ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG NGÔ VĂN ĐẠT
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ Ở QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đà Nẵng – Năm 2015
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Sinh viên
Ngô Văn Đạt LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới
TS. Trương Lê Bích Trâm đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em thực hiện đề tài
trong suốt thời gian qua.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Sinh –
Môi Trường, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã tận tình giúp đỡ
tạo điều kiện cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học.
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các bạn lớp 11CTM đã động viên,
khích lệ, giúp đỡ để em có thể hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.
Tính cấp thiết của đề tài 1
2.
Mục tiêu đề tài 2
3.
Hiện trạng quản lý CTRYT tại Việt Nam và trên thế giới 10
1.2.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 16
1.2.1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 16
1.2.2.
Tình hình phát triển ngành y tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ 18
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1.
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 20
2.1.1
Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2
Phạm vi nghiên cứu 20
3.2.
QUY MÔ CÁC CƠ SỞ Y TẾ ĐƯỢC KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 23
3.2.1.
Quy mô Bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ 23
3.2.2.
Quy mô các trạm y tế trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 24
3.3.
ĐIỀU TRA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
CẨM LỆ VÀ CÁC TRẠM Y TẾ PHƯỜNG 25
3.3.1.
Chất thải rắn phát sinh tại các cơ sở y tế khảo sát 26
3.3.2.
Hệ thống quản lý hành chính đối với CTRYT 34
3.3.3.
PHỤ LỤC 67
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BYT Bộ Y tế
CTR Chất thải rắn
CTRYT Chất thải rắn y tế
CTTT Chất thải thông thường
MTĐT Môi trường và Đô thị
PVC Polyvinylclorua
QĐ Quy định
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TYT Trạm y tế
UBND Ủy ban nhân dân
trạm y tế phường trên địa bàn quận Cẩm Lệ được khảo sát
theo thành phần
32
3.6.
Số lượng và loại thùng rác được bố trí tại các phòng, khoa
trong bệnh viện
37
3.7.
Đánh giá công tác quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế 48
3.8.
Một số phương pháp khử trùng bằng nhiệt cho các thiết bị,
dụng cụ tái sử dụng
59
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Số hiệu Tên hình Trang
1.1.
Bản đồ quận Cẩm Lệ 17
3.1.
Bệnh viện đa khoa Cẩm Lệ 24
3.2.
Quy trình quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế được khảo sát trên
địa bàn quận Cẩm Lệ
26
3.3.
Biểu đồ khối lượng CTRYT phát sinh trung bình trong ngày tại
3.13.
Sơ đồ đề xuất tổ chức quản lý chất thải tại các trạm y tế phường
trên địa bàn quận Cẩm Lệ
54 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, các vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe
dọa trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển của con người cả trước mắt lẫn lâu dài.
Chính vì thế, việc bảo vệ, hạn chế ô nhiễm môi trường hiện nay rất cấp thiết và
được toàn thế giới quan tâm.
Tại Việt Nam hiện nay, cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội. Đời sống
của người dân đang ngày càng được cải thiện và nâng cao. Do đó, nhu cầu về khám
chữa bệnh ở các cơ sở y tế cũng vì thế mà ngày một tăng theo. Tại các địa phương,
nhiều cơ sở khám chữa bệnh do Nhà nước đầu tư và của tư nhân được xây dựng
mới nhằm đáp ứng, phục vụ việc khám và chăm sóc sức khỏe của người dân hiện
nay.
Bên cạnh những lợi ích to lớn về mặt đảm bảo sức khỏe người dân thì các cơ
sở y tế cũng đã thải ra một khối lượng rác y tế không hề nhỏ, nhất là chất thải rắn y
tế. Lượng chất thải rắn y tế ngày càng phát sinh nhiều hơn do sự gia tăng dân số,
các loại bệnh xuất hiện ngày một nhiều kéo theo nhu cầu khám chữa bệnh của
người dân. Ngoài ra, với xu hướng sử dụng các dụng cụ y tế chỉ dùng một lần càng
khiến cho lượng chất thải y tế tăng cao. Nhiều loại rác thải y tế khá độc hại đối với
môi trường cũng như con người khi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chúng.
