BÁO CÁO BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG XÃ HỘI CON NGƯỜI - Pdf 28

BÁO CÁO BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
XÃ HỘI CON NGƯỜI
Tìm hiểu về bình đẳng giới và pháp
triển văn minh bình đẳng giới trong xã
hôi loài người.
ĐH Sư Phạm Hà Nội
2015
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
Lời mở đầu
hực chất của cụm từ "bình đẳng giới" chính là bình đẳng nam nữ và là một
trong những vấn đề cơ bản của quyền con người. Xã hội ngày càng phát
triển và văn minh thì bình đẳng giới càng được chú trọng và thể hiện ở
mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lý. Bình đẳng giới
trong hoạt động quản lý không đơn giản là nam - nữ có số lượng ngang nhau tham
gia vào hoạt động quản lý; cũng không có nghĩa coi nam, nữ là giống nhau, không
tính đến yếu tố tâm sinh lý, yếu tố xã hội của từng giới trong hoạt động quản lý.
Bình đẳng giới trong hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ nam và nữ cùng có vị thế xã
hội như nhau khi tham gia và thực hiện quản lý; sự tương đồng và khác biệt của
nam và nữ (dưới góc độ giới và giới tính) được thừa nhận và được coi trọng như
nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của từng giới; cả nam và nữ đều có cơ hội,
nghĩa vụ và quyền lợi như nhau trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý, được
hưởng các lợi ích bình đẳng như nhau theo các nguyên tắc nhất định.
T
Ở nước ta hiện nay, vẫn còn tình trạng tỷ lệ và cơ cấu giữa nam và nữ chưa
được bảo đảm trong các cơ quan nhà nước, bình đẳng hơn về giới trong lĩnh vực
chính trị và quản lý nhà nước vừa thể hiện mức độ tiến bộ của phụ nữ trong xã hội
so với nam giới đồng thời là một trong những cách hiệu quả nhất nhằm đảm bảo
sự tiến bộ liên tục. Xã Nghĩa Đạo – huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh nhiều
năm qua chưa từng có một vị nữ chủ tịch nào, cũng như phó chủ tịch. Khi bước
vào trụ sở UBND xã để xin tài liệu, em cũng không bắt gặp một cán bộ phụ nữ
nào. Điều này làm em cảm thấy rất ngỡ ngàng, dù đã nhiều lần đến trụ sở UBND

3.2. Hoạt động quả lý tại cộng đồng và chính quyền 13
Chương 4:
MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

14
4.1. Nguyên nhân 14
4.2. Giải pháp 15
Kết luận 17
Tài liệu tham khảo 18
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
Bảng:
Bảng 1: Số học sinh Nam, Nữ trong các cấp học 9
Bảng 2: Danh sách cán bộ công chức, chuyên trách xã Nghĩa Đạo năm 2011 12
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
Chương 1:
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG CƯỜNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUẢN LÝ
1.1. Lý luận cơ bản về giới.
1.1.1. Khái niệm giới và giới tính.
Giới là một phạm trù được sử dụng để nói về các vai trò, thái độ của giới
tính do kỳ vọng các cộng đồng, xã hội gán cho; là sự khác nhau giữa phụ nữ và
nam giới xét về mặt xã hội, mang tính xã hội, không đồng nhất, có thể thay đổi
được.
VD: - xét trong mối quan hệ hiện nay thì nam giới thường giữ các chức vụ
lãnh đạo, phụ nữ thường làm các công việc thừa hành
Giới tính: là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và
nam giới về mặt sinh học, mang tính bẩm sinh, đồng nhất và không
thể thay đổi được.
VD: - Phụ nữ có kinh, sinh con và nuôi con bằng sữa.
- Nam giới có tinh trùng.

