những cơ hội và thách thức của ngành bán lẻ Việt Nam trước ngưỡng của WTO - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu :
Cácdoanh nghiệp tồn tại trong thị trường cạnh tranh phải có những vị trí nhất định ,
chiếm lĩnh những thị phần nhất định . Đây là điều kiện duy nhất duy trì sự tồn tại của
doanh nghiệp đó trong thị trường . Sự tồn tại của doanh nghiệp luôn bị các đối thủ khác
bao vây .Vì vậy để tồn tại các doanh nghiệp phải vận động và biến đổi ít nhất là ngang
bằng với đố thủ cạnh tranh .
Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO thì các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt
với rất nhiều thách thức . Ngành bán lẻ Việt Nam là một trong những ngành mở cửa đầu
tiên theo lộ trình gia nhập WTO , vì vậy phát triển ngành là hết sức quan trọng và có ý
nghĩa sống còn với các doanh nghiệp .
Bài viết của tôi chỉ tập trung nói về những cơ hội và thách thức của ngành bán lẻ Việt
Nam trước ngưỡng của WTO .Bài viết gồm nhưng phần chính sau :(Trang)
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tiến trình đàm phán gia nhập của Việt Nam(1)
Môi trường kinh doanh ở Việt Nam nhìn từ 10 tiêu chí (4)
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ PHÂN PHỐI Ở VIỆT NAM (8)
phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam (13)
Định vị ngành bán lẻ Việt Nam(19)
Bán lẻ Việt Nam: Bắt tay hay sống lay lắt? (21)
Thị trường bán lẻ đang hấp đẫn (23)
Thấy gì từ thị trường bán lẻ Việt Nam ?(26
Định hướng thương hiệu cho ngành bán lẻ Việt Nam (30)
Cạnh tranh với các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài: Cần chuyên nghiệp hóa kênh phân
phối hàng hóa (35)
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tiến trình đàm phán
gia nhập của Việt Nam
I. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) ra đời ngày 1/1/1995. Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về
Thương mại và Thuế quan (GATT), thành lập 1947. Trong gần 50 năm hoạt

được phân biệt đối xử giữa các sản phẩm, dịch vụ và công dân của nước mình và nước
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ngoài - tất cả phải được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia - NT);
- Thúc đẩy thương mại tự do hơn (thông qua thương lượng loại bỏ các hàng rào cản thuế
quan và phi thuế quan);
- Đảm bảo tính ổn định/tiên đoán được bằng các cam kết minh bạch hoá (các công ty, các
nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài phải được đảm bảo rằng, các rào cản thương mại, kể
cả thuế, các rào cản phi quan thuế và các biện pháp khác, không được nâng lên một cách
độc đoán; ngày càng có nhiều mức thuế và cam kết mở cửa thị trường mang tính ràng buộc
tại WTO);
- Thúc đẩy cạnh tranh công bằng (bằng cách loại bỏ các hoạt động mang tính "không công
bằng" như trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá nhằm tranh giành thị phần);
- Khuyến khích cải cách và phát triển kinh tế: Các nước đang phát triển chiếm ¾ thành
viên của WTO. WTO có các qui định dành cho các nước này nhiều thời gian hơn, điều
kiện linh hoạt hơn và một số ưu đãi đặc biệt hơn để điều chỉnh nền kinh tế trong quá trình
thực hiện các cam kết tự do hoá của mình. Tuy nhiên, việc chiếu cố này không phải mặc
nhiên, mà có được là trên cơ sở đàm phán với các thành viên WTO.
II. Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam
Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO tháng 1/1995. Năm 1996, tại WTO, Nhóm
Công tác (WP) về Việt Nam gia nhập WTO được thành lập với sự tham gia của trên 20
nước (hiện nay con số này là gần 40). Từ năm 1996 đến 2001, đàm phán tập trung chủ yếu
vào việc làm rõ chế độ và chính sách thương mại của ta, với việc ta phải trả lời hơn 2000
câu hỏi có liên quan đến chính sách thương mại, kinh tế, đầu tư.
