NGUYỄN THỊ ĐIỆP DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM - Pdf 28

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ NGUYỄN THỊ ĐIỆP

DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 60 22 34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Phó Giáo sư - Tiến sĩ TRẦN HỮU TÁ


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài -------------------------------------------------------------1
2. Mục đích nghiên cứu ---------------------------------------------------------------3
3. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………...…...…3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu …………………………………………7
5. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………..8
6. Đóng góp của luận văn …………………………………………………….9
7. Cấu trúc của luận văn ………………………………………………...……9
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ
1.1 Một số vấn đề về văn hóa ……………………………………………………11
1.1.1 Khái niệm văn hóa……………………………………………….……11
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học………………………………...13
1.2 Đặc điểm về văn hóa Nam Bộ ……………………………………..……….16
1.2.1 Nền tảng địa - văn hóa Nam Bộ ……………………………………...16
1.2.2 Một số nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ ……………………………17
1.3 Nhà văn Sơn Nam với vùng đất Nam Bộ ……………………………………23
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp ……………………………………………...…23
1.3.2 Ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Sơn Nam
………………………………………………………………………………..27
Chương 2:
DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ QUA CẢNH VÀ NGƯỜI
TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM
2.1 Cảnh Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam …………………………………31
2.1.1 Cảnh thiên nhiên trong truyện ngắn Sơn Nam ……………………..….32
2.1.1.1 Thiên nhiên đậm chất hoang sơ, dữ dội .….…….…………………....32
2.1.1.2 Thiên nhiên gần gũi, hiền hòa, gắn bó với cuộc sống của con người
………………………………………………………………………………..37
2.1.2 Cảnh xã hội trong truyện ngắn Sơn Nam …………………………...…41
2.2 Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam ………………………...…49

MỞ ĐẦU
8. Lý do chọn đề tài
“Lịch sử văn học Việt Nam là lịch sử tâm hồn con người Việt Nam”. Lịch sử tâm
hồn ấy được những người nghiên cứu, giảng dạy văn học khám phá. Tương ứng với lịch
sử của các vùng miền khác nhau trên đất nước Việt Nam, văn học ở miền ngoài cùng
với lịch sử của nó đã được chú ý từ rất sớm. Sự hình thành và phát triển của văn học,
văn hóa Nam Bộ ở một góc độ nào đó lại là một vấn đề khác. Với khoảng thời gian 300
năm, văn học, văn hóa Nam Bộ đã có những đặc trưng và dáng dấp riêng biệt, không thể
lầm lẫn. Văn học Nam Bộ là một phần của văn học cả nước. Đóng góp của văn học
5
Nam Bộ là đóng góp của mảng văn học ở một vùng miền với những nét đặc sắc riêng
biệt. Đến với văn học Nam Bộ, chúng tôi đánh giá cao những sáng tác của các nhà văn
như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc,… Với tình cảm đặc biệt dành cho
văn học và con người vùng đất mới khai phá, chúng tôi tìm đến sự nghiệp của nhà văn,
nhà biên khảo Sơn Nam Nam trong đó chú ý đến mảng truyện ngắn của ông trong giai
đọan 1954 - 1975.
Theo chiều thời gian cái gì đọng lại cùng với con người, cuộc sống của con người
mang tính ổn định bền vững, thể hiện được đặc điểm về cách sống, cách nghĩ, cách cư
xử của con người trong tự nhiên và xã hội đều có thể quy về văn hóa. Khi chọn cho
mình đề tài này, chúng tôi có cơ hội tìm hiểu về văn hóa Nam Bộ qua sáng tác của một
trong những nhà văn Nam bộ điển hình: Sơn Nam. Là người viết nhiều và thể hiện trên
nhiều khía cạnh cộng với số lượng sáng tác và biên khảo khá đồ sộ, Sơn Nam được
đánh giá là pho từ điển sống của văn hóa Nam Bộ. Tìm hiểu đề tài này là điều kiện
thuận lợi để chúng tôi mở rộng cho mình vốn kiến thức về vùng đất và con người phía
nam tổ quốc.
Mảnh đất Nam Bộ với lịch sử hình thành 300 năm, là nơi màu mỡ cả về đất đai và
tình người. Ở nơi ấy, văn chương cũng chưa được đào sâu, cày xới để thấy được những
giá trị đích thực của nó. Trong một vài thập niên gần đây, ngày càng có nhiều người đi
vào tìm hiểu mảng văn học ở vùng đất này. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án
thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã có những đóng góp đáng kể. Đó là một hiện tượng đáng mừng