1.2. Lý luận về bình đẳng giới trong quản lý.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm thực hiện vấn đề bình
đẳng nam nữ. Điều này đã được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và pháp luật
của Nhà nước. Gần đây nhất là Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày
27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất
nước; năm 2006 Nhà nước đã ban hành Luật Bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu
xoá bỏ sự phân biệt đối xử về giới. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của đất
nước, trong hoạt động quản lý, vấn đề bình đẳng giới thường xuyên được Đảng và
Nhà nước quan tâm chỉ đạo, đã đạt nhiều kết quả to lớn. Điều đó được thể hiện ở
các nội dung như: về cơ bản các quy định về quyền và nghĩa vụ của nam và nữ là
như nhau trong hoạt động quản lý; các quy định về đánh giá, khen thưởng, kỷ luật
không phân biệt nam và nữ; tuổi dự tuyển công chức đối với cả nam và nữ hiện
nay là như nhau: nói chung là từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi; quy chế bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo, tuổi bổ
nhiệm lần đầu cho các vị trí lãnh đạo từ cấp trưởng, phó phòng cấp huyện và
tương đương trở lên cho cả nam và nữ đều như nhau. Khi thực hiện miễn thi ngoại
ngữ trong các kỳ thi hoặc xét nâng ngạch công chức, viên chức thì cán bộ, công
chức nữ được giảm 5 tuổi so với nam giới. Điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự tuyển
cán bộ, công chức do Nhà nước ban hành không cho phép phân biệt giới tính trong
tuyển dụng. Cơ quan nào quy định chỉ nhận hồ sơ nam hoặc chỉ nhận hồ sơ nữ,
quy định ưu tiên đối với nam giới (hoặc ưu tiên nữ giới) là trái với quy định của
Nhà nước. Chính sách tiền lương và các chế độ phụ cấp chi trả không phân biệt
nam và nữ. Trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, Quy chế cử công chức đi đào tạo,
bồi dưỡng ở nước ngoài bằng nguồn Ngân sách nhà nước đã quy định tuổi cử đi
đào tạo, bồi dưỡng của nam và nữ là bằng nhau.
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
Chương 2:
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ NGHĨA ĐẠO
2.1. Đặc điểm tự nhiên.
2.1.1. Vị trí địa lý.

trên 8000 người, trong đó dân số nông nghiệp là 7380 người chiếm 92.25%.
2.2.2. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống.
Cơ sở hạ tầng là rất quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội của địa
phương, là tiền đề cho việc mở rộng và phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật
chất tinh thần của người dân. Do đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng phải đặc biệt coi
trọng nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng ta tiến hành công cuộc công nghiệp
hoá - hiện đại hoá và nông nghiệp, nông thôn đất nước nói chung, thực hiện
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn xã Nghĩa Đạo nói riêng.
Cơ sở vật chất phục vụ đời sống xã hội của xã khá hoàn chỉnh, xã có một
trạm y tế đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2002- 2010, với 11 giường bệnh, trạm y tế
xã là một trong tám trạm y tế trong toàn huyện được phép nhận khám và điều trị
bệnh cho nhân dân có bảo hiểm y tế. Hệ thống cơ sở vật chất cho giáo dục thường
xuyên được quan tâm xây dựng và tăng cường, hiện nay trường Tiểu học đạt
chuẩn Quốc gia mức độ II và đón nhận huân chương lao động hạng ba và Trung
học cơ sở đã cơ bản đủ số phòng học kiên cố để dạy và học tốt, trường Mầm non
đạt chuẩn quốc gia mức độ I
Hiện nay xã có 100% số hộ dùng điện lưới quốc gia, toàn xã có năm sân vận
động, thoả mãn nhu cầu vui chơi và rèn luyện sức khoẻ của nhân dân. 9/9 thôn
trong xã có nhà văn hoá thôn, là nơi hội họp và sinh hoạt, tổ chức các hoạt động
văn hoá văn nghệ của nhân dân. Xã có 9/9 thôn được công nhận đạt làng văn hoá
Trong công cuộc đổi mới, nhất là đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn, thì giao
thông nông thôn là vô cùng quan trọng. Đến nay toàn xã Nghĩa Đạo đã bê tông hoá
được 16 km, còn lại tất cả các đường trong thôn xóm đã được lát gạch.
2.2.3. Trình độ dân trí.
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
Trình độ dân trí của nhân dân trong xã nhìn chung là còn thấp, trong những
năm gần đây phong trào giáo dục, khuyến học của xã phảt triển tương đối tốt. Cụ
thể là:
Cấp học
Năm 2009 năm 2010 Năm 2011

