ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 2 - Pdf 28

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 2 (THẾ KỈ XVIII- XIX)
I/ Ngâm khúc
1. Đặc điểm cơ bản của thể thơ song thất lục bát và đặc trưng nghệ thuật của thể loại
Ngâm khúc
1.1. Đặc điểm của thể thơ song thất lục bát
1.1.1. Chu kì thơ
Mỗi khổ thơ gồm 4 câu: một cặp câu bảy tiếng và một cặp câu lục bát. Trong quá
trình phát triển thể loại có những biến thể sau đây:
- Sự thay đổi trình tự các câu thơ: cặp câu lục bát đứng trước cặp câu thất (gọi là lục bát
gián thất).
- Số chữ trong mỗi câu tăng lên, câu thơ kéo dài ra. Đa số trường hợp này thường rơi vào
các bài ca dân gian. Do ảnh hưởng của âm nhạc, những bài ca dân gian cần có thêm từ
xen vào giữa các câu thơ. Tuy nhiên ta vẫn có thể khôi phục bài thơ trở về nguyên dạng
nếu như bỏ đi 1 số từ ngữ hay âm tiết mà không làm ảnh hưởng đến ý thơ.
1.1.2. Cách gieo vần
Vần lưng kết hợp với vần chân, sơ đồ như sau:
1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 56 7
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 67 8
Cụ thể:
- Chữ thứ 5 của câu 2 bắt vần với chữ thứ 7 của câu 1 (vần trắc).
- Chữ thứ 6 của câu 3 bắt vần với chữ thứ 7 của câu 2 (vần bằng).
- Chữ thứ 6 của câu 4 bắt vần với chứ thứ 6 của câu 3 (vần bằng).
- Câu 1 và câu 2 có vần lưng với nhau, câu 2 và câu 3 có vần chân với nhau, câu 3 và câu
4 có vần lưng với nhau.
1.1.3. Nhịp điệu
- Hai câu bảy thường có nhịp: 3/4 hoặc 3/2/2
- Câu sáu có nhịp: 3/3 hoặc 2/2/2
- Câu tám có nhịp: 4/4 hoặc 2/2/2/2
1.1.4. Các kiểu đối

tới ba kiểu câu với lối kiến trúc thành từng khổ, mỗi khổ bốn câu, hai câu bảy, một câu
sáu và câu tám.
2
Vì Song thất lục bát có ba cú thức nên số lượng vần trong ngâm khúc phong phú
hơn hẳn. Với lối gieo vần rất riêng, thể Song thất lục bát tỏ ra rất hữu hiệu trong việc
bộc lộ, diễn tả tình cảm nội tâm của con người. Trong hai câu thất mở đầu: chữ cuối của
câu thất trên hiệp vần với chữ thứ năm câu thất dưới vì chúng đều là vần trắc. chữ cuối
câu thất dưới vần với chữ cuối câu lục vì chúng mang vần bằng. Chữ cuối câu bát lại
hiệp vần với chữ thứ năm câu thất. Như vậy, mỗi khổ bốn năm câu có từ năm đến sáu
vần: vần lưng (yêu vận), vần chân (cước vận), vần bằng và vần trắc. Như vậy, so sánh
với bài thơ thất ngôn Đường luật của Trung Hoa thì thấy cả bài chỉ có một loại là vần
chân. Trong thơ lục bát, những chữ tham gia hiệp vần mang thanh bằng. Rõ ràng, vần
và cách gieo vần trong Song thất lục bát là rất phong phú
 tạo nên sự chuyển biến nhẹ nhàng, diễn tả được mọi cung bậc tình cảm của con người,
tăng thêm tính nhạc, làm nên sự luyến láy khiến tốc độ câu thơ chậm lại. Hiện tượng đó
lặp lại liên tục trong nhiều khổ thơ, đem đến sự cộng hưởng âm vận, cộng hưởng ấn
tượng cảm nhận về sự triền miên, quẩn quanh của dòng tâm trạng.
“Gà eo óc gáy sương nắm trống
Hòe phất phoe rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”
Khổ thơ có năm chỗ gieo vần, hai vần trắc (trống, bóng) không chỉ tạo không
gian trống vắng mà còn gây ấn tượng về sự lẻ loi cô đơn trong lòng người chinh phụ,
vần bằng (bên, niên miền) đã tạo nên cảm thức về thời gian dài dằng dặc, thời gian cứ
đằng đẵng trôi đi.
1.2.2.2. Cách ngắt nhịp
Tác giả Phan Ngọc từng nói: “Nhịp điệu là xương sống của thơ. Thơ có thể bỏ
vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc nhưng không thể vứt bỏ
nhịp điệu”. Thơ thất ngôn của Trung Hoa có lối ngắt nhịp phổ biến là chẵn trước lẻ sau (
4/3 hoặc 2/2/3) thì câu thất của Song thấy lục bát có lối ngắt nhịp ngược lại 3/4 hoặc