Chính vì vậy, việc xử lí chất thải y tế tại các cơ sở y tế là vấn đề rất đáng
được quan tâm. Vì các chất thải rắn y tế là những loại chất thải cực kì nguy hiểm
nên công tác quản lý, xử lý rất phức tạp và khó khăn. Nếu không được quản lý và
quản lý và quy hoạch chất thải rắn y tế một cách tốt hơn, phù hợp với chủ trương
của quận Cẩm Lệ đến năm 2020 “Xây dựng quận Cẩm Lệ - quận Môi trường” . 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ QUẢN LÝ, XỬ LÝ
CHẤT THẢI Y TẾ.
1.1.1. Định nghĩa
Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam:
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế
bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con
người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn
mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an
toàn.
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu
gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế
và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
1.1.2. Nguồn gốc phát sinh, thành phần, tính chất và phân loại
CTRYT
a. Nguồn gốc phát sinh
Chất thải thông thường bao gồm: chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng
các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại chất trên, các
chất phóng xạ, hóa chất dược từ các khoa khám,
chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm; khoa dược
b. Thành phần, tính chất CTRYT
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang đặc thù so với
các loại CTR khác. Các loại chất thải này nếu không cẩn thận trước khi xả chung
với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Thành phần
CTRYT mang các tính chất đặc trưng của chúng như sau:
Thành phần vật lý gồm các dạng: bông vãi sợi, giấy, nhựa, thủy tinh, kim
loại,
Thành phần hóa học gồm: vô cơ ( Hóa chất, thuốc, ); hữu cơ ( Đồ vải, các
bộ phận, thuốc, )
Thành phần sinh học: Máu, mẫu bệnh phẩm, các bộ phận bị cắt bỏ,
Thành phần CTRYT là thông tin quan trọng để đánh giá khả năng thu hồi
phế liệu lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp
c. Phân loại CTRYT
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, sinh học, hóa học và tính chất nguy hại, chất
thải trong các bệnh viện được Bộ Y tế phân thành 5 nhóm theo quy chế quản lý chất
thải y tế chung trên toàn quốc:
Chất thải lâm sàng
Chất thải lâm sàn gồm 5 nhóm: 5
Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu bị thấm máu,
thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông, găng tay, bột bó,
đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng
dịch dẫn lưu
Chất thải hóa học
Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng và khí. Chất thải hóa học
trong các cơ sở y tế được phân thành 2 loại:
Chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, a xít béo, một số muối vô
cơ và hữu cơ.
Chất thải hóa học nguy hại bao gồm:
Formaldehyde: được sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, lớp
xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác.
Các hóa chất quang hóa học: có trong các dung dịch dùng cố định và
tráng phim
Các dung môi. Các dung môi dùng trong cơ sở y tế bao gồm: các hợp
chất halogen như methylene chloride, chlorofom, freons, trichloro
ethylene, các thuốc mê bốc hơi như halothnne, các hợp chất không có
halogen như xylene, acetone, isopropanol, toluen, ethyl acetate và
acetonitrile.
Oxit ethylene- oxit ethylene được sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế,
phòng phẫu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị diệt
khuẩn.
Các chất hóa học hỗn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn
như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh [3]
Các bình chứa khí có áp suất
- Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng oxy,
CO
2
, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ
gây cháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng [3].
Chất thải sinh hoạt
Chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, phát sinh từ các buồng bệnh,
phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà
ăn bao gồm: giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng cát tông, túi nilon,
Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được
thiêu đốt trong điều kiện không lý tưởng. Việc thiêu đốt không đủ nhiệt độ trong khi
rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen. Việc đốt chất thải y tế đựng 8
trong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit,
thường là HCl và SO
2
Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl, Br, I, ) ở nhiệt độ thấp,
thường tạo ra axit, như hydrochloride (HCl). Điều đó dẫn đến nguy cơ tạo thành
dioxins, một loại chất vô cùng độc hại, ngay cả ở nồng độ thấp. Các kim loại nặng,
như thủy ngân, có thể phát thải theo khí lò đốt
Những nguy cơ môi trường này có thể tác động tới hệ sinh thái và sức khỏe
con người trong dài hạn [15].