đang được nông dân trong toàn xã hết sức phấn khởi và yên tâm phát triển sản xuất.
Đây chính là động lực rất lớn tạo niềm tin cho nông dân của xã định hướng và chú
trọng phát triển sản xuất góp phần vào việc phát triển nền kinh tế - xã hội toàn diện
của xã.
2.3.2. Khó khăn.
Nhu cầu về vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, để phát triển sản xuất là rất lớn
trong khi đó khả năng về tài chính ngân sách của xã thì có hạn cho nên một số
công trình giao thông, thuỷ lợi, công trình phúc lợi còn thiếu và đang xuống cấp
cần được sửa chữa và xây mới chưa được đáp ứng.
Các ngành sản xuất hiệu quả kinh tế còn chưa cao, còn gặp nhiều khó khăn
trong tiêu thụ sản phẩm, quản lý kinh tế hợp lý hoá quá trình sản xuất và đặc biệt
vốn đầu tư còn rất hạn hẹp.
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng còn chậm, chưa phát huy
được hết tác dụng, sự tiếp thu khoa học công nghệ mới còn nhiều hạn chế đặc
biệt là một số hộ nông dân vẫn mang nặng tính kinh nghiệm và tập quán sản
xuất cũ, sản xuất còn manh mún chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hiện
tại.
Đây là một số khó khăn cơ bản cần được giải quyết để đẩy mạnh và phát
triển sản xuất, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
Chương 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ Ở XÃ NGHĨA ĐẠO
3.1. Hoạt động quản lý trong hộ gia đình.
“Gia đình ngày nay có nhiều tiến bộ hơn so với gia đình truyền thống trước
kia.” - đó là lời nhận định của chú Nguyễn Văn Chuyển – cán bộ văn hóa thông
tin xã. Theo chú cho biết, hiện tại số gia đình hai thế hệ trong xã chiếm đông hơn
số gia đình ba thế hệ; vị trí của phụ nữ trong gia đình ngày càng được tôn trọng thể
hiện ở điểm đã có một số hộ gia đình có phụ nữ đứng tên trong sổ chứng nhận
quyền sử dụng đất (tên thường gọi là Sổ Đỏ); trong gia đình, yếu tố đoàn kết, nhất
trí kiểu “thuận vợ, thuận chồng” đã được đẩy mạnh. Các đặc điểm này hoàn toàn

4 NGUYỄN VĂN LỊCH P. CHỦ TỊCH HDND
5 HOÀNG VĂN HỢP P. CHỦ TỊCH UBND
6 NGUYỄN THANH TÙNG P. CHỦ TỊCH UBND
7 NGUYỄN ĐỨC ÁNH CHỦ TỊCH MTTQ
8 NGUYỄN THỊ MƠ CT. HỘI PHỤ NỮ
9 NGUYỄN VĂN CHUYỂN CÁN BỘ VHTT
10 VƯNG VĂN VỮNG KẾ TOÁN NS
11 NGUYỄN TỬ VŨ TƯ PHÁP , HỘ TỊCH
12 NGUYỄN VĂN TƯƠI CÁN BỘ LĐTBXH
13 PHẠM VĂN HƯNG VĂN PHÒNG – T, KÊ
14 ĐINH QUANG LUYỆN BÍ THƯ ĐOÀN
15 ĐỖ VĂN CẨN CHỦ TỊCH HỘI CCB
16 NGUYỄN VĂN VIÊN CHỦ TỊCH HỘI ND
17 LÊ VĂN THÁI ĐỊA CHÍNH, XD
18 VŨ MINH TÚ VĂN PHÒNG UBND
19 NGUYỄN ĐỨC TUYẾN ĐÀI TRUYỀN THANH
20 NGUYỄN ĐỨC DU GT – THUỶ LỢI
21 LÊ XUÂN THÀNH TƯ PHÁP , HỘ TỊCH
22 LƯU CHÍ TUYẾN TƯ PHÁP , HỘ TỊCH
23 NGUYỄN VĂN TỘ TRƯỞNG CA
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
Chương 4
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
4.1. Nguyên nhân.
 Nguyên nhân dẫn tới bất bình đẳng giới trong hoạt động quản lý gia đình là:
- Vẫn còn ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng sự biến đổi
chậm chạp của ý thức xã hội, các thiên kiến về giới bám rễ lâu đời trong
một số tầng lớp nhân dân.
- Vẫn tồn tại việc xem trọng gia đình của người phụ nữ và hầu như nam
giới chưa thay đổi quan niệm trụ cột của mình với gia đình. Chính họ đã