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng điệp gián
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai” điệp vòng
1.2.3. Nghệ thuật miêu tả tâm trạng
1.2.3.1. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình
4
Cả khúc ngâm là lời than thở ai oán và bi thiết của người chinh phụ, bộc bạch
những nỗi cô đơn, sầu muộn và bi kịch cá nhân, nhưng đồng thời đó cũng là một câu
chuyện chia ly, nhung nhớ được kể rất rõ ràng, cụ thể, từ lúc nghe tin chiến trận, đến
cảnh chia ly, xa cách của đôi vợ chồng trẻ, câu chuyện tang thương của người chinh phu
nơi biên ải và câu chuyện thê lương của người chinh phụ ở nhà,…
“Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín lần gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất quân

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dực dực buồn
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
….
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Trông màu mây biếc trải ngàn núi xanh

Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hòa đèn kia với bóng người khá thương
Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”
1.2.4. Ngôn ngữ
1.2.4.1. Điển tích, điển cố, lớp ngôn từ Hán Việt:
được sử dụng với tần suất cao tạo nên giọng điệu trang nhã cao sang uyên bác
phù hợp với nhân vật trữ tình thuộc tầng lớp quý tộc; câu thơ mang màu sắc lung linh,
mờ hồ thích hợp diễn tả tâm trạng hoài niệm quá khứ xa xưa không trở lại và mộng
tưởng về một tương lai mịt mờ, xa xăm. “Khúc ngâm này lổn nhộn những từ Hán Việt”
– Xuân Diệu.
“Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương phố bến xưa”
“Xưa sao hình ảnh chẳng rời
Bây giờ nỡ để cách rời Sâm Thương”
“Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước
E đến khi đầu bạc mà thương
6
Mặt hoa nọ gã Phan lang
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng”
1.2.4.2. Ngôn ngữ bình dân, từ láy:
lớp ngôn ngữ bình dân được sử dụng rất hạn chế, tỉ lệ sử dụng từ láy 60/408 câu,
tỉ lệ 15%
2. Một số đoạn trích tiêu biểu
“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành khô
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau.”
II. ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
1. Chủ đề, tư tưởng
TƯ TƯỞNG
8
* Tư tưởng định mệnh
- Nguyễn Du chịu sự ảnh hưởng và có sự tiếp nhận từ nhiều luồng tư tưởng:
+ Tài mệnh tương đố, thân mệnh tương đố, hồng nhan bạc mệnh: Những luồng
tư tưởng này Nguyễn Du chủ yếu chịu ảnh hưởng từ Nho giáo và Đạo giáo, được thể
hiện rõ trong cả Đoạn trường tân thanh và thơ chữ Hán.
+ Nghiệp báo luân hồi, tình là dây oan: Chịu ảnh hưởng từ Phật giáo
Có thể thấy, tư tưởng định mệnh mà Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều là
một khối mâu thuẫn, tư tưởng ấy vừa chịu tác động từ nhiều luồng khác nhau, không
chỉ ảnh hưởng từ tư tưởng tôn giáo mà còn mang trực cảm chủ quan của cá nhân nhà
thơ.
- Khi tiếp nhận những luồng tư tưởng này (trong Đoạn trường tân thanh)
+ Nguyễn Du đã có sự tiếp nhận rất tinh tế, nhạy cảm và sâu sắc: Trong tác