giúp ta có một cái nhìn toàn cảnh ở cả bề rộng lẫn bề sâu. Chúng ta có thể tìm hiểu vấn
đề qua lăng kính của một nhà văn, qua cách nhìn nhận ghi chép của một nhà biên khảo.
Vào những năm giữa thế kỷ XX, “ông già đi bộ” đã đi qua rất nhiều vùng đất khác
nhau, gặp gỡ nhiều con người, chứng kiến nhiều cảnh sinh hoạt khác nhau. Tất cả
những điều đó cộng với tư chất của một người cầm bút sáng tác, Sơn Nam đã đưa đất và
người Nam Bộ vào văn học một cách tự nhiên như chính cuộc sống vốn có và vốn đã
diễn ra. Còn chúng ta là thế hệ đi sau sẽ tìm thấy trong chính những sáng tác của ông
nhiều khía cạnh về văn hóa - xã hội miền Nam một cách đáng tin cậy.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận văn được xác định như sau:
Thứ nhất, tìm hiểu những đặc trưng cơ bản về văn hóa Nam Bộ. Bên cạnh đó là
những nội dung liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Sơn Nam. Đặc biệt, lý giải về
sự ảnh hưởng và tác động của văn hóa Nam Bộ đến tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
này.
7
Thứ hai, khảo sát dấu ấn văn hóa Nam Bộ ở phương diện nội dung trên hai khía cạnh
cảnh sắc và con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam.
Thứ ba, đánh giá dấu ấn văn hóa Nam Bộ qua nghệ thuật của truyện ngắn Sơn Nam
trên một số phương diện đặc sắc như: nghệ thuật kết cấu truyện ngắn, nghệ thuật xây
dựng nhân vật và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.
Như vậy, mục đích chính luận văn không phải khảo sát tất cả các khía cạnh của văn
hóa Nam Bộ được biểu hiện qua truyện ngắn của Sơn Nam mà chỉ đi vào những bình
diện người viết nhận thấy đó là những nét đặc trưng cơ bản về văn hóa Nam Bộ.
3. Lịch sử vấn đề
Tác giả Sơn Nam và sự nghiệp của ông được đánh giá là một hiện tượng của văn học
Nam Bộ. Vì vậy, trong một vài mươi năm trở lại đây đã có khá nhiều nhà nghiên cứu,
phê bình và độc giả yêu mến quan tâm đến những sáng tác của ông. Tuy vậy, có thể nói
đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá đầy đủ và có
hệ thống toàn bộ sự nghiệp của nhà văn Nam Bộ này. Phần nhiều đó là các bài phỏng
vấn, lời giới thiệu, đề tựa cho các tập sách của Sơn Nam trên các báo, tạp chí hoặc

Thành phố Hồ Chí Minh. Với tư cách là nhà Nam Bộ học, những sáng tác, biên khảo
của Sơn Nam đã được nhiều người chú ý đến. Trong tập sách Bình văn của nhóm tác
giả Trần Hòa Bình, Lê Duy, Văn Giá do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1997, Văn
Giá đã nhận định Sơn Nam là nhà văn có vốn kiến thức sâu rộng về lịch sử, con người,
về đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng Đất Mũi. Văn Giá còn trân trọng gọi ông là
chủ nhân của rừng tràm trong một bài giới thiệu cùng tên. Sau đó, hàng loạt những
danh xưng khác nhau được gắn cho nhà văn Sơn Nam trên các bài báo, tạp chí như Sơn
Nam - người đánh đàn độc huyền kể chuyện Nam Bộ, Ông từ giữ đền của đất Gia Định
xưa, Nhà văn Sơn Nam - hãy học tập những trang đời,… Đến lúc này, trên văn đàn Sơn
Nam đã trở thành một hiện tượng văn học thực sự.
Năm 1998, Nhà xuất bản Trẻ một lần nữa chú ý đến giá trị những sáng tác của Sơn
Nam khi cho tái bản nhiều tác phẩm ông. Trong đó, Hương rừng Cà Mau được in dưới
dạng nhiều tập, được Hoàng Phủ Ngọc Phan giới thiệu và đánh giá như một quyển “cảo
thơm” có giá trị ngang với “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân và là bức tranh đất
nước trong khoảng thời gian đầu XX.
Khi văn học đô thị miền Nam được chú ý tập hợp và biên soạn, nhiều công trình có
giá trị đã ra đời. Trong đó: năm 1998, có công trình Địa chí văn hóa Thành phố Hồ
Chí Minh, Nhà xuất bản Tp.HCM do giáo sư Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên.
Phần văn học - báo chí - giáo dục (tập 2), chương viết về “Văn học yêu nước công khai
ở Sài Gòn trong 30 năm cách mạng và kháng chiến” do nhóm tác giả Tầm Vu, Nguyên
9
Thanh, Viễn Phương, Hồ Sĩ Hiệp, Trần Hữu Tá biên soạn, đã nhắc đến Sơn Nam với
vai trò là một nhà văn tiêu biểu của Nam Bộ và ghi nhận vai trò của ông trong những
đóng góp vào mảng văn học yêu nước tiến bộ cách mạng giai đọan 1954 - 1975. “Đất
nước, lịch sử và con người Nam Bộ đã được Sơn Nam say sưa phản ánh” trong tập
truyện ngắn này. Đồng thời, tác giả bài viết còn khẳng định “Hương rừng Cà Mau đáng
quý vì đem lại cho người đọc bình thường những xúc cảm thẩm mỹ bổ ích, những gợi ý
tích cực về đất nước và tình người” [17, 457].
Năm 2000, khi cho ra đời công trình Nhìn lại một chặng đường văn học, NXB
Tp.HCM, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá đã có những đóng góp đáng kể trong

