Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp bằng các phương thức lựa chọn (ADR) ở
Nhật Bản
_________________________________________________
1. Mở đầu
Các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR) có lịch sử lâu đời tại
Nhật bản so với phương thức giải quyết tranh chấp bằng tố tụng tòa án.
1
Cho đến nay
Nhật bản vẫn được biết đến như là đất nước không có truyền thống kiện tụng. Điều
này xuất phát từ đặc điểm cấu trúc và các yếu tố lịch sử, truyền thống của xã hội
Nhật.
Trong quá khứ, xã hội Nhật được phân chia thành bốn tầng lớp: (1) võ sĩ đạo
(samurai), (2) nông dân, (3) thợ thủ công, (4) thương gia. Võ sĩ đạo là tầng lớp ưu
việt nhất, có địa vị thống trị trong xã hội. Các tầng lớp còn lại có nghĩa vụ trung thành
và không được hành xử thô lỗ với tầng lớp võ sĩ đạo. Ngày nay, sự phân chia xã hội
thành các tầng lớp không còn tồn tại ở Nhật, mà được thay bằng một cấu trúc theo
chiều dọc dựa trên quan hệ địa vị. Địa vị của mỗi cá nhân trong xã hội trong quan hệ
với những cá nhân khác (dựa trên các yếu tố tuổi tác, giới tính, học vấn, nghề nghiệp)
đều đước xác định rõ. Kiểu trật tự xã hội này bắt nguồn từ triết lý của đạo Khổng và
đạo Phật vốn luôn nhấn mạnh đến bổn phận và sự hòa thuận trong xã hội. Với cấu
trúc xã hội như vậy thì việc nảy sinh các tranh chấp là điều ít thấy, và nếu có thì
chúng phải được giải quyết dựa trên sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau của các bên
nhằm bảo vệ sự hòa thuận xã hội. Điều này có thể đạt được bằng việc sử dụng các
phương thức giải quyết tranh chấp mang tính thỏa hiệp và tự nguyện hơn là sự tranh
tụng tại tòa án thường mang lại kết quả thắng – thua rõ rệt.
Mặc dù các vụ kiện dân sự có xu hướng gia tăng trong vài thập kỷ gần đây,
nhưng các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ
đạo. Bằng cách đó, việc giải quyết tranh chấp tiếp tục góp phần củng cố tôn ti trật tự
trong lòng xã hội Nhật hiện đại.
2. Các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn ở Nhật Bản
1
Hòa giải viên được Tòa án tối cao chỉ định, có giới hạn về độ tuổi (từ
40 đến 70), có thể là luật sư hoặc những người có trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm hữu ích cho việc giải quyết tranh chấp và thường phải trải qua đào tạo.
Khi nộp đơn yêu cầu hòa giải, nguyên đơn phải nộp lệ phí theo mức lệ phí do
Tòa án tối cao quy định. Sau khi thụ lý đơn, ủy ban hòa giải sẽ ấn định ngày tiến hành
hòa giải và gửi giấy triệu tập đến các bên. Những người có quyền lợi liên quan đến
2
Các đạo luật này bao gồm: Civil conciliation Act (1951); Law for the Determination of Family Affairs (1947);
Labour Union Law (1949); Labour Relations Adjustment Law (1946); Pollution Dispute Settlement Law
(1970); Construction Business Law (1949).
3
Civil conciliation Act, các Điều 24, 32, 33. Đó là tranh chấp trong các lĩnh vực xây dựng nhà ở và đất đai,
nông nghiệp, thương mại và thiệt hại do khai thác mỏ gây ra.
4
Civil conciliation Act, Điều 3.
5
Code of Civil Procedure, Điều 89 quy định rằng, thẩm phán có thể hòa giải vào bất ký thời điểm nào trong
thủ thục tố tụng, cho đến khi kết thức phần tranh luận.
6
Civil conciliation Act, Điều 5(1)
2
kết quả hoà giải cũng có thể tham dự quá trình hòa giải nếu được ủy ban hòa giải cho
phép. Ủy ban hòa giải cũng có thể mời những người có quyền lợi liên quan tham dự.
7
Phiên hòa giải đầu tiên thường là để các bên làm quen với thủ tục hòa giải.
