CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Như đã biết Bể trầm tích Cửu Long là một bể có triển vọng dầu khí lớn
nhất tại nước ta hiện nay tuy nhiên lượng dầu khí mà chúng ta khai thác được
chỉ chiếm một phần nhỏ trữ lượng của Bể. Bởi vậy để thu được sản lượng dầu
khí cao nhất có thể chúng ta cần phải lựa chọn các phương pháp nghiên cứu
có hiệu quả. Trên cơ sở tổng hợp tài liệu vùng nghiên cứu và với mục tiêu của
luận án đề ra chúng tôi lựa chọn tổ hợp các phương pháp sau:
• Phương pháp phân tích bể trầm tích
• Phương pháp minh giải và phân tích địa chấn địa tầng
• Phương pháp phân tích Karota
• Phương pháp lập và phân tích mặt cắt phục hồi
• Phương pháp phân tích hệ thống dầu khí
• Phương pháp xác định môi trường lắng đọng và phân hủy VCHC
• Phương pháp đánh giá độ giàu VCHC của đá mẹ
• Phương pháp xác định loại Kerogen
3.1 . PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BỂ TRẦM TÍCH
Khi nghiên cứu bất kỳ một bể trầm tích nào đó thì phần không thể thiếu
được là làm sáng tỏ ranh giới bồn trầm tích, phân loại kiểu bồn trầm tích,
các thành phần trầm tích lấp đầy trong bể và sự phát triển của bể trong từng
thời kỳ. Để làm sáng tỏ các yếu tố trên của một bể trầm tích thì phương pháp
“Phân tích bể trầm tích” là một công cụ hữu hiệu để nghiên cứu vì bằng
phương pháp này các quá trình tiến hóa địa chất của một bồn trầm tích được
nghiên cứu dựa trên chính đặc điểm của các trầm tích lấp đầy trong bể. Các
khía cạnh nghiên cứu về trầm tích cụ thể là thành phần thạch học, các cấu
trúc ban đầu và kiến trúc bên trong được tổng hợp và hình thành nên lịch sử
chôn vùi của bồn trầm tích. Sự tổng hợp này có thể cho thấy bồn trầm tích
được hình thành trong từng giai đoạn khác nhau cùng với quá trình lấp đầy
trầm tích bao gồm từ vận chuyển lắng đọng như thế nào và nguồn trầm tích
lấp đầy bể. Cũng như các mô hình người ta có thể phát triển và giải thích
các cơ chế thành tạo bể trầm tích.
• Các ranh giới mảng
3.2 PHƯƠNG PHÁP MINH GIẢI VÀ PHÂN TÍCH ĐỊA CHẤN ĐỊA
TẦNG
Nội dung phương pháp địa chấn địa tầng được trình bày trong nhiều tài liệu
tham khảo. Ở đây, học viên chỉ khái quát một số vấn đề chính phục vụ cho quá
trình nghiên cứu
Để chính xác hóa cấu trúc địa chất của trầm tích Kainozoi bể Cửu Long và
bên cạnh các số liệu địa chất, địa vật lý giếng khoan (GK) đòi hỏi phải khai
thác triệt để và chi tiết hơn các số liệu địa chấn.
Phân tích mặt cắt địa chấn cần phải dựa vào hai nguyên tắc sau:
Xác định mối liên hệ giữa các đặc điểm của trường sóng địa chấn với lát
cắt địa chất quan sát được ở các GK để từ đó xây dựng các mẫu chuẩn. Tiếp
theo dựa vào các mẫu chuẩn lựa chọn được tiến hành nhận dạng địa chất
trường sóng địa chấn.
Vì các GK thường được bố trí rải rác ở những điểm nhất định, mặt khác
chúng chỉ tồn tại ở những khối nhô của móng nên để phân tích các tài liệu địa
chấn, chắc chắn chủ yếu phải dựa vào các chỉ tiêu và nguyên tắc của phương
pháp địa chấn địa tầng. Chỉ dựa vào các nguyên tắc và chỉ tiêu của địa tầng
địa chấn chúng ta mới có khả năng xác định chính xác các vị trí của các ranh
giới và theo dõi chúng trong toàn bộ không gian. Theo chúng tôi ngay cả
những trường hợp khi đã xác định được những tồn tại các ranh giới địa tầng
theo các số liệu địa chất GK thì việc chính xác hoá chúng trên các mặt cắt địa
chấn dựa vào các chỉ tiêu địa chấn địa tầng vẫn cần thiết. Trong những điều
kiện cấu trúc địa chất phức tạp, đặc biệt khi những điều kiện tướng và môi
trường thay đổi phức tạp như ở phần dưới lát cắt của các mỏ Rồng và Bạch
Hổ thì việc liên kết đơn thuần các số liệu GK chắc chắn sẽ không đơn giản. Vì
vậy khai thác các mặt cắt địa sẽ được triển khai để giải quyết các nhiệm vụ
sau:
+ Chính xác hoá các ranh giới phức tập (sequence).
+ Xác định các ranh giới phân tập và nhóm phân tập, các miền hệ thống
trầm tích trong tập địa chấn.
phải là tập hạt mịn liên quan tới các tập biển tiến và tập biển cao
(Trangressive systems tract hay tập highstand systems tract)
Dựa vào các phương pháp mô tả trên, đối với các mặt cắt địa chấn chúng
tôi đã xác định được các ranh giới địa chấn địa tầng. Riêng bể Cửu Long đặt
tên trùng với tên các ranh giới địa chấn đã được Vietsovpetro gọi tên. Từ dưới
lên trên là bề mặt móng âm học SH11, SH10, SH8, SH5, SH3, SH2, SH1.
• Xác định móng âm học
Móng âm học được thể hiện ở dưới bởi các đặc điểm sau của trường sóng
địa chấn:
- Trường sóng trắng, tự do với các sóng phản xạ lập từ móng và các sóng
phản xạ, phản xạ từ bề mặt của các đứt gãy cắt qua các thành tạo trước
Kainozoi.
- Bề mặt phản xạ kém liên tục, chứng tỏ bề mặt móng bị các hoạt động
đứt gãy và bị quá trình phong hoá phá huỷ rất mạnh.
- Địa hình mặt móng bị phân cắt bởi các khối nâng nằm xen kẽ giữa các địa
hào, bán địa hào
Đè lên trên móng âm học là các thành tạo trầm tích có các đặc điểm sau:
- Thể hiện tính phân lớp liên quan tới quá trình trầm tích
- Tồn tại các mặt phân lớp dạng onlap, nằm đè kề áp vào các sườn các khối
nhô; ngoài ra tồn tại các trục đồng pha dạng chống và gá đáy hai phía liên
quan đến các quạt aluvi.
• Xác định ranh giới các nhóm phân tập và phân tập
Mỗi phức tập được giới hạn bởi hai ranh giới đáy và nóc. Hai ranh giới đó
chính là hai bề mặt gián đoạn trầm tích hoặc bề mặt chuyển tiếp hai môi
trường đột ngột tạo nên mặt phản xạ sóng địa chấn mạnh. Các trường sóng địa
chấn ở phần thấp các phức tập trường sóng có trục đồng pha cong, thô đứt
đoạn, đôi khi hỗn độn thường bị bào mòn cắt xén (truncation) và có cấu tạo
bên trong phủ chồng lùi (downlap) biểu thị trầm tích hạt thô thuộc hệ thống
trầm tích biển thấp, môi trường lòng sông, nón quạt cửa sông và prodelta.
Phức hệ biển thấp thường tạo thành 3 phức hệ tướng tương ứng với 3