hành hạ cha và em trai TK để hòng moi tiền:
Một ngày lạ thói sai nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
+ Nó biến những con người làm việc nơi công quyền thành những tên cướp tàn
bạo: “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi… Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”
+ Nó khiến hạnh phúc gia đình đang êm ấm, thanh bình trở thành tai ương, khiến
những con người lương thiện mắc phải oan sai, đau khổ:
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ
Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây
+ Nó chà đạp lên con người, biến con người thành món hàng để ngã giá, kéo qua
đẩy lại, nâng lên đặt xuống, đẩy con người vào những hoàn cảnh nhơ nhớp, đen tối:
Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm
- Xã hội cường quyền tàn bạo
10
Bọn sai nha lợi dụng quyền thế của mình để cướp bóc, hành hạ gia đình Kiều.
Hồ Tôn Hiến dùng quyền để cưỡng ép Kiều phải hầu đàn, hầu rượu, để rồi sau đó
gả nàng cho viên thổ quan:
Bắt nàng thị yến dưới màn
Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu
…Lệnh quan ai dám cãi lời
Ép tình mới gán cho người thổ quan
- Con người trong sự khuynh đảo mọi lề thói xã hội trở nên độc ác, nham hiểm:
• Âm mưu, thủ đoạn của lũ buôn người Tú Bà, Sở Khanh: Để ép TK phải phục vụ
trong lầu xanh, TB cùng SK đã tìm cách lừa nàng. Thủ đoạn độc ác của TB được tiếp
tay bởi sự đê tiện, bỉ ổi của SK. TB đưa Kiều ra lầu Ngưng Bích, vờ hứa gả chồng cho
nàng, nhưng kỳ thực là để tạo cơ hội cho gã lừa tình SK dụ dỗ nàng bỏ trốn. Chúng hẹn
ngầm với nhau bắt giữ nàng giữa đường để có cớ đánh đập nàng, buộc nàng phải theo
lệnh chúng.
• Sự ghen tuông, nham hiểu của Hoạn Thư: vì ghen tuông, HT nghĩ ra những

ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến với quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Yêu
nồng nàn, tha thiết, tự đi tìm tình yêu, hạnh phúc cho mình, song họ vẫn gìn giữ tình
yêu trong sáng, không chút vật dục tầm thường.
- Ngợi ca khát vọng công lý
Không như nhiều truyện Nôm khác, công lý trong ĐTTT không được thể hiện ở
kết thúc có hậu khi cái thiện chiến thắng cái ác, con người lương thiện được hưởng
hạnh phúc. Mà trong ĐTTT, khát vọng công lý được biểu hiện tập trung ở người anh
hùng Từ Hải với lưỡi gươm công lý. Nhờ Từ Hải giúp đỡ mà TK oán trả oán, ân đền ân,
công lý được thực hiện. Tuy khát vọng công lý ấy chỉ lóe lên rồi vụt tắt nhưng nó đã
12
nhen nhóm lên niềm tin vào sức mạnh của chính nghĩa, cổ vũ con người vươn lên đấu
tranh vì ngày mai tươi sáng.
* Tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người
VD: Nhân vật Thúy Kiều
Sống trong xã hội đầy ngang trái, oan nghiệt, con người phải gánh chịu số phận
bi thương. Nhất là những người phụ nữ yếu đuối, họ trở thành nạn nhân của cái xã hội
đó. Nó đè nén họ, chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc của họ, không cho họ đất
sống:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Toàn bộ cuộc đời lưu lạc, gian truân của TK, từ chỗ bán mình chuộc cha, mối
tình đầu chớm nở bị dang dở bởi nạn nhà, nàng hai lần phải vào lầu xanh, bị những kẻ
buôn người như MGS, TB,… lừa gạt, hành hạ, bị Hồ Tôn Hiến lợi dụng lòng tin để hại
Từ Hải, bị ép gả cho viên thổ quan,… đã thể hiện tiếng nói đau xót của tác giả về con
người bất hạnh này. Phản ánh những bi kịch của TK, nhân phẩm bị chà đạp, hạ nhục,
hạnh phúc bị chia cách, ND đã cất lên một tiếng kêu thương đến đứt ruột, xót thương
cho số phận con người.
Đặc biệt, số phận càng trớ trêu, cuộc đời càng oan nghiệt với những con người có
tài năng, phẩm hạnh:
- Rằng: hồng nhan tự thuở xưa