Năm 2007, trong công trình Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp – thể loại,
NXB Giáo dục, Đà Nẵng, nhà nghiên cứu văn học Phan Cự Đệ đã khảo sát những đặc
trưng và thi pháp truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong đó có truyện ngắn của Sơn Nam.
Tác giả nhận định Sơn Nam “là nhà văn, nhà biên khảo tâm huyết về vùng đất và con
người Nam Bộ” [14, 697]. Đồng thời ông còn đánh giá Sơn Nam là một trong số ít
những nhà văn mà khi nhắc đến tên gọi của họ, người đọc sẽ nghĩ ngay đến những vùng
đất, những con người của một miền Tổ quốc.
Gần đây nhất năm 2008, luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng, Đại học
Vinh tìm hiểu vấn đề Nghệ thuật kể chuyện của Sơn Nam trong Hương rừng Cà
Mau. Trong công trình này, người viết chỉ tập trung khai thác những nội dung liên quan
đến nghệ thuật kể chuyện cụ thể là chủ thể kể chuyện, cấu trúc trần thuật và giọng điệu
trần thuật. Với cách khai thác như vậy, luận văn này đã góp phần nêu bật lên những đặc
điểm riêng biệt của nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Sơn Nam thông qua tập truyện
tiêu biểu này.
Cũng trong năm 2008, nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng cho ra đời công trình Văn
học Việt Nam nơi miền đất mới do NXB Văn học ấn hành. Đây là một công trình có
giá trị tổng hợp trên nhiều mặt và là sự giới thiệu khá đầy đủ về diện mạo văn học ở khu
vực phía Nam. Trong đó, Sơn Nam được giới thiệu với danh xưng khá quen thuộc – nhà
văn của miệt vườn Nam Bộ. Tác giả Nguyễn Q. Thắng đánh giá “Hương rừng Cà Mau
thuộc loại truyện xưa tích cũ …và có thể xem đây là tác phẩm đáng chú ý và sáng giá
nhất của Sơn Nam về sông nước, kinh rạch Miền Tây đất mẹ”. Đồng thời tác giả còn
nhấn mạnh “đây chính là cuốn sách thành công nhất của nhà văn sông nước miệt
vườn”[76, 1216].
Trước những tài liệu vừa điểm ở trên, chúng tôi nhận thấy việc đi vào tìm hiểu sự
nghiệp của Sơn Nam ở mảng sáng tác một việc làm cần thiết. Thêm vào đó, bản thân
vốn là người yêu thích văn học Nam Bộ và có một tình cảm đặc biệt dành cho nhà văn
Sơn Nam cùng những sáng tác của ông. Chúng tôi tin tưởng rằng qua đây sẽ thu nhận
được những giá trị của cuộc sống văn hóa và con người Nam Bộ từ những góc độ nhìn
11
nhận khác nhau. Cuộc đời của nhà văn Sơn Nam gói trọn trong thế kỷ XX và bước sang

