu thì đem trừ đi
500 thì còn 75. Hãy tìm số đã nghĩ?
Với bài này nếu tóm tắt bằng sơ đồ (giống như bài trên g) thì không ổn. Tóm
tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hay bằng biểu đồ ven lại càng không. Ta có thể tóm tắt
bài toán bằng lưu đồ như sau:
×
5 - 500
?
: 5 + 500
Vậy số mà Tùng đã nghĩ ra là:
( 75 + 500) : 5 = 115
Vậy số cần tìm là 115
Như vậy để thấy rằng có rất nhiều cách tóm tắt đề toán. Tuy nhiên chọn cách
tóm tắt nào để dựa vào đố tìm ra được lời giải nhanh nhất và chính xác nhất lại
phụ thuộc vào kỹ năng của người làm bài, phụ thuộc vào dạng toán, bài toán đã
cho.
* Bước 3 : Trình bày lời giải
Như đã nói ở phần trên, đối với học sinh lớp 3 khi giải các bài toán có lời
văn thì yêu cầu khi trình bày bài giải phải có dầy đủ các bước:
7
?
7
5
1. câu lời giải phải ngắn gọn.
2. Phép tính phải đúng và có kết quả tính toán chính xác. Kết quả phải có kèm theo
danh số thích hợp (hay đơn vị đo thích hợph)
3. Phải có đáp số rõ ràng.
Ví dụ:
của một số nào đó.
+ Hỏi: " Muốn tìm 1/4 của số 12 ta làm
như thế nào
+ B1: Đọc bài toán suy nghĩ hướng giải
quyết.
+ B2: Thảo luận và thao tác trên hình
vẽ, đồ vật thật (que tính q) . Trên sơ đồ
để hình thành cách giải quyết.
+ B3: Trình bày cách giải quyết trên bài
toán cụ thể đã cho.
+ B4: HS tự trình bày lời giải
+ Giải quyết tiếp các ví dụ GV đã nêu
hoặc tự trình bày ví dụ do chính
mình nêu ra.
+ Trả lời: lấy 12 chia cho 4.
8
Hoặc ai cho thêm ví dụ khác tương tự
(Nếu HS kháN)
+ Khái quát hoá: Ta lấy số đó chia cho
số phần thì được một trong các phần
bằng nhau.
Hoạt động 3: Thực hành luyện tập
+ Tự nêu nên ví dụ
+ HS nhắc lại
Bài toán 2: "Gấp một số lần"
- Hoạt động dạy chủ yếu gồm:
Giáo viên Học sinh
Hoạt động 1: Bước đầu làm quen
dạng toán
Hoạt động 1: Bước đầu làm quen
dạng toán
+ B1: Đưa ra tình huống thực tiễn (Bài
toán B) có nhu cầu giảm một số đi nhiều
lần.
+ B2: Gợi mở: Trong bài toán này có từ
nào đáng lưu ý? nghĩa là như thế nào?
B1: Học sinh đọc bài toán suy nghĩ
hướng giải quyết.
+B2: Từ " giảm" nghĩa là số gà ở hàng
trên giảm 5 lần thì được số gà ở hàng
9
+ B3: Vẽ sơ đồ hoặc yêu cầu học sinh vẽ
sơ đồ tóm tắt bài toán .
+ B 4: Hỏi câu hỏi cụ thể của bài toán
(Muốn tìm xem ở hàng dưới có mấy con
gà ta làm như thế nào?)
* Cho thêm ví dụ hoặc yêu càu học sinh
lấy thêm ví dụthực tế cần xác định giảm
một số đi một số lần?
Hoạt động 2: Khái quát hoá cách làm
C1: Hỏi: Muốn giảm một số đi 3 lần ta
làm thế nào?
C2: Ai có thể láy thêm một ví dụ khác
tương tự?
+ Hỏi: Muốn giảm một số đi nhiều lần ta
làm thế nào?
Hoạt động 3: Thực hành luyện tập
dưới
+ B3 : Quan sát sơ đồ để hiểu rõ từ "
+ Hỏi: Đó là những bước nào?
+ Hỏi: Trong bước rút về đơn vị ta cần
+B1: Học sinh đọc bài toán suy nghĩ
hướng giải quyết.
+ B2: Từ " Như thế "có nghĩa là các
bình đựng mật ong phải cùng một loại.
+ B3: Quan sát phần tóm tắt hoặc tự
mình tóm tắt bài toán.
+ B4:
* Làm phép tính chia: 35: 5 = 7(L)
* làm phép tính chia: 14 ; 7 = 2(L)
+ B5 : HS viết lời giải hoàn chỉnh.
+ Trả lời: Có hai bước
+ Trả lời: B1: Rút về đơn vị
B2: Tìm giá trị yêu cầu.
10
lưu ý điều gì?
Hoạt động 3: Thực hành luyện tập
+ Bước rút về đơn vị bao giờ cũng là
một phép chia.
Bài toán 5: "So sánh số lớn gấp mấy lần số bé"
Hoạt động dạy chủ yếu gồm
Giáo viên Học sinh
Hoạt động 1: Bước đầu làm quen
dạng toán
+ B1: Đưa ra tình huống thực tiễn (bài
toán b) sao cho có đối tượng này gấp
mấy lần đối tượng kia.
+ B2: Hỏi câu hỏi cụ thể của bài toán.