đẹp như TK, TV, Kim Trọng, Từ Hải,… Nhân vật phản diện mang bản chất tàn ác, xấu
xa như MGS, Tú Bà, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến,
- Nhân vật chính diện:
Chủ yếu sử dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng để lý tưởng hóa vẻ đẹp nhân vật:
Dùng hình tượng thiên nhiên để cực tả vẻ đẹp các nhân vật. TK, TV được so sánh với
14
trăng, hoa, tuyết ngọc, thu thủy, xuân sơn,… Với KT, đó là “Tuyết in sắc ngựa câu giòn
– Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời”, làm cho “Một vùng như thể cây quỳnh cành
giao”. Từ Hải lại là vẻ đẹp của đấng anh hùng “Râu hùm, hàm én, mày ngài”.
Song không vì thế mà ước lệ rơi vào chung chung, sáo mòn, mà mỗi nhân vật là
một vẻ đẹp riêng, một tính cách riêng. Vẻ đẹp hiền lành, phúc hậu, hài hòa “Khuôn
trăng đầy đặn nét ngài nở nan…Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” của TV dự
báo về một cuộc sống bình lặng, suôn sẻ. Trong khi đó Kiều mang vẻ đẹp “sắc sảo mặn
mà” khiến cho hoa phải “ghen” vì thua thắm, liễu phải “hờn” vì kém xanh, dự cảm về
tương lai đầy trắc trở, éo le. Nếu như Kim Trọng mang dáng vẻ của văn nhân nho nhã,
tài hoa “Hài văn lần bước dặm xanh – Một vùng như thể cây quỳnh cành giao”, thì Từ
Hải lại hiện lên với sức mạnh của bậc trượng phu đội trời đạp đất “Râu hùm, hàm én,
mày ngài – Vai năm thước rộng, thân mười thước cao”.
Các nhân vật chính diện ngoài vẻ đẹp ngoại hình, họ còn sáng ngời vẻ đẹp phẩm
chất và tài năng. Tất cả họ đều là những con người giàu lòng nhân ái, vị tha, bao dung,
cứu giúp người khác trong cơn hoạn nạn, từ những nhân vật chính như TK, TV, KT, TH
đến nhân vật phụ như vãi Giác Duyên. Tài năng cũng được miêu tả đến lý tưởng ở một
số nhân vật: đó là cái tài “thông minh vốn sẵn tính trời” về mọi mặt cầm, kỳ, thi, họa
của TK; là cái tài phi thường, oai hùng “đội trời đạp đất” của TH.
Như vậy, nhân vật chính diện hiện lên với vẻ đẹp hoàn hảo, lý tưởng từ ngoại
hình đến phẩm chất, tài năng.
- Nhân vật phản diện:
+ Tác giả thường sử dụng bút pháp tả thực với khuynh hướng cá thể hóa từ ngoại
hình đến hành động. ND chụp cận cảnh, làm lộ bộ mặt thật con buôn của MGS “Mày
râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” với hành động “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, cách nói