12
tuổi của nhà văn Nam Bộ tiêu biểu này. Đó là mong muốn cũng là mục tiêu mà người
viết đặt ra cho luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn có sự kết hợp của nhiều phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
có sự liên quan chặt chẽ đến vấn đề văn hóa và lịch sử của vùng đất Nam Bộ vì vậy sự
kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa các lĩnh vực lịch sử, văn hóa và văn
học là một việc làm khoa học và cần thiết. Luận văn chỉ dừng lại ở việc áp dụng những
tư liệu khoa học về lịch sử và địa lý của vùng đất Nam Bộ làm kiến thức nền cho việc
khảo sát hai chương chính. Bên cạnh đó, một số phương pháp đặc trưng của các ngành
xã hội cũng được ứng dụng như phương pháp thống kê - phân loại, sử dụng số liệu,
phân tích,…
Phương pháp phân tích - tổng hợp: là phương pháp chính để tiến hành khảo sát,
tìm hiểu vấn đề. Dựa trên những truyện ngắn đã được khu biệt ngay từ đầu, luận văn
phân tích truyện ngắn Sơn Nam trên cơ sở kiến thức lý luận về văn hóa nói chung và
đặc trưng văn hóa Nam Bộ nói riêng. Đó là mấu chốt làm sáng tỏ vấn đề, sau đó tiếp tục
công việc tổng hợp lại thành những nội dung mang tính chất tổng quát. Từ hai công
đoạn này, chúng tôi đi vào khẳng định dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của
nhà văn Sơn Nam trong đặc trưng văn hóa Nam Bộ nói riêng và bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam nói chung.
Phương pháp thống kê - phân loại: Người viết vận dụng phương pháp này để sắp
xếp các truyện ngắn có cùng biểu hiện về văn hóa qua việc thể hiện thiên nhiên và con
người Nam Bộ; phân loại và tập hợp các truyện ngắn có cùng kiểu cốt truyện, kết cấu,
đặc điểm nhân vật, đặc trưng ngôn ngữ. Ngoài ra, phương pháp này còn được sử dụng
để lập các biểu bảng trong phần phụ lục của đề tài và là công cụ để đi vào phân tích
tổng hợp những vấn đề liên quan.
Bên cạnh đó các thao tác cơ bản khi nghiên cứu văn học cũng được người viết vận
dụng như quy nạp, diễn dịch, so sánh, đối chiếu, bình luận,... và đặt vấn đề trong tính hệ
thống để tiện theo dõi.

2.1.1 Cảnh thiên nhiên trong truyện ngắn Sơn Nam
2.1.1.1 Thiên nhiên đậm chất hoang sơ, dữ dội
2.1.1.2 Thiên nhiên gần gũi, hiền hòa, gắn bó với cuộc sống của con người
14
2.1.2 Cảnh xã hội trong truyện ngắn Sơn Nam
2.2 Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
2.2.1 Hoàn cảnh sống của con người Nam Bộ
2.2.2 Đặc điểm về con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
2.2.2.1 Mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên
2.2.2.2 Mối quan hệ giữa con người với xã hội
a. Trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng.
b. Trong mối quan hệ giữa con người với con người
Chương 3:
DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ QUA NGHỆ THUẬT
CỦA TRUYỆN NGẮN SƠN NAM
3.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu
3.1.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng kết cấu
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.2.1 Thế giới nhân vật phong phú và đa dạng
3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua yếu tố ngôn ngữ
3.2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua yếu tố ngoại hình
3.2.4 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật
3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
3.3.1 Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
3.3.2 Vài nét về cách sử dụng thành ngữ
3.3.2 Hiện tượng giọng kể chuyện mang đậm sắc thái dân gian Nam Bộ