Các phiên hòa giải tiếp theo có thể được tổ chức riêng rẽ với từng bên để làm rõ thực
chất của xung đột và các vấn đề liên quan. Ủy ban hòa giải có thể điều tra những
người hoặc địa điểm có liên quan đến vụ việc, triệu tập nhân chứng hoặc hỏi ý kiến
chuyên gia. Thủ tục hòa giải thường kéo dài vài tháng. Ủy ban hòa giải cũng có thể
tạm đình chỉ việc hòa giải ở bất kỳ thời điểm nào nếu thấy không có hy vọng về việc
Civil conciliation Act, Điều 17.
10
Civil conciliation Act, Điều 18.
3
đối với các thành viên ủy ban hòa giải đương nhiệm hoặc đã nghỉ hưu công bố thông
tin hoặc bí mật về vụ việc mà không có lý do chính đáng.
+) Hòa giải ngoài tòa án
Trong thủ tục hòa giải ngoài tòa án, các bên tranh chấp sẽ thảo luận về nguyên
nhân dẫn đến xung đột để đạt được một thỏa thuận về cách tháo gỡ. Nội dung thỏa
thuận sẽ được xác lập ngắn gọn dưới hình thức một văn bản có tính chất hợp đồng.
Cho dù văn bản này không nhất thiết trở thành hợp đồng theo pháp luật của Nhật bản,
nhưng thông thường các bên sẽ lập văn bản với chữ ký được công nhận về mặt pháp
lý. Các tranh chấp phát sinh bởi các tại nạn giao thông ít nghiêm trọng là một ví dụ về
việc giải quyết theo phương thức này. Nếu một bên không thực hiện, thì bên kia có
quyền khởi kiện ra tòa dựa vào những điều khỏa trong hợp đồng hòa giải. Trong tình
huống này, các bên tranh chấp có thể phải tranh luận về nguyên nhân của tranh chấp
ban đầu.
Hiệu lực pháp lý của hợp đồng hòa giải là tạo ra một quan hệ pháp lý mới giữa
các bên. Do đó, cho dù nếu chứng cứ mới xuất hiện sau khi quá trình hòa giải đã kết
thúc, thỏa thuận hòa giải sẽ không bị hủy bỏ.
11
b) Trung gian
Trung gian cũng có thể được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài tòa án theo sự
thỏa thuận của các bên. Trên thực tế, nhiều cơ quan hành chính và những tổ chức tư
nhân cũng cung cấp những phương thức giải quyết tranh chấp tương tự như trung
gian. Tuy nhiên những phương thức đó không mang tính cưỡng chế thi hành như tòa
án và nói chung hiệu quả không cao.
12
Do vậy phần lớn các trường hợp trung gian
được tiến hành tại tòa án dưới sự giám sát của thẩm phán.
bố các quyền giữa các bên và không có khả năng tạo ra một quan hệ pháp lý mới.
c) Trọng tài
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp tương đối mới ở Nhật. Luật lệ
về trọng tài được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1891 mô phỏng theo các
quy định về trọng tài của Đức.
15
Tuy nhiên những quy định này chỉ có tính chất luật
khung và ngày nay không còn phù hợp nữa. Luật trọng tài mới được ban hành năm
2003 (có hiệu lực từ 1 tháng 3 năm 2004) dựa trên luật mẫu về trọng tài của
UNCITRAL. Trên thực tế phần lớn vụ việc trọng tài được tiến hành bởi một trong các
tổ chức trọng tài được thành lập ở bốn lĩnh vực: xây dựng, môi trường, lao động và
thương mại.
+) Trọng tài xây dựng
Trọng tài trong lĩnh vực xây dựng được điều chỉnh bởi Luật về ngành công
nghiệp xây dựng.
16
Theo đạo luật này, có hai loại ủy ban giám khảo được thành lập:
ủy ban giám khảo ở trung ương thuộc Bộ xây dựng, và ủy ban giám khảo địa phương
được thành lập ở các quận. Các ủy ban này sẽ chỉ định Hội đồng trọng tài bao gồm
13
Law of the Family Court Procedure, Điều 18.
14
Law of Mediation.
15
Code of Civil Procedure, Chương 8, các Điều 786 đến 805.
16
Construction Industry Law 1949 (sửa đổi năm 1996)
5