đớn, nàng tự vẫn ở sông Tiền Đường, nhưng được vãi Giác Duyên cứu sống. Cuối cùng
KT tìm gặp được nàng. TK trở về đoàn tụ cùng gia đình.
- Hệ thống các nhân vật chính không đổi (chỉ lược bớt một số nhân vật
phụ).
- Về tư tưởng có sự tiếp nhận như tài mệnh tương đố, hồng nhan đa truân
qua việc thể hiện số phận nhân vật TK.
*Những sáng tạo của Nguyễn Du trong ĐTTT
- Về thể loại: từ văn xuôi (tiểu thuyết chương hồi) sang thơ (thơ lục bát). Sự thay
đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho ND phát triển cả hai yếu tố Tự sự và Trữ tình (dựa
trên đặc điểm của thơ lục bát), giúp tác giả thể hiện rõ những tư tưởng, quan điểm thẩm
mỹ của mình.
- Về kết cấu cốt truyện: Có sự thay đổi về tình tiết, chi tiết truyện
+ Lược bỏ một số chi tiết rắc rối không cần thiết, hoặc thậm chí có hại cho giá
trị thẩm mỹ, không thể hiện được tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ của ND: Kim Vân Kiều
truyện phát huy thế mạnh của tiểu thuyết chương hồi – mang đậm dấu ấn của phương
thức tự sự. Trong Đoạn trường tân thanh, để tạo nên sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
phương thức tự sự và trữ tình, Nguyễn Du đã lược bỏ một số chi tiết
VD:
(1)Kiều báo ân báo oán ( kết hợp vs khuynh hướng thẩm mỹ, đạo đức VN)
Đặc biệt trong đoạn báo ân báo oán, KVKT miêu tả chi li, cặn kẽ cách trả thù đến
tàn nhẫn của TK đối với MGS, TB, HT,…gây cảm giác rùng rợn. ND đã lược bỏ hầu
như toàn bộ phần đó, chỉ nói một cách vắn tắt, góp phần thể hiện quan niệm nhân đạo
của ND:
Lệnh quân truyền xuống nội đao
Thể sao thì lại cứ sao gia hình
Máu rơi thịt nát tan tành
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời
17
(2) Tú Bà dạy nghề cho Kiều
(3)Thúc Sinh chuộc Kiều

+ Kéo dài những chi tiết có giá trị khắc họa chiều sâu cảm xúc của nhân vật.
Nếu như trong KVKT, nỗi nhớ mong của chàng KT sau khi gặp gỡ TK trong buổi
du xuân chỉ được nói ngắn gọn, đơn giản: “Nhắc lại KT từ hôm gặp hai nàng trở về,
ngày đêm tơ tưởng, muốn lại được gặp mặt hai nàng lần nữa, nhưng không tìm ra kế
sách gì”.
Nhưng để khẳng định tình yêu nồng nàn, mãnh liệt của KT, ND dụng rất nhiều
công phu để miêu tả qua một đoạn thơ dài, với cảm xúc nhớ nhung được khắc họa sâu
đậm: Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây; Mặt tơ tưởng mặt, lòng ngao ngán
lòng; Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người – Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi. Tâm trạng ấy
được thể hiện qua những lối nói ẩn dụ đặc sắc:
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê
…Phòng văn hơi giá như đồng
Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan
- Về nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Thay đổi trong cách xây dựng tính cách nhân vật:
VD:
• Nhân vật Thúy Kiều
Kim Vân Kiều truyện Đoạn trường tân thanh
Mạnh mẽ, quyết đoán: như một
đấng nam nhi, TTTN xây dựng hình tượng
NV Kiều như một tay hào kiệt trong đám
bạn quần thoa.
Cứng cỏi, mạnh mẽ nhưng vẫn có
nét ngây thơ, trong sáng, đáng thương
VD: khi bán mình, Kiều vô cùng tủi
hổ, ê chề nhưng vẫn dứt khoát, vâng lời
làm theo MGS và mụ mối.
Nặng về lễ giáo: thường thuyết giáo
đạo đức, trước sau luôn ý thức và thể hiện

