Trọng tâm ôn thi và phạm vi ra đề THPT Quốc Gia môn Ngữ Văn 2015 - Pdf 28

Trọng tâm kiến thức&phạm vi ra đề THPT QG Môn Ngữ Văn 2015
NỘI DUNG ÔN TẬP THI THPT QUỐC GIA NĂM 2015 – MÔN NGỮ VĂN
Nghị luận văn học
PHẦN THƠ:
- Vội vàng – Xuân Diệu.
- Tràng giang – Huy Cận.
- Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử.
- Chiều tối – Hồ Chí Minh.
- Từ ấy – Tố Hữu.
- Tây Tiến – Quang Dũng.
- Việt Bắc – Tố Hữu.
- Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh.
PHẦN VĂN XUÔI:
- Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh.
- NĐC ngôi sao sáng trong VNDT – PVĐ.
- Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân.
- Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài.
- Vợ nhặt – Kim Lân.
- Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành.
- Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu.
- Hai đứa trẻ - Thạch Lam.
- Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân.
- Hạnh phúc của một tang gia – VTP.
- Chí Phèo – Nam Cao.
Nghị luận xã hội:
VỀ HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
Hiện tượng xấu:
I – MỞ BÀI : Nêu vấn đề
II – THÂN BÀI :

b. Phê phán tư tưởng trái ngược,bác bỏ.
3. Bài học nhận thức và hành động.
III – KẾT BÀI: Nêu cảm nghĩ của bản thân.
Tư tưởng xấu,nhiều tác hại:
I – MỞ BÀI : Nêu vấn đề.
II – THÂN BÀI:
1. Giải thích: Nếu là câu nói,ý kiến có hai vế thì
giải thích hai vế rồi giải thích cả câu.
2. Bàn luận:
a. Tác hại của tư tưởng
b. Phân thích những tư tưởng đúng trái ngược với
tư tưởng trên.
3. Bài học nhận thức và hành động:
III – KẾT BÀI : Nêu cảm nghĩ của bản thân.
1
Trọng tâm kiến thức&phạm vi ra đề THPT QG Môn Ngữ Văn 2015
Đọc hiểu:
1/ Kiến thức về từ:
- Nắm vững các loại từ cơ bản: Danh từ, động từ, tính từ, trợ từ, hư từ, thán từ, từ láy, từ ghép,
từ thuần Việt, từ Hán Việt…
- Hiểu được các loại nghĩa của từ: Nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa gốc, nghĩa chuyển, nghĩa biểu
niệm, nghĩa biểu thái…
2/ Kiến thức về câu:
- Các loại câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp
- Các loại câu phân loại theo mục đích nói (trực tiếp, gián tiếp).
- Câu tỉnh lược, câu đặc biệt, câu khẳng định, câu phủ định,…
3/ Kiến thức về các biện pháp tu từ:
- Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh, tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu,…
- Tu từ về từ: So sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh,
thậm xưng,…