cơ hội vào cac vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ thấp hơn so
với nam giới.
4.2. Giải pháp.
 Một số giải pháp để thực hiện bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức và nâng cao
ý thức thực hiện về bình đẳng giới cho cả hai giới nhằm xây dựng gia
đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Với vai trò là người bà, người
mẹ, người vợ, người chị, người em gái trong gia đình, phụ nữ cần tạo
điều kiện cho các thành viên nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia
các họat động về bình đẳng giới; phân công hợp lý; hướng dẫn và động
viên các thành viên nam trong gia đình chia sẻ công việc gia đình; đối xử
công bằng đối với các thành viên nam, nữ.
- Với vai trò là công dân, phụ nữ và hội viên phụ nữ cần xóa bỏ tâm lý tự
ti, an phận, cam chịu và định kiến giới; có ý chí tự cường, tự lập, tự nâng
cao trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, nâng cao nhận thức, hiểu
biết về bình đẳng giới; tích cực tham gia các họat động vì bình đẳng giới
của các cấp Hội phụ nữ, Ban vì sự tiến bộ phụ nữ và các cơ quan, tổ
chức, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và hướng dẫn thực hiện những
hành vi đúng về bình đẳng giới; lên án, ngăn chặn những hành vi phân
biệt đối xử về giới; giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới
của cộng đồng, của các cơ quan, tổ chức và công dân.
- Tăng cường đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình - tiền đề quan trọng
nâng cao vai trò kinh tế của phụ nữ và nam giới trong gia đình.
- Động viên phụ nữ phấn đấu vươn lên trong cuộc sống.
 Một số giải pháp để thực hiện bình đẳng giới trong chính quyền.
Luật Bình đẳng giới đã được Nhà nước ban hành và có hiệu lực từ năm
2006, vấn đề bình đẳng giới trong cải cách hoạt động quản lý cần được quan
tâm đúng mức và tuân thủ pháp luật về bình đẳng giới. Điều này cần được
thực hiện dưới hai góc độ
- Thứ nhất, lồng ghép các quy định về bình đẳng giới vào các nội dung

 Phụ nữ nghỉ sinh con theo quy định của pháp luật thì phải được bảo
đảm quyền lợi về nâng lương, nâng ngạch, quy hoạch đào tạo, bồi
dưỡng.
 Không được sử dụng phụ nữ có thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi
con nhỏ dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.
 Không cản trở việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm nam hoặc nữ vào vị
trí lãnh đạo, quản lý hoặc các vị trí, chức danh chuyên môn vì định kiến
giới.
 Không thực hiện biệt phái hoặc giải quyết thôi việc đối với nữ trong thời
gian đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.
 Đối với độ tuổi nghỉ hưu của nữ nên có chính sách nâng độ tuổi nghỉ
hưu lên bằng như nam giới đối với một số trường hợp có đủ sức khoẻ,
tự nguyện và là chuyên viên cao cấp, chuyên gia, phó giáo sư, giáo sư,
tiến sĩ, một số các chức danh lãnh đạo cụ thể ở cấp tỉnh, cấp bộ.
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
SV: Nguyễn Xuân Thảo – ĐH SƯ PHẠM HÀ NỘI - 2015
KẾT LUẬN
hực hiện và triển khai vấn đề bình đẳng giới là một xu hướng của thời
đại ngày nay, thể hiện tính văn hóa cao của một xã hội. Qua nghiên
cứu đề tài: “Tăng cường bình đẳng giới trong hoạt động quản lý tại xã
Nghĩa Đạo – Thuận Thành – Bắc Ninh”, chúng ta có thể nhận thấy rằng ở nơi đây
vẫn còn có nhiều bất cập về vấn đề bình đẳng giới. Mặc dù luật bình đẳng giới đã
quy định: “Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quả lý nhà nước, tham gia hoạt động
xã hội”, nhưng phụ nữ vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi tham gia hoạt động quản lý
nói chung. Hiện nay, ở xã Nghĩa Đạo do tỷ lệ nam, nữ trong bộ máy chính quyền
là quá chênh lệch, và đa số người dân cũng còn chưa có nhận thức về bình đẳng
giới, nên việc thực hiện các dự án nâng cao nhận thức của người dân về bình đẳng
giới ở đây là rất cần thiết, cũng như việc triển khai các chương trình hành động vì
sự tiến bộ của phụ nữ nói chung. Qua bảng 1, chúng ta có thể hy vọng về một thế
hệ phụ nữ có trình độ học vấn cao, ngang bằng nam giới sẽ đem lại sự bình đẳng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status