Đến tháng 8/2001, ta chính thức đưa ra Bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ (Ininitial
Offer) để bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các nước thành
viên Ban Công tác.
Về đàm phán song phương: Với việc ta và Hoa Kỳ ký thỏa thuận chính thức kết thúc đàm
phán song phương về gia nhập WTO của Việt Nam (TP Hồ Chí Minh, ngày 31/5/2006), ta
đã chính thức hoàn tất đàm phán với toàn bộ 28 đối tác yêu cầu đàm phán với ta. Ta đang

Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2008 (Doing Business 2008) của WB chỉ đánh giá
mức độ cải cách trong mỗi lĩnh vực chứ không phải hiện trạng của lĩnh vực đó. Môi trường
kinh doanh mà nhà đầu tư gặp phải khi làm ăn tại một nước được WB đánh giá theo 10
tiêu chí, từ lúc bắt đầu thành lập một doanh nghiệp cho đến khi giải thể doanh nghiệp. Mỗi
tiêu chí được đánh giá theo một số chỉ số và so sánh với các quốc gia khác để xếp hạng
Tính tổng thể, Việt Nam xếp hạng 91 trong 187 nền kinh tế được khảo sát và thăng hạng
13 bậc so với xếp hạng năm trước. Trong 10 tiêu chí xếp hạng chỉ có 5 tiêu chí có thứ hạng
cao hơn năm ngoái; một tiêu chí không đổi và 4 tiêu chí còn lại đều tụt hạng.
Tiêu chí 1: Thành lập doanh nghiệp
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày
và một khoản chi phí tương đương với 20% thu nhập bình quân đầu người.
Tuy nhiên, Việt Nam đã tiến hành một số cải cách nhằm giảm thời gian thành lập doanh
nghiệp ở Việt Nam nhưng chưa được báo cáo cập nhật. Luật doanh nghiệp mới có hiệu lực
tháng 7/2006 giảm số ngày cấp phép đăng ký kinh doanh ở Việt Nam nhưng cải cách này
chưa được phản ánh trong chỉ số tương ứng của Việt Nam năm nay.
Việc thực hiện quy trình một cửa tiến hành tháng 3/2007 với 3 bước chính trong thủ tục
thành lập doanh nghiệp là giấy đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế, và giấy phép khắc dấu
cũng chưa được đưa vào báo cáo năm nay. Vì vậy, chỉ số “Thời gian thành lập doanh
nghiệp của Việt Nam” vẫn giữ nguyên 50 ngày như năm ngoái. So với năm ngoái, vị trí
của Việt Nam không thay đổi vẫn ở hạng 97.
Tiêu chí 2: Cấp giấy phép
Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt động kinh
doanh trong ngành xây dựng ở Việt Nam tương đối cao so với các nước trong khu vực.
Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 194 ngày và 373,6% thu nhập bình quân đầu người, trong
khi mức bình quân toàn khu vực là 185% mức thu nhập bình quân; thậm chí nước láng
giềng Thái Lan chỉ là 10,7%.
Bức tranh về giấy phép ở Việt Nam đã tụt 38 bậc từ hạng 25 xuống hạng 63. Tuy nhiên,
theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đây là thứ hạng trung thực hơn so với năm ngoái

Việt Nam đang xúc tiến việc xây dựng tổ chức đăng ký thông tin tín dụng tư nhân. Khi tổ
chức này được hình thành và các điều kiện pháp lý cần thiết cho hoạt động của nó được
ban hành chắc chắn sẽ giúp cho việc tiếp cận thông tin tín dụng ở Việt Nam được dễ dàng
hơn.
Tiêu chí 6: Bảo vệ nhà đầu tư
Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này. Tiêu chí 6 xem
xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm
pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái.
Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2,7/10. Chỉ số về trách nhiệm của giám đốc nằm trong
nhóm thấp nhất thế giới (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp
(2/10 và 6/10). Năm nay, thứ hạng của tiêu chí này là 165/178.
Tiêu chí 7: Đóng thuế
Theo báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn nhiều thời gian nhất để
đáp ứng các yêu cầu về thuế. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của
doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050
giờ làm việc trong khi ở Indonesia là 266 giờ làm việc.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tiêu chí 8: Thương mại quốc tế
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục đã
giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu
loại hồ sơ, mất 24 ngày và tốn 669 USD. Trong khi đó, Trung Quốc chi phí thời gian
không thấp hơn Việt Nam là 21 ngày nhưng chi phí tiền bạc lại thấp hơn đáng kể, chỉ 390
USD.
Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có 8 loại hồ sơ, mất 23 ngày và
881 USD. Việc phải chịu chi phí cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực đang gây
ảnh hưởng không nhỏ cho tính cạnh tranh của Việt Nam. Năm nay, Việt Nam xếp hạng
trung bình 63/178.
Tiêu chí 9: Thực thi hợp đồng
Ở Việt Nam, doanh nghiệp chỉ phải trải qua 34 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá trị

VIỆT NAM
Cam kết quốc tế đối với dịch vụ phân phối :
Cho đến tháng 3 năm 2005, nước ta đã có cam kết về mở cửa thị trường phân phối cho
hai nước là Mỹ (BTA) và Nhật Bản (Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt-Nhật), Việt
Nam cũng đang tiến hành đàm phán về mở cửa thị trường phân phối trong khuôn khổ đàm
phán gia nhập WTO và trong 1-2 năm tới, nước ta cũng sẽ tham gia đàm phán về dịch vụ
phân phối trong khuôn khổ các Khu vực mậu dịch tự do ASEAN với các đối tác (ASEAN
Cộng).
Phạm vi cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA) (có hiệu lực từ ngày
10/12/2001) về dịch vụ phân phối bao gồm 4 phân ngành chính của dịch vụ phân phối là
bán buôn, bán lẻ, đại lý và nhượng quyền thương mại.
Trong BTA, Việt Nam không cam kết về việc pháp nhân Mỹ được mở đại lý phân phối,
dịch vụ nhượng quyền thương mại thực hiện cam kết theo tiến trình xây dựng pháp luật và
quy định về nhượng quyền thương mại trong nước.
Phương thức: Không cam kết Phương thức 1 (đồng nghĩa với việc kiểm soát phân phối
theo đơn đặt hàng qua mạng) và 4 (không cam kết về việc công dân Mỹ vào Việt Nam để
phân phối hàng độc lập). Không hạn chế Phương thức 2. Phương thức 3 có 3 mốc quan
trọng:
10/12/2004: Cho phép thành lập liên doanh với vốn góp không vượt quá 49%
10/12/2007: Cho phép thành lập liên doanh với vốn góp trên 49% nhưng chưa được 100%.
10/12/2008: Cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Việc mở thêm điểm
bán lẻ ngoài điểm bán lẻ đầu tiên sẽ được xem xét cấp phép trên cơ sở từng trường hợp.