Phần nghị luận xã hội, thí sinh tập trung những nội dung về tư tưởng đạo lý kết hợp hiện
tượng xã hội, vì các câu hỏi thường khơi gợi trình bày ý kiến về các sự kiện của đất nước, dân
tộc, những trào lưu xấu hoặc khuynh hướng tốt đẹp. Cần tăng khả năng đọc báo, xem tin tức,
chọn lọc thông tin, kiến thức về thời sự, thực tế.
Dạng 1 : Nghị luận về tư tưởng đạo lí
Dạng 2 : Nghị luận về hiện tượng xã hội
Dạng 3 ( khó ) : Nghị luận xã hội về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học
Cần ôn kĩ năng làm bài nghị luận xã hội. Tuyệt đối không nên học tủ đề nào, bởi vì nếu ”
lệch tủ” sẽ thất bại . Chỉ cần nắm vững cách làm, các bước làm bài, thì khi gặp đề nào chúng ta
cũng “xử lí” được.
Lưu ý :
Do đây là loại câu hỏi bắt buộc trong chương trình thi, nhưng lại không có những bài học
sẵn như nghị luận văn học, để làm tốt câu hỏi này, thí sinh cần phải nắm vững các vấn đề sau:
+ Phải biết phát huy mọi loại kiến thức, trong nhà trường cũng như trong cuộc sống để so
sánh, phát triển, vận dụng vào bài viết sao cho phong phú, sâu sắc, đầy đủ, cô đúc nhất.
+ Phải chủ động, mạnh dạn trong khi viết bài, vì không giống với nghị luận văn học, nói
chung người viết có thể dựa vào bài học có sẵn, hoặc được thầy cô giáo hướng dẫn, bài nghị
luận xã hội hoàn toàn buộc người viết phải chủ động đề xuất chính kiến của mình, có thể đúng
hay chưa đúng, được số đông chấp nhận hay không chấp nhận, miễn là nó thuyết phục được
người đọc bằng những lí lẽ xác đáng.
+ Dạng câu hỏi nghị luận xã hội chỉ được cho tối đa 3 điểm, nên dung lượng bài viết
cũng không nên quá dài. Trong yêu cầu cụ thể, đề thi có thể ghi rõ bài viết không vượt quá 600
từ, nghĩa là với khổ giấy thi được sử dụng chính thức như hiện nay, chỉ cần không quá 2 trang,
viết ngắn quả là khó hơn viết dài, thí sinh cần phải chú ý thời gian để không bị phân tán tư
tưởng, tránh ảnh hưởng đến phần bài làm khác. Để giúp học sinh làm quen với dạng đề thi này,
chúng tôi xin dẫn dưới đây một số câu hỏi tiêu biểu (mặc dù với dạng đề thi này, ở trường, học
sinh đã được dành thời gian và luyện tập nhiều).
b/ Nghị luận văn học:
* Xét trên phương diện thể loại, trong số các bài hạn chế có 13 tác phẩm thơ, 2 tác phẩm
kịch, 13 tác phẩm văn xuôi.

lí nhân vật. Ngôn ngữ trong tác phẩm của ông nhẹ nhàng, giàu chất thơ, trong khi Chữ người
tử tù của Nguyễn Tuân lại giàu chất tạo hình, có xu hướng hướng ngoại…
Nhóm các tác phẩm văn xuôi hiện thực gồm Chí Phèo của Nam Cao, Hạnh phúc của
một tang gia (trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng) trái lại rất khác nhau về phương thức thể hiện.
Trong khi Nam Cao, với cả hai tác phẩm của mình đều đào sâu tấn bi kịch của con người thời
kì trước cách mạng (Chí Phèo là tấn bi kịch người nông dân, rộng hơn là bi kịch con người
nhưng lại không được thừa nhận làm người, còn bên kia), chủ đề này chi phối văn phong sắc
sảo, chua chát, chân thực của Nam Cao, thì Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
lại sử dụng phương thức hoạt kê, cường điệu, phóng đại để miêu tả đám tang cụ Tổ, cuối cùng
nhằm phê phán gay gắt bộ mặt giả nhân giả nghĩa, đạo đức giả của những kẻ thượng lưu thành
thị qua gia đình cụ cố Hồng. Khác nhau về phương thức thể hiện, nhưng vì đều thuộc dòng văn
chương hiện thực nên cả Nam Cao và Vũ Trọng Phụng đều được đánh giá cao ở giá trị tố cáo
xã hội trong tác phẩm của họ.
Phần Thơ ca cách mạng giai đoạn 1930 – 1945 có hai nhà thơ mà chủ đề, nội dung tác
phẩm rất giống nhau, đó là Hồ Chí Minh và Tố Hữu. Cho dù số lượng tác phẩm được chọn
trong chương trình của hai nhà thơ này không cân bằng với nhau (Hồ Chí Minh hai bài và
phần khái quát tập thơ Nhật kí trong tù, Tố Hữu chỉ có duy nhất một bài trích trong tập thơ Từ
ấy), nhưng ở tác phẩm của họ đều toát ra vẻ đẹp của người cộng sản kiên cường bất khuất, khát
vọng tự do. Nếu cần so sánh một chút sắc thái khác nhau thì, với Tố Hữu đó là vẻ đẹp của
người thanh niên trẻ tuổi lần đầu tiên đến với cách mạng; với Hồ Chí Minh lại là người cộng
sản đã vững vàng qua thử thách thời gian.
Xếp ở nhóm những bài thơ từ sau cách mạng tháng Tám, trong vệt thơ kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ, phần hạn chế thi gồm ba bài: Tây Tiến, Việt Bắc, và Đất Nước. Bài
đầu tiên có chủ đề hình ảnh người lính (TT); bài thứ hai là bản sử thi về cuộc kháng chiến thần
thánh của dân tộc (Việt Bắc); và bài thứ ba, Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng)
là sự cảm nhận tư tưởng Đất Nước – Nhân dân hết sức độc đáo của nhà thơ Nguyễn Khoa
Điềm. Khi học các tác phẩm này, thí sinh nên chú ý mở rộng tham khảo những bài đọc thêm,
như Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đồng chí của
Chính Hữu, Cá nước của Tố Hữu…để so sánh; vì tất cả các bài thơ này đều nằm trong vệt thơ
ca có chủ đề cảm hứng quê hương đất nước hoặc chủ đề người lính trong kháng chiến. Ngoài