Ảnh hưởng đến con người và cảnh quan đô thị:
Ảnh hưởng đến sức khỏe con người:
Do thành phần và tính chất của các chất thải rắn Y tế rất phức tạp nên việc
lây nhiễm các loại bệnh là không thể tránh khỏi nếu không có các biện pháp quản lý
đúng đắn và hợp lý thì khả năng lây nhiễm sẽ rất cao. Trong rác thải bệnh viện
những chất nguy hiểm có nguy cơ lây nhiễm, truyền bệnh và độc hại, Ở nước ta
do có khí hậu nóng ẩm nên khả năng phát sinh ra những ổ dịch bệnh lại càng cực kì
nguy hiểm hơn. Ví dụ như bệnh tả, kiết lị, sốt xuất huyết,…
Những nhóm người: bác sĩ, nha sĩ, điều dưỡng, các nhà trị liệu, y tá, hộ lý,
nhân viên xét nghiệm, cán bộ kĩ thuật (ví dụ như nhân viên Xquang,…), nhân viên
thu gom chất thải ( trong bệnh viện, các cơ sở Y tế, nhân viên vận chuyển, nhân
viên xử lý ở khâu cuối,…), những người bới rác, nhân viên môi trường,
Do những nhóm người này thường xuyên tiếp xúc với các dụng cụ y tế, các
1.1.7. Một số phương pháp xử lý CTRYT
Hiện nay, việc xử lý CTRYT thường bằng những phương pháp sau:
Xử lý bằng phương pháp thiêu đốt ở nhiệt độ cao:
Thiêu đốt ở nhiệt độ cao là phương pháp thành công nhất đảm bảo phá hủy
các đặc tính độc hại của chất thải y tê, giảm thiểu thể tích rác đến 95% và tiêu diệt
hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh ở nhiệt độ (105
0
C – 1100
0
C). Phương pháp này đáp
ứng tất cả các tiêu chí về tiêu hủy an toàn ngoại trừ việc phát thải các khí thải cần
được xử lý [11].
Xử lý chất thải y tế bằng phương pháp khử trùng:
Theo phương pháp này, các chất thải có khả năng lây nhiễm trước khi thải ra
môi trường như chất thải sinh hoạt thông thường phải đem đi khử trùng. Ở các nước
phát triển, việc khử trùng còn được coi là công đoạn đầu của việc thu gom chất thải
y tế nhằm hạn chế khả năng gây tai nạn của chất thải: 10
- Khử trùng bằng hóa chất: Hóa chất thường dùng là Clo, hypoclorit. Đây là
phương pháp đơn giản và rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là không tiêu diệt
được hết lượng vi khuẩn trong rác nếu thời gian tiếp xúc ngắn. Ngoài ra, một
số vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất xử lý, hoặc clo chỉ là chất
khử trùng hữu hiệu khi không có các chất hữu cơ… Do vậy, hiệu quả của
phương pháp khử trùng không cao.
- Khử trùng bằng nhiệt và áp suất cao: Đây là phương pháp khử trùng hiệu quả
cao nhưng thiết bị để xử lý đắt tiền và đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng
cao [11].
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế.
Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các
quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện
vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt [5].
Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất
thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và
giữ cho môi trường trong sạch [12].
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được
tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt. Tránh tình trạng chất thải bị lưu
giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường [22].
Việc xử lý chất thải y tế tại các nước có thể khác nhau về các phương pháp
xử lý; trình độ kỹ thuật; các luật, chính sách, các quy định do nước đó ban hành để
phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước.
Các nước phát triển
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện,
cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập
hệ thống xử lý loại phế thải y tế. Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại
phế thải từ 1000
0
C đến trên 4000
o
C. Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn
đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí. Các
phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạt bụi li ti và các hóa
chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axit clohidric, đioxin/furan, và
một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen, cadmi. Do đó, tại Hoa kỳ vào
năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lò đốt và yêu cầu khí thải phải
được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy theo loại phế thải.
quốc khoảng 100 – 140 tấn/ngày, trong đó có 16 – 30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại.
Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính
trung bình là 0,14 – 0,2 kg/giường/ngày. Lượng CTRYT phát sinh trong ngày khác
nhau giữa các bệnh viện, tùy thuộc vào số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay 13
đa khoa, thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, lượng vật tư tiêu
hao, [1].