Chương 1:
NHỮNG VẤN CHUNG ĐỀ VỀ VĂN HÓA

con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn để vươn tới sự
hoàn thiện theo khát vọng chân, thiện, mỹ và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển
không ngừng của đời sống xã hội. Đó cũng chính là quan điểm của các nhà văn hóa lớn
Việt Nam như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu.
Khi đặt văn hóa trong một giai đoạn cụ thể của đời sống xã hội và nhìn đời sống ấy
trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau thì văn hóa, hiểu theo nghĩa cụ
thể và các quan hệ cụ thể, là một trong các lĩnh vực chính, giữ vị trí rất quan trọng, cùng
với chính trị, kinh tế và xã hội tạo nên diện mạo, trình độ, chất lượng và đặc điểm xã hội
trong một giai đoạn phát triển nhất định.
16
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “trong công cuộc kiến thiết nước nhà có
bốn lĩnh vực đóng vai trò đặc biệt quan trọng ngang nhau đó là chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội” [10, 269]. Nghị quyết Trung ương V của Đại hội Đảng khóa VIII nhấn mạnh
thêm văn hóa còn bao hàm cả giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật
và cả công tác tư tưởng cũng được xem là một bộ phận quan trọng của toàn bộ hoạt động
văn hóa.
Theo cách hiểu hạn hẹp hơn và được sử dụng thông thường và khá phổ biến, khi
tách giáo dục, khoa học ra thành các lĩnh vực, các ngành có đặc trưng riêng, văn hóa còn
được coi chủ yếu là các loại hình hoạt động cụ thể của ngành văn hóa như bảo tồn, bảo
tàng, thư viện, xuất bản, báo chí, đời sống văn hóa cơ sở, lễ hội, phong tục, tập quán, tín
ngưỡng,… “và các loại hình sáng tạo văn học, nghệ thuật – một lĩnh vực được coi là nhạy
cảm nhất, mang tính sáng tạo đậm đặc và là bước phát triển cao của văn hóa” [10, 268].
Khi quan tâm vấn đề văn hóa nằm trong mối quan hệ với văn học nghệ thuật và
những vấn đề về đạo đức, lịch sử, địa lý của dân tộc ta, có hai cách tiếp cận về văn hóa vừa
có ý nghĩa lý luận vừa có tính thực tiễn lâu dài. Thứ nhất, “văn hóa là kết tinh những cố
gắng nhiều mặt và liên tục của con người trong trường kỳ lịch sử để khẳng định bản chất và
năng lực của mình, để nâng cao chất lượng sống và trình độ sống” [22, 300]. Thứ hai, “văn
hóa là một lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người trong xã hội bên cạnh các lĩnh vực khác
như chính trị, kinh tế” [22, 301]. Với ý nghĩa này, văn hóa lại chia ra thành các ngành, các
bộ phận như giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, tư tưởng, tín ngưỡng, phong

trọng và ngược lại trên bình diện phát triển của một nền văn học, tác động của văn hóa đến
văn học là tất yếu. Có thể nói, những nền văn học phong phú chỉ có thể phát triển thuận lợi
trên nền tảng của những nền văn hóa tiêu biểu. Và ở Việt Nam, văn học cũng phát triển trên
cơ sở của văn hóa Việt Nam. Chính các vùng văn hóa có truyền thống lâu đời như Kinh
Bắc, Thăng Long, Huế…, và folklore của các dân tộc Việt Nam là cái nôi sản sinh, nuôi
dưỡng và phát triển tài năng của các nhà văn lớn ở nước ta. Như vậy, nhìn nhận mối quan
hệ giữa văn học và văn hóa là đi vào vấn đề thể hiện những đặc trưng, giá trị của văn học
trong sự tác động và ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã
hội và sáng tạo văn học nghệ thuật là bộ phận quan trọng, nòng cốt của văn hóa, có khả
năng truyền cảm mạnh mẽ và có sức sống lâu bền khi biết đi sâu vào tư tưởng đạo đức, đời
sống bên trong của con người.
Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, có ý kiến cho rằng văn hóa là không
gian, là bầu không khí để trên đó cái cây văn học nảy nở. Một nền văn học bắt rễ sâu vào
đời sống văn hóa dân tộc, sẽ có điều kiện tốt để phát triển, đơm hoa kết trái. Nhà văn am
hiểu sâu sắc cội rễ của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, ắt hẳn sáng tác của
anh ta sẽ đạt đến chiều sâu của sự khái quát hóa và cá thể hóa. Trong văn hóa phải thấy
được đỉnh cao của nó là văn học. Vì vậy khi ta nói mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
cũng tức là nói về “mối quan hệ giữa cái tổng thể với cái bộ phận”. Vũ Khiêu nhấn mạnh
18
trong mối quan hệ này thì “văn học mặc dù là cái bộ phận nhưng lại có vai trò rất quan
trọng” [58, 09].
Trần Đình Sử quan tâm việc “nêu cao vai trò sáng tạo văn hóa của văn học” và điều
đó được thể hiện qua bốn điểm cơ bản sau: văn học có vai trò sáng tạo những mô hình văn
hóa đặc biệt là mô hình nhân cách con người; vai trò phê phán có tính văn hóa của văn học;
văn học phát huy vai trò lựa chọn của văn hóa; văn học trong vai trò sáng tạo văn hóa bằng
những tìm tòi mới về nội dung và nghệ thuật thể hiện mang tính đặc trưng của văn học -
nghệ thuật ngôn từ [71,179]. Cùng với quan điểm này, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn
Văn Hạnh xem văn hóa như là “nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương, văn học là
một hình thái đặc biệt của văn hóa, thuộc về ý thức” [23, 26]. “Văn học không chỉ lưu giữ
văn hóa, mà còn là một bộ phận - nếu không nói là nòng cốt - của văn hóa, sáng tạo ra văn

