Ảnh hưởng của sự phối hợp hai chế phẩm Atonik 1,8DD và Basfoliar-K đến một số chỉ tiêu sinh lí, hoá sinh của giống ớt F1 NP 907 (Capsicum frutescens - Pdf 28

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ CHÍ TOÀN
ẢNH HƯỞNG CỦA Sự PHÓI HỢP HAI CHÉ PHẨM
ATONIK 1,8DD VÀ BASFOLIAR-K ĐẾN MỘT SỔ CHỈ
TIÊU SINH LÍ, HÓA SINH CỦA GIỐNG ỚT Fl NP 907
(Capsicum frutescens L.)
CHUYÊN NGÀNH: SINH HỌC THựC NGHIỆM Mã số:
60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC Sĩ SINH HỌC • • •
Ngưòi hướng dẫn khoa học: PGS.TS Chu Hoàng Hà
Hà Nội, 2013
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Chu Hoàng Hà - người đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy trong Ban Giám Hiệu trường ĐHSP Hà
Nội 2 cùng các Thầy, Cô trong Ban Chủ Nhiệm khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP Hà
Nội 2, phòng Sau đại học trường ĐHSP Hà Nội 2, Viện Công nghệ Sinh học đã tạo mọi
điều kiện trong thời gian tôi học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Tập thế cán bộ Trung tâm hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học &
Chuyển giao Công nghệ, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận
văn này.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và những góp ý của ThS. La Việt Hồng - Trợ lý thiết bị
khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP Hà Nội 2 giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2013 Học viên
Lê Chí Toàn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các sô liệu, kết quả nghiên
cún trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ tài liệu nào.
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2013 Học viên
Lê Chí Toàn
LỜI CAM ĐOAN

Bảng 3.11. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến hàm
lượng đường khử trong quả của giống ớt F1 NP 907
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến hàm
lượng P-Caroten trong quả của giống ớt F1 NP 907
Bảng 3.13. Đánh giá hiệu quả việc sử dụng chế phẩm Atonik 1,8 DD và
Basfoliar-K
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến chiều
cao cây của giống ớt F1 NP 907
Hình 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến đường
kính thân cây của giống ớt F1 NP 907
Hình 3.3. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến tổng
số cành của giống ớt F1 NP 907
Hình 3.4. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến diện
tích lá của giống ớt F1 NP 907
Hình 3.5. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến
diệp lục tổng số giống ớt F1 NP 907
Hình 3.6. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến
tổng số quả của giống ớt F1 NP 907
Hình 3.7. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến
khối lượng quả trên cây của giống ớt F1 NP 907
Hình 3.8. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến năng
suất của giống ớt F1 NP 907
Hình 3.9. Ánh hưởng của chế phấm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến hàm
lượng Vitamin с trong quả của giống ót F1 NP 907
Hình 3.10. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến hàm
lượng đường khử trong quả của giống ót F1 NP 907
Hình 3.11. Ảnh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến hàm
lượng P-Caroten trong quả của giống ớt F1 NP 907
DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT

vậy với đặc điểm này ót tạo ra được lợi ích to lớn cho người sản xuất [1][5][9][11]
[45].
Ngày nay ngoài phương pháp bón phân truyền thống vào gốc người ta còn sử
dụng phương pháp bón phân qua lá dùng các nguyên tố khoáng đa lượng, vi lượng,
các chất kích thích sinh trưởng hoặc phối họp giữa các chất nhằm cung cấp các chất
cần thiết cho cây với ưu điểm tác dụng nhanh, hiệu quả cao và chi phí thấp. Ở Việt
Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến các loại cây
trồng khác nhau như lúa, lạc, đậu tương, khoai tây [2][ 12][ 13][ 14][ 18][ 19][21 ]
[23][28][30]. Các công trình đó cho thấy, sử dụng phân bón lá đã giúp cây sinh
trưởng tốt, hàm lượng diệp lục, tăng khả năng quang hợp và tăng năng suất cũng như
chất lượng nông sản.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các loại phân bón lá và các chế phẩm
kích thích sinh trưởng như: Atonik 1,8 DD, Basfoliar-K, Master, tuy nhiên không
phải tất cả các cây trồng đều có phản úng như nhau với các loại chế phẩm. Vì vậy,
cần dùng các chế phẩm bón lá như thế nào để có hiệu quả nhất đồng thòi giúp cho
cây sinh trưởng phát triến tốt và không làm ảnh hưởng đến chất lượng nông sản là
việc không dễ dàng. Xuất phát từ lý do đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
ÍL
Anh hưởng của sự phối hợp hai chế phẩm Atonik 1,8DD và Basfoliar-K
đến một số chỉ tiêu sinh /í, hỏa sinh của giống ớt F1 NP 907”
2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá ảnh hưởng của 2 chế phấm kích thích ra lá Atonik 1,8 DD; chế
phẩm kích thích đậu quả Basfoliar-K và hiệu quả khi kết hợp 2 chế phẩm này đến
khả năng sinh trưởng, năng suất, một số chỉ tiêu hóa sinh trong quả của giống ớt F1
NP 907 hiện đang được người nông dân trồng phổ biến ở Vĩnh Phúc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cún ảnh hưởng của sự phối hợp hai chế phẩm Atonik 1,8 DD
và Basfoliar=K đến một số chỉ tiêu sau:
3.1. Chỉ tiêu về sinh trưởng phát triến:Chiều cao cây, đường kính thân
cây; khả năng phân cành và nhánh/cây.