C1: so sánh số nhóm chim ở cành trên
+ B1: Đưa ra tình huống thực tiễn (bài
toán b) sao cho có đối tượng này Bằng
một phần mấy đối tượng kia.
+ B2: Hỏi câu hỏi cụ thể của bài toán.
C1: Hãy nhận xét số tuổi của méo với số
tuổi của con?
C2: muốn biết số tuổi của mẹ gấp mấy
lần số tuổi của con ta làm như thế nào?
C3: Số tuổi của con bằng một phần mấy
số tuổi của mẹ?
+ B1: Đọc bài toán và suy nghĩ hướng
giải quyết.
+ B2: Trả lời câu hỏi.
*Tuổi mẹ gấp 5 lần tuổi con.
*Lấy tuổi của mẹ chia cho tuổi của con:
30 : 6 = 5 (lần l)
* Tuổi con bằng 1/5 tuuoỉ mẹ
11
Hoạt động 2: Khái quát hoá cách làm
+ Muốn biết 6 bằng một phần mấy của
30 ta làm như thế nào?
+Cho thêm ví dụ hoặc yêu cấuH tự lấy
thêm ví dụ thực tế tương tự .
+ Khái quát hoá: Khi số lớn gấp n lần số
bé thì số bé bằng một phần mấy số lớn?
Hoạt động 3: Thực hành luyện tập
+ B3: Tự trình bày lời giải.
+ Vì 30 bằng 5 lần 6 nên 6 bằng 1/5 của
30.
+ Giải quyết tiếp ví dụ mà giáo vien nêu
GV.
4 + 3 + 4 + 3 = 14 ( cm)
Hoặc ( 4 + 3 ) x 2 = 14 ( cm )
+ B3: HS tự trình bày lời giải.
+ Giải quyết tiếp ví dụ của giáo viên
hoặc tự trình bày ví dụ mà mình tự đưa
ra.
+ Lấy chiều dài cộng với chiều rộng rồi
nhân với 2.
+ Một số học sinh nhắc lại.
Bài toán 8: Diện tích của hình chữ nhật
Hoạt động dạy chủ yếu gồm
Giáo viên Học sinh
Hoạt động 1: Làm quen với dạng toán
+ B1: Đưa ra một hình chữ nhật có số đo
cho trước.
+ B2: Gợi mở bằng các câu hỏi cụ thể.
+ B1: Quan sát hình chữ nhật và chuẩn
bị làm theo những yêu cầu của GV.
+ B2: Làm theo yêu cầu của GV.
12
C1: Trong hình chữ nhật vừa nêu có bao
nhiêu ô vuông có cạnh 1 cm?
C2: Con đã làm thế nào để biết HCN
trên có 12 ô vuông?
C3: Ô vuông có cạnh dài 1 cm thì có
diện tích bằng bao nhiêu?
C4: Vậy 12 ô vuông như thế sẽ có diện
tích bằng bao nhiêu?
Hoạt động2: Khái quát hoá cách làm
Tỉ lệ học sinh giải toán có lời văn đạt T:
- Số học sinh biết giải toán có lời văn: 7 /11
- Số học sinh không biết giải toán có lời văn: 4 / 11
PHẦN III: KẾT LUẬN.
13
I. Những bài học kinh nghiệm
Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu SKKN này tôi nhận thấy rằng việc
giáo viên tìm hiểu và nghiên cứu đổi mới PPDH là rất cần thiết, nó tạo ra sự năng
động, sáng tạo và ham học hỏi ở người giáo viên.
Hơn nữa là giáo viên trực tiếp giảng dạy cần hiểu, nắm được tâm lý lứa
tuổi, mức độ nhận thức của từng đối tượng học sinh.các em yếu ở phần nào thì bồi
dưỡng, phụ đạo ở phần đó. Có kế hoạch và biện pháp cụ thể nhằm nâng cao dần
chất lượng của học sinh. Bản thân giáo viên là người tâm huyết với nghề nghiệp,
nhiệt tình với công việc, tích cực học hỏi qua đồng nghiệp, tài liệu tham khảo để
chắt lọc tích luỹ được những kiến thức, kĩ năng sư phạm cho mình.Vì vậy tôi mong
tất cả các giáo viên trong trường phải tích cực, chủ động nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ của mình, đổi mới PPDH nhằm đáp ứng sự đi lên của xã hội.
II. ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
Qua nghiên cứu tôi đã tìm hiểu sâu sắc hơn nội dung và PPDH Toán 3 trong
đó trọng tâm là mạch kiến thức về giải toán có lời vănvừa là để nâng cao chuyên
môn nghiệp vụđồng thời đưa ra được những biện pháp cụ thể để giúp cho học sinh
hứng thú học tập kích thích sự tư duy, sáng tạo và niềm say mê với toán học.
Qua vận dụng vào thực tế lớp tôi, tôi có được chất lượng tương đối đảm
bảo .Tỉ lệ học sinh không biết giải toán có lời văn đầu năm là 9 em, nhờ vận dụng
chuyên đề này tôi đã đưa chất lượng của lớp tôi đi lên đến cuối học kì I nhiều em
đã biết vận dụng giải toán có lời văn thành thạo .Cụ thể học không biết giải toán có
lời văn giảm còn 4 em.Bản thân tôi thiết nghĩ cần phải tiếp tục thực hiện chuyên đề
nàyđể đưa chất lượng của lớp đi lên.
III. Khả năng ứng dụng