người dân các dân tộc thiểu số bằng một giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong
vị dân tộc” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 12, tập 2). Hai tác phẩm Rừng xà nu và Những đứa con
trong gia đình (Nguyễn Thi) nếu đặt trong tương quan với nhau, thuộc các tác phẩm văn xuôi
cách mạng miền Nam đã xây dựng thành công hình tượng người cách mạng trong những ngày
đầu chống Mĩ. Với Rừng xà nu lại là hình tượng người cách mạng Tây Nguyên; Những đứa
con trong gia đình lại là hình tượng người cách mạng Nam Bộ.
Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu:Chiếc thuyền ngoài xa. Đây là tác phẩm tiêu biểu
của thời kì văn học đổi mới tác giả có tác phẩm được lựa chọn đều là những cái tên rất sáng
giá. Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm mới này đều bộc lộ cái nhìn tinh tế trước
những biến đổi tinh vi của cuộc sống. Truyện của ông không còn đơn giản, không chỉ nhìn
hiện thực từ một chiều, không tô hồng hiện thực. Đặc biệt, ông khai thác thế mạnh của thể loại
truyện ngắn, trong đó, tình huống truyện được đặc biệt chú ý. Với Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu, đó là tình huống “nhận thức”: hoạ sĩ Phùng bất ngờ phát hiện ra sự nghịch
lí của vẻ đẹp bề ngoài và hiện thực bên trong của một cặp vợ chồng người thuyền chài trên
chiếc thuyền đánh cá vào buổi sáng mai; Với Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu lại
muốn đưa ra triết lí: đừng bao giờ nhìn và đánh giá cuộc sống chỉ qua cái bề ngoài. Cái bề
ngoài rất dễ đánh lừa người khác.
Hai tác phẩm nghị luận Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh và Nguyễn Đình Chiểu,
ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc của Phạm Văn Đồng, tuy không cùng thời điểm,
nhưng nếu đặt cạnh nhau, ta cũng có thể có được sự so sánh. Tác phẩm thứ nhất của chủ tịch
Hồ Chí Minh viết năm là một văn bản chính luận hiện đại với hệ thống lý lẽ đanh thép và hệ
thống dẫn chứng hùng hồn không thể chối cãi, có sức thuyết phục cao - phải là kết quả của cả
một quá trình trăn trở, suy ngẫm trong hành trình tìm đường cứu nước qua nhiều quốc gia trên
thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là kết quả của thực tiễn lãnh đạo tài tình đưa cách mạng
Việt Nam đến thắng lợi của Người. Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện sự sáng suốt, nhạy bén và
tầm nhìn chiến lược sâu rộng, khả năng dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là kết quả
5
Trọng tâm kiến thức&phạm vi ra đề THPT QG Môn Ngữ Văn 2015
của tầm nhìn sâu rộng, của bao suy nghĩ trăn trở, và hơn cả là của một tấm lòng luôn luôn
hướng về đất nước, về nhân dân của Hồ Chủ tịch. Trong khi đó, tác phẩm của Phạm Văn Đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status