Science & Technology Development, Vol 10, No.10 - 2007
Trang 80 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MỘT SỐ QUÁ TRÌNH TẬN DỤNG CHẤT
THẢI CÔNG NGHIỆP LÀM NHIÊN LIỆU THAY THẾ CHO QUÁ TRÌNH
ĐỐT TRONG LÒ NUNG XI MĂNG Ở ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Lê Thanh Hải
Viện Môi Trường và Tài Nguyên, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 26 tháng 01 năm 2007)
TÓM TẮT : Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu ban đầu về khả năng tận
dụng một số loại chất thải, nhất là các chất thải công nghiệp nguy hại, làm nhiên liệu thay thế
trong quá trình đốt trong lò nung xi măng ở điều kiện Việt Nam. Trước tiên, một số xu hướng
nghiên cứu trên thế giới được tóm lược, sau đó bài báo đưa ra các nghiên cứu phân tích yêu
cầu của các loại vật liệu có thể làm nhiên liệ
u thay thế, tiếp theo là phần trình bày các kết quả
nghiên cứu thực nghiệm đốt dầu nhớt thải, và bài báo kết thúc bằng việc đưa ra các triển vọng
cho định hướng các nghiên cứu tiếp theo của chủ đề này.
1. MỞ ĐẦU
Sản xuất xi măng là ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng. Trung bình để tạo ra 1
tấn clinker (là thành phần chính của xi măng) phải cần đến 3.0 -5.5 GJ (7.2 – 13.2 x 10
6
KCal)
tương đương với nhiệt năng của 100 -180 kg than Anthracite hoặc 70 –125 kg dầu nhiên liệu
(HFO). Một loại than, hoặc hỗn hợp nhiều loại nhiên liệu khác nhau có thể được sử dụng trong
sản xuất xi măng. Các nhiên liệu thông thường như dầu và khí thiên nhiên ngày càng ít được
sử dụng vì giá thành cao. Nhiên liệu thứ cấp (nhiên liệu thay thế –Alternative fuel) bao gồm
các loại mảnh vụn của lốp xe, các loại chất thải dạng rắn hay lỏ
ng, plastic và một số nhiên liệu
Hình 2. Qui trình sản xuất xi măng sử dụng chất thải làm nhiên liệu thay thế (Theo Holcim Vn, 2005)
2. NGHIÊN CỨU CÁC U CẦU KHI SỬ DỤNG CHẤT THẢI LÀM NHIÊN LIỆU
THAY THẾ CHO Q TRÌNH SẢN XUẤT XI MĂNG
2.1. Nghiên cứu các ngun lý xử lý chất thải trong lò nung xi măng
Để sản xuất xi măng u cầu phải tiêu hao nhiều năng lượng, nhiệt lượng u cầu đối với
lò nung xi măng phải đạt xấp xỉ từ 3.2 đến 6 MJ/kg clinker tùy thuộc vào từng qui trình sản
xuất. Để tiết kiệm nhiệt, ta thu hồi nhiệt từ
lượng khí thốt ra trong q trình nung clinker để
sấy khơ ngun liệu, than trong khi nghiền. Để vận hành tốt lò nung clinker, nhiên liệu phải
được đốt để đạt đến nhiệt độ nung kết là1450
o
C và nhiệt độ ngon lửa trong lò quay phải đạt
được 1800
o
C - 2000
o
C. Nhiên liệu tiêu chuẩn được sử dụng trong cơng nghiệp sản xuất xi
măng là ga, dầu thơ, than hỗn hợp và than cốc. Tro của nhiên liệu sau khi cháy có thể trộn lẫn
với bột liệu và clinker. Đối với các lọai nhiên liệu có nhiệt trị thấp, khi dùng chúng làm nhiên
liệu thay thế thì phải chú ý gia nhiệt cho loại chất thải này để có nhiệt trị cao hơn. Hiệu quả
Science & Technology Development, Vol 10, No.10 - 2007
Trang 82
của việc thay thế nhiên liệu không thể được tính toán cao bằng 100% nhiệt trị thực tế của
nhiên liệu ở mức thấp. Hiệu quả thay thế được hiểu như sau:
- Nhiên liệu có mức nhiệt trị cao = 100%
- Nhiên liệu có mức nhiệt trị thấp < 100% (khi đó cần phải gia nhiệt cho đủ 100% trước
khi đốt). Người ta có thể phối trộn các loại nhiên liệu khác nhau theo những tỉ l
ệ nhất định để
kim loại nặng trong hệ thống tiền nung và máy nghiền. Lò quay nung xi măng và hệ thống đốt
được thiết kế để có thể sử dụng được nhiều loại nhiên liệu khác nhau mà không cần phải có sự
cải tiến đặc biệt nào. Một lò đốt đa nhiên liệu hiện đại nhất phải đạt được những yêu cầu đặc
biệt về kiểm sóat nhiệt độ củ
a lò quay và phải bảo đảm tối đa các điều kiện vận hành.
Từ những điều phân tích bên trên cho thấy lò nung xi măng là một loại lò đạt hiệu suất phá
hủy rất cao cũng như hiệu quả làm sạch khí thải ưu việt. Đó cũng là lí do tại sao lò nung xi
măng lý tưởng đối với việc thiêu đốt chất thải.