Lượng CTRYT phát sinh chủ yếu tại các thành thị. Trong đó, Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh là phát sinh cao nhất với khối lượng điều tra năm 2009 thì
tại Hà Nội phát sinh gần 5000 tấn/năm và tại thành phố Hồ Chí Minh là 2800
tấn/năm [1].
Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT nói chung đã được quan tâm bởi các cấp
từ Trung ương đến địa phương, thế hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh
viện khá cao. Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1%
đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng phân
loại nhầm chất thải, một số chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy
hại gây tốn kém trong việc xử lý. Đối với các cơ sở y tế ở địa phương do các Sở Y
tế quản lý, công tác thu gom, lưu trữ, vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc
biệt là công tác phân loại và lưu trữ chất thải tại nguồn [1].
Trong vận chuyển CTRYT, chỉ có 53% bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để
vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu trữ CTR,
trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế Đây là những yếu
tố đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường [1].
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn hiếu, đặc biệt là
các xe chuyên dụng. Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ cơ sở y tế đến
nơi xử lý hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết
bị đảm bảo an toàn cho quá trình vận chuyển.
để xử lý CTRYT nguy hại, từng bước thay thế bằng các thiết bị sử dụng công nghệ
khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc các phương pháp tiên tiến khác [1].
Tình hình quản lý CTRYT tại Đà Nẵng
Hệ thống y tế khám chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng bao gồm: 21
bệnh viện, trung tâm y tế quận, huyện. Trong đó có 4 bệnh viện trung ương,
ngành; 7 bệnh viện tuyến thành phố, 6 Trung tâm y tế quận, huyện và 4 bệnh
viện tư nhân. Ngoài ra còn có 4 trung tâm chuyên ngành, chưa kể gần 700 cơ
sở hành nghề y dược tư nhân và 56 trạm y tế xã, phường [6].
Sở y tế thành phố Đà Nẵng đã triển khai lồng ghép nội dung kiểm tra
việc quản lý chất thải y tế với công tác chăm sóc sức khỏe cho các cán bộ,
nhân viên y tế. Chỉ đạo các bệnh viện chú trọng đến công tác quản lý chất thải 15
y tế. Sở cũng xây dựng dự án đầu tư và trang bị hệ thống xử lý triệt để chất
thải y tế tại thành phố, lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án “Xây dựng hệ
thống xử lý chất thải y tế sử dụng vốn ODA của Chính phủ Tây Ban Nha” [6].
Hiện nay, trong số 21 cơ sở khám chữa bệnh từ tuyến quận, huyện trởi
lên, lượng chất thải chung theo hợp đồng vận chuyển là 80 tấn/tháng. Trong
đó, rác nguy hại ước tính khoảng 20 tấn/tháng. Tất cả các đơn vị trên đều kí
hợp đồng vận chuyển và xử lý chất thải với Công ty Môi trường đô thị với
kinh phí 32 triệu đồng/tháng. Có 85,51% đơn vị khám chữa bệnh thành lập
ban chỉ đạo và xây dựng kế hoạch quản lý chất thải y tế (Theo điều tra của
đoàn kiểm tra liên ngành gồm: Sở Y tế, Sở Tài nguyên Môi trường, Công An
thành phố Đà Nẵng) [6].
Phần lớn các đơn vị đã thực hiện quy chế rác thải y tế theo chỉ đạo của
Bộ y tế. Tất cả các đơn vị đều cử cán bộ tham dự các lớp tập huấn về quản lý
chất thải y tế, nhất là trong khâu phân loại, thu gom, vận chuyển do Sở y tế
mở hàng năm. Đa số các cán bộ y tế đều nắm được kiến thức về rác thải y tế
Quận Cẩm Lệ được thành lập, tách ra từ huyện Hòa Vang theo Nghị định số
102/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ [7].
Cẩm Lệ có tọa độ 16
0
1’0”B 108
o
12’10”Đ, nằm ở vị trí phía Tây - Nam của
thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm 7Km. Quận Cẩm Lệ có địa giới hành chính tiếp
giáp với 5/8 quận, huyện của Thành phố, gồm các quận Hải Châu, Thanh Khê, Ngũ
Hành Sơn, Liên Chiểu và huyện Hoà Vang [21].