Duy tình
“Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân, Tạ lòng dễ
xứng, báo ân gọi là”
+ ở đây có dấu ấn dân tộc, dấu ấn
con người VN: một ngày nên nghĩa
+ Nhắc đến tình nghĩa, tự xưng
mình là người cũ, gọi TS là “cố nhân” 
coi trọng tình nghĩa.
+ Thay đổi phương thức xây dựng nhân vật
(1)Cá thể hóa ngoại hình nhân vật
VD:
• Mã Giám Sinh: KVKT: “Trong bọn có một người đẹp đẽ, bước tới chào và ngắm nghĩa
Thúy Kiều mãi” / ĐTTT: “Ghế trên ngồi tót…”
• Thúy Kiều: Ngoại hình dự báo trước số phận
(2)Tập trung vào thế giới nội tâm nhân vật
• Thế giới nội tâm phong phú đa dạng với những trạng thái cảm xúc đan xen
VD: Kiều ở lầu Ngưng Bích  Phức tạp
• Thể hiện quá trình diễn biến nội tâm: không chỉ thể hiện nội tâm nhân vật mà còn lý
giải nó.
VD: Trao duyên
Đoạn đầu: tiếng nói của lí trí (Cậy em…nước non).
 Lời nhờ cậy (thể hiện sự tinh tế, sắc sảo về tính cách và tỉnh táo, sáng suốt trong tâm lí
NV): cậy/ thưa (trang trọng) // mặc em (thân mật, ruột thịt)
 Lời thuyết phục:
20
. Nói đến cảnh ngộ éo le, khó xử “Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề” thu
gọn hành trình tình yêu gắn bó, sâu nặng chỉ trong một câu để Thúy Vân không bị tổn
thương mà vẫn hiểu được sự gắn bó giữa Thúy Kiều và Kim Trọng.
. Nói đến tình chị em thân thiết: Thúy Kiều coi Thúy Vân là ân nhân, xin Thúy

Na trong bài nghiên cứu “Hồ Xuân Hương với văn học dân gian” đã khẳng định: “Hồ
Xuân Hương tiếp thu dân gian nhưng không lặp lại dân gian; bà chỉ tiếp thu cái đẹp, cái
hay, cái đúng; cái gì chưa đúng thì uốn nắn”. Bằng việc “dám” đưa những yếu tố tục
vào thơ, bằng việc biến thể khác đi những biểu tượng văn hóa gốc, Hồ Xuân Hương đã
cho thấy sự kế thừa và sáng tạo cao độ văn học dân gian trong thơ của bà, và đương
nhiên, nữ sinh họ Hồ đã thực sự thành công.
1.1.1. Những đề tài dân gian trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương.
Đề tài trong thơ Hồ Xuân Hương rất phong phú và đa dạng. Bà viết về thiên
nhiên, về con người, về những hiện tượng trong đời sống sinh hoạt. Đặt điểm nhìn gần
gũi với nhân dân nhưng con mắt trông đời ấy vô cùng linh động và mới mẻ. Đọc thấm
thơ bà ta thấy được những góc khuất của con người đằng sau lớp ngôn ngữ có phần “nổi
loạn” ấy.
Theo như người viết tìm hiểu được, có bốn loại đề tài trong thơ Hồ Xuân Hương
mà ở đó ta thấy được mạch nguồn văn học dân gian chảy mạnh, đó là đề tài về người
phụ nữ, đề tài về nhà chùa, đề tài về phong tục- văn hóa dân gian và đề tài về những
người “có học”.
- Đề tài về những người “có học”: Chữ “có học” được đặt vào ngoặc kép là có dụng ý của
nó, thực chất Hồ Xuân Hương là người phụ nữ có học thức và hết sức thông mình, bà
đặc biệt chỉ trích những tên dốt nát, vô học, đạo đức giả, những kẻ ít chữ mà lại hay
huênh hoang, khoe mẽ. Bà gọi chúng là “phường lòi tói”, “lũ ngẩn ngơ”, đối lập hẳn với
những kẻ sĩ, hiền nhân quân tử vốn là đề tài được văn học dân gian ca ngợi. Những tên
học trò mới lớn ngốc nghếch, rủ nhau kéo đàn kéo lũ đi ghẹo gái, lại đua đòi vần vè ví
von; những tên vô học đi vãn cảnh lại đề bậy chữ nghĩa lên cổng chùa, Hồ Xuân Hương
lấy làm khó chịu mà nặng lời quở trách:
“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
22
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa.”
(Lũ ngẩn ngơ)