Chính cách hiểu và cách nghĩ như thế làm giảm sút vai trò sáng tạo văn hóa sâu sắc, nhiều
mặt của văn học. Ngày nay trong viễn cảnh xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc, vai trò sáng tạo văn hóa của văn học cần được nhìn nhận lại một cách thấu đáo.
Văn học đi vào chiều sâu văn hóa phát triển không gì khác hơn là khái niệm phát triển phải
trở thành tư tưởng chủ đạo trong văn chương hiện đại, với trí tuệ dân tộc được khơi sâu
trong dòng chảy của bản chất một nền văn hóa đậm đà tính nhân văn. Vì vậy các tác giả khi
sáng tác ngoài tài năng, tính chuyên nghiệp thì yếu tố tầm nhìn văn hóa và cốt cách văn hóa
cần được nhìn nhận một cách hợp lý [23, 28]. Đó chính là cơ sở để khẳng định sự tồn tại
lâu dài của văn học với thời gian.
Khi quan tâm đến những vấn đề của cuộc sống, của xã hội và con người, của lịch sử
dân tộc và đất nước, dưới góc độ văn hóa, người sáng tác có thể làm nổi rõ lên những chủ
đề, những nhân vật, sắc màu, giọng điệu, cách diễn đạt tiêu biểu, đặc sắc của một cộng
đồng, một vùng đất, một thời kỳ. Nhờ đó mà tạo ra một tiếng nói mới, có đóng góp mới
thực sự cho sự phát triển của văn chương dân tộc và nhân loại. Đồng thời trên phương diện
tiếp cận và nghiên cứu văn chương hiện nay, việc xem xét từ góc độ văn hóa tạo điều kiện
đi sâu đi sát vào những vấn đề trọng đại, sống còn, bức xúc của đời sống, của xã hội, của
lịch sử và của con người. Qua đó góp phần làm nổi bật lên sức mạnh cảm hóa, thanh lọc
lớn lao của văn học nghệ thuật. Đồng thời còn có thể khắc phục được khuynh hướng đề cao
một chiều, tuyệt đối hóa mặt hình thức kỹ thuật của văn chương, đôi lúc biến văn chương
thành một trò chơi chữ cầu kỳ, trống rỗng.
1.2 Đặc điểm về văn hóa Nam Bộ
1.2.1 Nền tảng địa - văn hóa Nam Bộ
Nền tảng địa - văn hóa của một vùng là khái niệm liên quan trực tiếp đến những vấn
đề về văn hóa và địa lý. “Theo nghĩa hẹp, địa - văn hóa là sự nhìn nhận văn hóa trong mối
quan hệ biện chứng với các yếu tố địa lý, nghĩa là căn cứ trực tiếp vào ý nghĩa của chính
cụm từ này. Theo nghĩa rộng, đó là cách xem xét văn hóa như là một sản phẩm do ý thức
chủ quan của con người sáng tạo ra nhưng đồng thời, đó cũng vừa là những kết quả của
20
nhân tố khách quan do các quy luật của tự nhiên tương tác vào” [98, 197]. Như vậy, khi
nghiên cứu nền tảng địa - văn hóa, cần đặt sinh thái tự nhiên và xã hội tại chỗ trong quan hệ