Đến thời điểm này, có thể nói mức độ cam kết về dịch vụ phân phối dành cho các nhà
đầu tư Nhật Bản trong Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt-Nhật của nước ta là cao
nhất, thậm chí còn cao hơn cam kết trong BTA. 3 mức vốn cam kết là 49%, hơn 49% và
100% sẽ được cho phép vào thời điểm Việt Nam cho phép bất kỳ nhà đầu tư của nước thứ
3 nào hoặc thời điểm cam kết của Việt Nam với bất kỳ nước thứ 3 nào có hiệu lực, tùy
thời điểm nào diễn ra trước. Điều này đồng nghĩa với việc các nhà phân phối Nhật hiện
nay được phép vào Việt Nam với sự đối xử tương đương như với các Tập đoàn phân phối
Pháp, Đức, Malaysia đã vào Việt Nam. Danh mục loại trừ bao gồm dầu mỏ, sản phẩm dầu

Người dân đã chán phong cách bán hàng nhỏ lẻ manh mún, chất lượng, giá cả không ổn
định ở các điểm bán hàng nhỏ và các chợ và họ sẽ đổ xô đến các siêu thị lớn để mua hàng
với cơ sở hạ tầng hiện đại, hàng hóa đa dạng, chất lượng giá cả ổn định và có nhiều hình
thức khuyến mãi. Số lượng các điểm phân phối nhỏ lẻ sẽ giảm dần và được thay thế bằng
các hình thức phân phối mới như siêu thị, trung tâm thương mại. Một câu hỏi được đặt ra
về sự tồn tại của các chợ, cửa hàng quy mô nhỏ bán hàng tiêu dùng nội địa. Tuy nhiên,
trong vòng 10 năm tới, hình thức phân phối nhỏ lẻ vẫn giữ được vai trò của mình ngay cả
trong các thành phố lớn do tập quán tiêu dùng của người Việt Nam và vị trí nằm sát khu
vực có nhiều dân cư sinh sống do đó có thể bán hàng trực tiếp cho các hộ tiêu dùng.
Phân phối qua mạng cũng đang thu hút được sự quan tâm vì những tiện ích đáng kể của
nó. Hiện nay ở Việt Nam đang có một làn sóng phân phối trực tuyến vừa chính thức vừa
ngầm nhưng rất mạnh mẽ, có vô số trang web tiếng Việt khác nhau thực hiện các giao dịch
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trên mạng.
Nhượng quyền thương mại (franchising) cũng có nhiều tiềm năng phát triển với Trung
Nguyên và Kinh Đô là 2 nhà tiên phong, mặc dù các nhà kinh doanh trong nước cũng chưa
nhận thức được đầy đủ tính hai mặt của hình thức phân phối này.
Nhìn chung, đối với những loại hình phân phối hiện đại, hiển nhiên đây là một thế mạnh
của các nhà phân phối nước ngoài. Gần đây, tuy các nhà phân phối Việt Nam có nhiều
động thái củng cố lại hệ thống của mình để chống lại áp lực cạnh tranh từ các nhà phân
phối nước ngoài, nhưng đây có thể là một cuộc đua không cân sức vì các tập đoàn phân
phối nước ngoài đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường các nước
đang phát triển, nguồn vốn rất lớn; họ lại tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ
chức kinh doanh, thậm chí vận động hành lang rất bài bản và đưa ra giá bán buôn thấp hơn
nhiều so với các nhà bán buôn trong nước, các dịch vụ bán hàng thuận tiện và các chương
trình khuyến mại hấp dẫn.
Việc thu hút số lượng lớn các khách hàng của các siêu thị và trung tâm thương mại có
thể dẫn đến tình trạng phá sản dây chuyền của hàng triệu hộ cá thể buôn bán nhỏ lẻ, đe
dọa đời sống của người dân. Sự mở rộng của hệ thống các siêu thị có thể dẫn tới các vấn

các chương trình khuyến mại, được sử dụng hàng hóa có chất lượng ổn định, đảm bảo vệ
sinh an toàn, các nhà phân phối trong nước có thể học hỏi được các kinh nghiệm quản lý
điều hành tiên tiến từ nước ngoài.
Nhà nước nhà quan sát hay trọng tài?