2
; H2SO4; KMn0
4
; HC1; axit Ascobic v.v.
4.2. Thòi gian, địa điếm và phạm vi nghiên cứu
* Thời gian nghiên cứu tiến hành từ ngày 10 tháng 07 năm 2012 đến ngày 30
tháng 03 năm 2013.
* Địa điếm nghiên cún
- Thí nghiệm ngoài đồng mộng được thực hiện tại xã Thanh Lâm, Huyện Mê
8
Linh, Thành phố Hà Nội.
- Phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Sinh lí thực vật của
khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP Hà Nội 2, Trung tâm hỗ trợ NCKH &
chuyến giao công nghệ và ngoài đồng mộng.
* Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cún ảnh hưởng của phun phối họp hai chế phẩm Atonik 1,8 DD và
Basfoliar-K đến một số chỉ tiêu sinh lý (sinh trưởng - phát triển, quang họp
và năng suất) và một số chỉ tiêu hóa sinh (hàm lượng diệp lục, vitamin c,
canotenoit, đưởng khử) đến giống ớt F1 NP 907.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ỷ nghĩa khoa học
Ket quả nghiên cún của đề tài bổ sung các tài liệu nghiên cứu ảnh hưởng của
hai chế phẩm và kết hợp giữa hai chế phẩm Atonik 1,8 DD và Basfoliar-K đến sinh
trưởng, quang họp, năng suất của cây ớt; một số chỉ tiêu hóa sinh của quả ớt F1 NP
907.
5.2. Ỷ nghĩa thực tiễn
Ket quả nghiên cún của đề tài sẽ góp phần khắng định chế phẩm Atonik
1,8 DD, Basfoliar-K và sự kết hợp của 2 chế phẩm này có phù họp với cây trồng
cụ thể là cây ớt hay không. Nếu thực sự chúng có vai trò làm tăng khả năng
sinh trưởng, quang hợp, năng suất và phẩm chất thì khuyến cáo để người

* Hoa
Các hoa hoàn thiện và quả thường được sinh đơn độc trên từng nách lá. Hoa
có thể mọc thẳng đứng hoặc buông thõng. Trên cuống hoa thường không có li tầng,
hoa thường có màu trắng, một số giống có màu sữa, xanh lam, màu tím. Hoa có 5-7
1
0
cánh hoa, cuống dài khoảng l,5cm, đài ngắn có dạng chuông, nhụy có màu trắng
hoặc tím, đầu nhụy có dạng hình đầu, hoa có 5-7 nhị đực với ống phân màu xanh da
trời hoặc tía.
* Quả
Thuộc loại quả mọng có nhiều hạt và chia nhiều ngăn. Các giống khác nhau
có kích thước quả, hình dạng, màu sắc, độ cay và độ mềm của thịt quả rất khác nhau.
Quả chưa chín có thể có màu xanh hoặc tím, quả chín có màu đỏ, da cam, vàng, màu
kem.
* Hạt
Hạt ớt nhỏ dẹp có dạng thận, màu vàng rơm, hạt có chiều dài khoảng 3- 5mm,
1 gram ớt cay có khoảng 220 hạt.
1.1.3. Thời vụ
- Vụ đông - xuân: gieo hạt từ tháng 10 đến tháng 12, trồng vào tháng 1-
2, thu hoạch từ tháng 4-5 đến tháng 6-7.
- Vụ hè - thu: gieo hạt từ tháng 6-7, trồng vào tháng 8-9, thu hoạch vào tháng 1
-2.
Ngoài ra, ở các bãi ven sông hoặc các vùng đất trống không trồng được lương
thực, người ta có thể trồng ót xuân - hè, gieo hạt từ tháng 2-3, trồng tháng 3-4, thu
hoạch tháng 7-8 [1][5][6][41].
1.1.4. Giá trịy học
Bên cạnh là loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn, giúp làm tăng cảm
giác ngon miệng, ót còn là một vị thuốc rất quý trong y học cố truyền, có thể chữa
được nhiều căn bệnh một cách hữu hiệu.
Theo y học cổ truyền, ót có vị cay, nóng, có tác dụng khoan trung, tán hàn,