Chính vì lẽ đó, đề tài về nhà chùa, về bọn sư sãi “dởm” là một đề tài trở đi trở lại trong
thơ Hồ Xuân Hương, ở đó ta vừa thấy có tiếng cười đả kích châm chọc, vừa có tiếng
nói giễu cợt khinh thường, đôi khi là sự tức giận “ngoa ngoắt” của nữ sĩ họ Hồ vì “ngứa
mắt” trước trò lố bịch của đám sư hổ mang. Là một người phụ nữ sống hồn nhiên, cởi
mở, không tán thành với những điều trái với tự nhiên, ghét sự gò bó hay ép mình trong
khuôn khổ, cảnh tu hành “ăn chay niệm Phật” với Xuân Hương là trái tự nhiên rồi, tuy
vậy, bà vẫn không đả kích chốn linh thiêng chùa chiền mà chỉ hướng mũi nhọn về
những kẻ buôn thần bán thánh, mượn danh nhà sư để làm điều xằng bậy, bà gọi chúng
là bọn:
“Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta
Đầu thì trọc lốc áo không tà”
Chúng là một lũ bâu xâu đạo đức giả, mặc áo cà sa mà lại đi đêm, ăn thịt chó. Từ
hình dáng đến bản chất đều giả dối, lố lăng. Hồ Xuân Hương đã nối mạch cảm hứng thơ
văn xưa khi viết về đề tài bọn người này, nếu ca dao đã có những câu thơ:
“Ác tăng đội lốt thầy tu
Thấy cô gái đẹp bỏ chùa đi theo”
hay:
“Ai về nhắn với ông sư
Đừng hương khói nữa mà hư mất đời”
Dưới cái nhìn dân gian, những kẻ đội lốt thầy tu thật đáng lên án, Hồ Xuân
Hương đã “cảm cách cảm dân gian, nghĩ cách nghĩ dân gian” để rồi dựng lên trong thơ
mình tiếng cười trào phúng đặc sắc, đem lại cho người đọc những tràng cười hả hê.
- Đề tài người phụ nữ: Người phụ nữ luôn là một đề tài xuyên suốt văn học mọi thời đại,
văn học dân gian là cái nôi khởi đầu ấp ủ hình tượng người phụ nữ để rồi nó sống lại ở
những thời kỳ văn học sau với nhiều sắc thái hơn, nhiều màu vẻ và khía cạnh hơn. Hồ
Xuân Hương cũng tiếp nối từ trong dân gian nguồn đề tài bất tận ấy, những vần thơ của
bà viết về đề tài này chiếm một tỉ lệ khá cao, điều này đã nói lên thái độ và tình cảm của
bà Chúa thơ Nôm dành cho những nhân vật phụ nữ. Cùng là phận gái nổi nênh, có khi
Xuân Hương viết về chính cuộc đời mình, có khi bà dùng ngòi bút của mình thở than và
an ủi những cuộc đời khác. Song, dù tiếng thơ có lúc mạnh mẽ có lúc chua chát, đau đời

Đứng về phía người phụ nữ, cũng là đứng về phía sự sống, Hồ Xuân Hương
trong bài “Không chồng mà chửa” đã nhấn mạnh cái “nghĩa” bên cạnh cái “tình”. Cái
25

Trích đoạn Bức tranh thiên nhiên và đời sống nông thôn Bắc Bộ trong thơ Nguyễn Khuyến Phân tích chùm thơ Thu Những cách tân trên phương diện nghệ thuật thơ Tú Xương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status