Có thể nói, ngành phân phối là ngành rất nhạy cảm trong nền kinh tế nước ta vì nó ảnh
hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người bán hàng và hàng chục triệu người tiêu dùng,
đặc biệt là hệ thống phân phối của một số mặt hàng thiết yếu. Ngay cả một số quốc gia có
trình độ phát triển kinh tế cao như Nhật Bản, Ấn Độ cũng có xu hướng bảo hộ ngành phân
phối của mình rất chặt chẽ. Ví dụ, hệ thống phân phối ở Nhật Bản được tổ chức theo kiểu
khép kín giữa nhà sản xuất và các nhà bán buôn bán lẻ và có xu hướng bài ngoại, hàng hóa
Nhật Bản xuất hiện khắp nơi trên thế giới nhưng hàng của các nước khác rất khó khăn để
có thể len chân vào hệ thống phân phối của Nhật Bản. Mô hình quản lý hệ thống phân phối
của các nước này có những ưu điểm mà ta có thể học tập vận dụng một cách chọn lọc.
Ở trong nước, tốc độ tăng chóng mặt của chỉ số giá tiêu dùng kể từ đầu năm 2004 đến
nay do có “đóng góp” của các “dịch sốt giá” của các mặt hàng nhạy cảm như thép xây
dựng, xi măng, dược phẩm, thực phẩm đã đánh động các cơ quan chức năng cũng như
Chính phủ. Các Bộ chuyên ngành, các Tổng công ty đã có nhiều động thái tích cực để xốc
lại hệ thống phân phối nhằm bình ổn giá. Gần đây, Chính phủ còn có những biện pháp
mạnh, kể cả đưa ra chế tài kỷ luật Lãnh đạo các Tổng Công ty phụ trách các mặt hàng thiết
yếu, nhưng đây mới chỉ là các biện pháp tình thế vì chính các Tổng Công ty này cũng chưa
thể kiểm soát được hệ thống phân phối của mình. Bộ Thương mại cũng đã tổ chức một số
hội thảo, tọa đàm nhằm tìm biện pháp tổ chức lại hệ thống phân phối trong nước, tuy
nhiên kết quả đạt được chưa rõ. Trên nguyên tắc, trong nền kinh tế hàng hóa, Nhà nước
không thể quản lý hệ thống phân phối bằng các mệnh lệnh hành chính. Trước mắt, các cơ
quan quản lý Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý công bằng, tạo điều kiện cho
các nhà phân phối thuộc mọi thành phần kinh tế (trong đó có tư nhân và đầu tư nước
ngoài) hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tránh tình trạng xuất hiện những nhà phân phối
độc quyền cả trong nước và nước ngoài thao túng, lũng đoạn thị trường. Ngoài ra, Nhà
nước cũng cần có một số ưu đãi về cho thuê đất, thuế ... để hỗ trợ cho các nhà phân phối
trong nước, nắm cổ phần chi phối trong hệ thống phân phối của các mặt hàng thiết yếu với

4/ Phương thức phân phối truyền thống, mua đứt bán đoạn vẫn tồn tại song song với các
hình thức phân phối hiện đại nhưng sẽ dần thu hẹp và suy yếu, các nhà phân phối trong
nước sẽ trưởng thành và học hỏi được nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý và hiện đại hóa
hệ thống của các nhà phân phối nước ngoài để tự củng cố hệ thống của mình. Người tiêu
dùng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ những cải cách này. Trước mắt, các Tập đoàn phân
phối nước ngoài sẽ tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng dân dần họ sẽ
mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua
catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà... Các hình thức này sẽ
được du nhập, từng bước hình thành và phát triển ở nước ta. Các công ty sản xuất trong
nước, đặc biệt là các công ty sản xuất và xuất khẩu nông thủy sản sẽ phân phối qua thị
trường nước ngoài dưới các hình thức mới như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp
đồng chọn ...
Tóm lại, hệ thống phân phối ở nước ta đang chuyển mình theo hướng hiện đại hóa
nhưng vẫn còn mang nặng đặc điểm của một nền thương nghiệp quy mô nhỏ. Cùng với
quá trình thực hiện các cam kết quốc tế và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, trên “sân
chơi” sẽ xuất hiện nhiều “gã khổng lồ” đến từ nước ngoài, các loại hình phân phối cũng sẽ
phát triển đa dạng. Trong bối cảnh đó, yếu tố sống còn quyết định sự tồn tại của hệ thống
phân phối quốc gia là ý thức liên kết của các doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ của Nhà nước.