2.2. Các yếu tố cần quan tâm khi chọn lựa nhiên liệu thay thế
Như chúng ta đã biết, một lượng chất thải khổng lồ phát sinh hàng ngày tại khu vực trọng
điểm phía Nam nói chung vàTP HCM nói riêng. Giữa hàng lọat các lọai chất thải phát sinh,
việc phân loại–lựa chọn thích hợp cho mục đích tái sử dụng cũng rất khó khăn và cũng tùy
thuộc vào yêu cầu riêng của từng ngành sản xuất cụ thể. Đối với lò nung xi măng, các yêu cầu
này cũng không quá khó khăn về hình dạng, kích thướ
c cũng như đặc tính rắn– lỏng - khí của
chất thải. Tuy nhiên khi tiến hành nghiên cứu và lựa chọn loại nguyên–nhiên liệu thay thế, cần
chú ý đến các yếu tố dưới đây:
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 10 - 2007
Trang 83
Bảng 1. Các thơng số cần quan tâm khi chọn lựa chất thải làm nhiên liệu thay thế
Chất thải Các thơng số và yếu tố cần quan tâm
Trạng thái vật lý
Rắn Kích thước, hình dạng, dễ nghiền
Lỏng Tính nhớt, tính dẽo ở ....
o
C
Khí Tạp chất
Tỉ lệ rắn/lỏng Phải có sự hòa trộn cân đối
Mật độ Kg/m
3
Tính độc Độc/ khơng độc, cảnh báo và đề phòng an tồn
Vấn đề vận chuyển và lưu trữ phải được thực hiện đúng pháp luật
Lưu trữ Tránh: thối hóa, thối rữa, sự phân li, sự kết tủa
Sự ăn mòn Các vật liệu xây dựng
Khả năng hòa trộn Khả năng hòa trộn với dầu, nước hay dung mơi
Số lượng để chế biến (xử lý) Nhỏ nhất, nhiều nhất hay trung bình
Sự dao động (sự thay đổi thất
thường) về chất lượng
Phải định rõ chất lượng
2.3. Các dạng nhiên liệu thay thế có thể sử dụng
Mặc dù việc áp dụng nhiên liệu thay thế đòi hỏi phải đầu tư lớn nhưng hiện nay tại một số
nhà máy xi măng trên thế giới, các lốp xe cũ đã và đang được sử dụng làm chất đốt. Tại Pháp
đã sử dụng hơn 200.000 tấn chất đốt từ mỡ động vật, lọai nhiên liệu này đ
ang được quan tâm
đặc biệt và có xu hướng sử dụng ngày càng tăng. Một số lọai chất lỏng và chất thải cơng
nghiệp như dầu phế thải, các lọai dung mơi truyền thống trộn với sơn phế thải, các chất thải
dầu mỏ, RDH là sản phẩm khơng chứa clo thu được từ việc làm sạch két chứa ballast,… đều
được sử dụng để đốt trong nhà máy xi măng. Tổng qt lại một s
ố dạng chất thải có thể sử
dụng là nhiên liệu thay thế trong sản xuất xi măng ở điều kiện Việt Nam được trình bày tại
bảng 2:
Bảng 2: Một số dạng chất thải có thể sử dụng là nhiên liệu thay thế
Ngun - Nhiên liệu dạng rắn Ngun - Nhiên liệu dạng lỏng
Bền, dai hoặc hơi khó nghiền Dễ nghiền
Kích thước lớn Kích thước
bé
Tính độc thấp hoặc
trung bình
Có tính độc
- Nhựa đường
(nhựa đường chức
- PAH’s
- PCB’s
- Khí từ
bãi chơn
lấp
- Khí sinh
học
- Khí sinh
Science & Technology Development, Vol 10, No.10 - 2007
Trang 84
- Than củi
- Tro nhiên
liệu có hàm
lượng
cacbon cao
- Vỏ cây
- Dăm bào
- Gỗ thông
- Vỏ hạt cọ
- Vỏ dừa
- Vỏ hạt ôliu đã ép
- Chất thải xe hơi đã
nghiền vụn
- Đất nhiễm dầu
…
nơi sx điện
cực)
t cách rõ ràng như các
lọai dầu bôi trơn nếu được thu gom và xử lý một cách an tòan để không gây ô nhiễm chì cho
nguồn nước mặt và nước ngầm. Chất thải chứa Hydrocacbon có thể là một dung dịch lỏng có
độ nhớt thấp hay ở dạng nửa rắn (semi-solid), có thể rất bền màu.
Các thông số về đặc tính của chất thải chứa Hydrocacbon được trình bày trong bảng 3:
Bảng 3.Các thông số về đặc tính lý – hóa của chấ
t thải Hydrocacbon
Thông số Đơn vị Giới hạn
Ph 5 – 10
Điểm cháy
0
C 65
Cllorine [Cl] % < 3
Sulfur [S] % < 3
Florine [F] % < 1
PCB ppm < 50
Arsen ppm < 100
Crom [Cr] ppm < 1.000
Đồng [Cu] ppm < 1.000
Thủy ngân [Hg] ppm < 30
Chì [Pb] ppm < 1.000
Antimon [Sb] ppm < 1.000
Thalium [Ti] ppm < 50
Kẽm [Zn] ppm < 5.000
3.2. Thí nghiệm đốt thực nghiệm dầu nhớt thải