mảng đề tài này một cách thành công. Qua đây càng chứng tỏ được đặc trưng của các sáng
21
tác văn học trong việc tái hiện cuộc sống và vai trò của nó trong việc lưu giữ và truyền tải
những giá trị văn hóa dân tộc.
Xem xét nguồn gốc của những người đầu tiên đặt chân đến Nam Bộ đã chứng tỏ cho
chúng ta thấy nền văn hóa của khu vực này một mặt phát sinh từ những điều kiện địa lý
nhân văn mới, mặt khác lại liên quan mật thiết đến các yếu tố gốc gác, cội nguồn xuất thân.
Có thể tìm thấy vô số biến thể ca dao, dân ca từ miền Bắc được cải sửa trong kho tàng văn
học dân gian đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày nay, khu vực này bao gồm mười hai tỉnh và một thành phố. Đồng bằng sông
Cửu Long có đặc điểm địa hình là một châu thổ thấp, bằng phẳng, là sản phẩm bồi tụ của
sông Mê Kông, và là nơi có cửa sông giáp biển nên việc bồi tụ này vẫn diễn ra hàng năm.
Đây là nơi sở hữu một hệ thống kinh rạch chằng chịt với hơn “2500 km sông rạch tự nhiên
và 2500 km sông rạch đào” [06, 14] vì thế đặc điểm nổi bật của văn hóa đồng bằng sông
Cửu Long là văn hóa sông nước, kênh rạch. Điều này được thể hiện qua nền nông nghiệp
lúa nước, tập quán khai thác đánh bắt thủy sản, việc giao thông đi lại đến các lễ hội về nước
và đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp có liên quan đến sông nước.
Là một vùng văn hóa có tuổi đời trẻ nhất cả nước, văn hóa đồng bằng sông Cửu
Long dù đã được hình thành trong một thời gian dài nhưng vẫn đang ngày được định hình
rõ nét hơn. Nó góp phần tô thắm bức tranh văn hóa đa sắc của đất nước ta nhưng vẫn giữ
được những nét đặc sắc cho riêng mình.
1.2.2 Một số nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ
Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh chia đất nước ta thành 7 vùng văn hóa,
trong đó văn hóa Nam Bộ là vùng thứ bảy và có những đặc điểm của một vùng đất mới.
Việc phân vùng văn hóa được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa văn hóa lịch sử và địa
lý của một vùng và gọi tắt là vùng văn hóa. “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ, có những
tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu có mối quan hệ nguồn gốc
và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã trải qua
các mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại mật thiết, nên từ lâu đã hình thành
những sắc thái văn hóa chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh

làm thức ăn cho heo rừng nai, voi… Nai làm mồi cho cọp. Khỉ tha hồ ăn trái cây giữa rừng,
ven sông. Rừng lâm vồ, sộp, gừa rễ lòng thòng tạo hang động cho cọp sinh sản. Tán lá là
môi trường của nhiều loại chim. Xác thú trôi sông nuôi dưỡng cá tôm. Diều quạ và cá sấu
sinh sản mau trên bãi bùn,… Khó phân biệt đâu là đất bưng, đâu là ao vũng. Bờ biển mơ hồ
thay đổi hình dạng, cây mắm, cây đước, cây vẹt từ dưới nhô lên. Sông Cửu Long đổ ra biển
bồi đắp mũi Tây Nam. Mùa mưa nước chảy mạnh, thêm cơn lụt thường niên, cây mé sông
trốc gốc, phù sa tuôn tràn, doi bồi, vịnh lở, có cù lao sụp xuống mất dạng nhưng ở nơi khác
cồn nhỏ lại nhô lên”[46, 16]. Ngày nay, đến với vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú,
màu mỡ ta khó hình dung được thiên nhiên còn đầy vẻ hoang sơ trong buổi đầu khai phá.
Để làm được điều đó phải tìm đến những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, các giai thoại,
23
ca dao dân ca Nam Bộ từ xa xưa truyền lại. Đến với Nam Bộ, những nét vừa quyến rũ vừa
de dọa của thiên nhiên là những mẫu đề chính của truyện cổ và thơ ca dân gian. Sau này,
trong truyện Bác Ba Phi - một loại truyện trạng của văn học Nam Bộ, một món đặc sản tinh
thần của vùng sông nước thì khung cảnh thiên nhiên giàu có mà hoang sơ vẫn chính là cái
nền, vẫn là dòng chảy chính mang những nỗi niềm tâm sự, những quan hệ giữa con người
với nhau. Và ở thế kỷ XX, Sơn Nam đã tiếp bước truyền thống ấy một cách thành công
bằng những tác phẩm văn học mang đậm những sắc thái dân gian và hơn hai mươi công
trình khảo cứu có giá trị về đất và người, phong tục tập quán, lịch sử và văn hóa Nam Bộ.
Nam Bộ còn được biết đến là một vùng đất giao hòa của nhiều chủng tộc và văn
hóa.
Những yếu tố văn hóa từ ngoài du nhập vào đồng bằng sông Cửu Long rất rõ nét: văn
hóa Ấn Độ qua người Khmer, văn hóa Trung Quốc qua người Hoa, văn hóa Hồi giáo qua
người Chăm. Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều nguồn gốc địa phương, nhiều tôn giáo tín
ngưỡng khác biệt, nhiều trình độ phát triển về mặt xã hội cũng là điều hiển nhiên. Song tất
cả sự đa dạng, khác biệt đó đều được liên kết lại trong một nền văn hóa Việt Nam phong
phú và đa dạng trên vùng đất mới. Động lực của sự liên kết đó là các tộc người, sau khi đã
di chuyển vào đồng bằng sông Cửu Long, họ phải nương tựa vào nhau để thích nghi, khai
thác, chinh phục một thiên nhiên nhiên mới, thường xuyên biến đổi và rất đa dạng, mang
tính chất bán đảo, nhiệt đới, gió mùa, ẩm. Động lực của sự liên kết là dân tộc Việt đã đem