Sự liên kết giữa các nhà sản xuất, các nhà phân phối trong nước cộng với ý thức thay đổi
trong phương thức kinh doanh tập hợp thành một khối, đủ sức làm đối trọng với các nhà
phân phối nước ngoài. Nhà nước bên cạnh việc tìm biện pháp tổ chức lại hệ thống phân
phối bán lẻ, cần phải có những quyết sách ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tập
hợp các nguồn lực nhỏ lẻ thành hệ thống nhất quán, có chiều sâu. Nhưng hơn hết, Nhà
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nước cần phải khẳng định vai trò điều tiết thị trường theo hướng lành mạnh hóa, tạo sân
chơi bình đẳng cho các nhà phân phối không phân biệt thành phần kinh tế, đồng thời nắm
các nhà phân phối lớn để có thể chủ động trước những biến động của thị trường.
http://www.moit.gov.vn/vsi_portlets/UserFiles/Docman/Upload/xu%20huong%20DV
%20phan%20phoi%20o%20VN.doc

thuận lợi.
Cơ cấu bán lẻ tại Việt Nam sẽ có sự thay đổi lớn trong những năm sắp tới. Đây là thời
điểm thuận lợi, cơ hội tốt cho các nhà đầu tư bán lẻ nước ngoài thâm nhập, mở rộng thị
phần và tăng lợi nhuận tại đây.
Theo một khảo sát về hành vi tiêu dùng của người Việt Nam được tiến hành vào tháng
4/2006, người tiêu dùng hiện nay cân nhắc kỹ trong việc chọn một nơi mua phù hợp. Về
kênh bán lẻ, các siêu thị, cửa hàng chuyên, đại lý trở thành các kênh phân phối được đa số
người tiêu dùng lựa chọn.
Tăng tốc
Các doanh nghiệp phân phối trong nước cũng không ngừng tăng tốc mở thêm nhiều siêu
thị mới. Đến nay cả nước đã có 160 siêu thị và 32 trung tâm thương mại. Ông Ngô Văn
Hải, phó giám đốc Công ty TNHH Đông Hưng, cho rằng việc “bùng nổ” hàng loạt siêu thị
mới không chỉ ở các trung tâm thành phố lớn, mà còn lan rộng các tỉnh, thành.
“Chúng tôi buộc phải chạy đua với thời gian, tìm chỗ “dừng chân” thích hợp trước thời
điểm Chính phủ cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quyền mở siêu thị,
trung tâm phân phối”, ông Hải nói.
Gần đây Saigon Co-op cùng ba doanh nghiệp trong nước là Tổng công ty Thương mại
Hà Nội (HAPRO), Tổng công ty Thương mại Sài Gòn và Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú
Thái đã sáng lập Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam
(VDA) nhằm nâng cao sức cạnh tranh của Saigon Co-op.
Hiện VDA đang khảo sát mặt bằng, triển khai các dự án đầu tư theo kế hoạch, liên hệ các
địa phương xin quy hoạch và tìm địa điểm xây dựng trung tâm thương mại và nhà kho để
không bị chậm chân.
Triển vọng của ngành bán lẻ rất lớn nhưng bài toán cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt.
Nâng cao chất lượng phục vụ, áp dụng công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại, hiệu quả để
giảm chi phí vẫn là những bài toán khó cho các doanh nghiệp Việt Nam. (Vneconomy,
24/7/2007. Nguồn Sài Gòn tiếp thị)
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Có nhiều ý kiến cho rằng, ngoại trừ hệ thống phân phối xăng

hàng mình cần. Ảnh chụp
tại Siêu thị Sài Gòn.

Trích đoạn Kênh bán hàng truyền thống: Cần thay đổ Doanh nghiệp trong nước tăng tốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status