dân tộc. Truyền thống quý báu này được hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ chung
lưng đấu cật cùng nhau khai phá, phát triển vùng đất Nam Bộ trước đây và trong quá trình
đấu tranh chống áp bức của phong kiến và thực dân sau này. Cũng cần nói thêm rằng, nếu
như nhu cầu khai khẩn vùng đất mới đã tạo điều kiện hình thành sự đoàn kết của cộng đồng
thì yếu tố làm cho sự đoàn kết đó trở thành một giá trị lâu bền chính là ý thức dân tộc, là tư
tưởng, tình cảm, tâm hồn gắn bó với mảnh đất yêu quý của họ, là yêu cầu của sự sống còn
trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của cả dân tộc.
Nam Bộ là một khu vực bao gồm nhiều dân tộc, cư dân trong vùng theo nhiều tôn giáo,
tín ngưỡng khác nhau, nhưng các cộng đồng ở đây không tồn tại biệt lập theo nhiều không
gian văn hóa tộc người riêng rẽ mà sống xen kẽ nhau trong một đơn vị hành chính. Chính
điều kiện cộng cư này làm cho các dân tộc có điều kiện tiếp xúc với nhau nhiều hơn. Trong
quá trình đó các dân tộc vừa giao lưu vừa tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhau để làm
giàu thêm bản sắc văn hóa vốn có của mình.
Nam Bộ là vùng đất với những sắc thái văn hóa đặc trưng dựa trên những nét cơ
bản:
Thứ nhất, người dân Nam Bộ cơ bản vẫn là những người nông dân, những người
làm ruộng vườn, những việc lao động đồng áng. Như vậy, văn hóa truyền thống của vùng
đất này vẫn là văn hóa, văn minh nông nghiệp. Tuy vậy, nông nghiệp và người dân Nam Bộ
vẫn có những sắc thái riêng biệt. Đó là kiểu canh tác giữa ruộng và vườn được kết hợp chặt
chẽ. Ở Nam Bộ, hệ thống kênh rạch chằng chịt vừa tự nhiên vừa nhân tạo không những
25
đóng vai trò tưới tiêu mà còn là huyết mạch giao thông đi lại. Nhiều ý kiến còn gọi nơi đây
chính là khu vực của “văn minh kinh rạch”, “văn minh miệt vườn” hay “văn minh sông
nước”,… Chính đặc trưng này đã chi phối toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của người
nông dân Nam bộ. Mặc dù vậy, nông thôn Nam Bộ không gắn chặt trong mối quan hệ kiểu
tự cấp tự túc như Bắc bộ trước đây mà phần nhiều cũng gắn với nền kinh tế thị trường của
các khu vực lân cận như Sài Gòn và các đô thị khác trong vùng.
Thứ hai, mô hình tụ cư của cư dân Nam Bộ vẫn theo phương thức chung của cư dân
nông nghiệp nước ta, tuy nhiên, do môi trường và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
vùng nên cách tổ chức dân cư và xã hội nông thôn ở đây cũng có những sắc thái riêng. Kiểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status