Nhắc đến ớt không thể không nhắc đến Hàn Quốc, ớt là thành phần không thể
thiếu trong các món ăn hằng ngày của người dân Hàn Quốc. Ước tính trung bình một
1
2
người dân Hàn Quốc tiêu thụ 3,8 kg ớt/năm. Có thể nói ớt là loại rau chủ lực ở nước
này: Diện tích ớt tươi của Hàn Quốc đứng thứ 8 trên thế giới, năm 2006 sản lượng ớt
của Hàn Quốc đạt 395,295 tấn, ớt khô là 116,915 tấn.
Mỹ là nước thu được lợi nhuận cao nhất từ ớt trên thế giới cả về giá trị nhập
khẩu và xuất khẩu, năm 2008 giá trị xuất khẩu của Mỹ chiếm khoảng 4,76% giá trị
xuất khẩu toàn thế giới, trong khi Hàn Quốc chỉ chiếm 2%. Ở Châu Á Hàn Quốc là
nước có thế mạnh về xuất khẩu ớt, giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc cao gấp 5-6 lần so
với Trung Quốc [29][42][43].
1.2.2. Tại Việt Nam
Ớt là một gia vị rất phổ biến, được trồng rộng rãi ngoài đồng ruộng và tại
vườn gia đình. Ớt dùng cho bưa ăn, dùng để xuất khẩu và làm cảnh.
Theo Tổng cục thống kê 2009, năm 2008 diện tích trồng ớt của nước ta là
6.532 ha, sản lượng đạt 62,993 tấn. Năng suất trung bình là 9,6 tấn/ha, thấp hơn so
với năng suất trung bình của toàn thế giới 14,5 tấn/ha.
Một số địa phương trồng ớt xuất khẩu truyền thống có diện tích lớn như: Hải
Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình Năm 2008 diện tích trồng ớt của Hải
Dương cao nhất cả nước chiếm 12% và 18% sản lượng so vói cả nước [29].
Theo xếp hạng của FAO 2006, Việt Nam đứng thứ 5 trên toàn thế giới về
diện tích trồng và chế biến ớt khô, ớt bột và đứng thứ 7 về sản lượng. Sản phẩm ớt
bột ở nước ta hiện nay đang đứng đầu trong các mặt hàng gia vị xuất khẩu, với thị
trường tiêu thụ khá ổn định và đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể [29].
1.3. Khái quát về chế phẩm phân bón lá
Theo Nguyễn Văn Uyển (1995) [31], Vũ Hữu Yêm [32] và Võ Minh Kha
[15] phân bón lá trên thị trường trong nước và thế giới rất phong phú, thường được
sản xuất dưới dạng các chế phẩn bón qua lá, có thể chia thành 3 nhóm:
- Nhóm chỉ có các yếu tố đa lượng và vi lượng phối hợp hoặc riêng rẽ.

Các nguyên tố vi lượng có vai trò rất quan trọng đối với
1
4
cơ thể sinh vật, đặc biệt là thực vật vì chúng không
những chỉ là chất xúc tác các loại enzym mà còn tham gia
cấu trúc vào rất nhiều các nhóm enzym khác nhau. Cây
trồng vẫn hút các nguyên tố vi lượng từ rễ. Tuy nhiên do
hàm lượng các nguyên tố quá nhỏ, hơn nữa vào nhũng giai
đoạn cây trồng có nhũng biến động mạnh như phân cành, ra
hoa, tạo quả thì nhu cầu các nguyên tố vi lượng tăng vì
vậy các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam cũng đã
sử dụng các nguyên tố vi lượng đơn lẻ hay phối hợp với
nhau để phun lên lá đế giúp cây sinh trưởng tốt, tăng khả
năng quang hợp, tăng khả năng chống chịu (hạn, úng) của
các cây trồng như đậu xanh, đậu tương, lạc v.v. [2][17]
[18] [20][30].
Ngoài việc bổ sung các nguyên tố vi lượng, đa lương cho cây trồng, trong
những năm gần đây, các chế phẩm dùng để bón lên lá cho cây trồng cũng được các
nhà khoa học quan tâm. Theo tác giả Đường Hồng Dật (2003) [10], cho rằng bón
phân qua lá phát huy hiểu lực nhanh, tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng đạt ở mức
cao 90 - 95%, trong khi bón phân qua đất cây chỉ sử dụng được 40 - 50%. Tống diện
tích bề mặt lá tiếp xúc với phân bón thường cao hơn 8 - 10 lần diện tích tán cây che
phủ, các chất dinh dưỡng được vận chuyển tự do theo chiều từ trên xuống với tốc độ
nhanh hon (30cm/h) do đó hiệu lực hấp thụ dinh dưỡng từ lá cũng cao gấp 8 - 10 lần
so với khả năng hấp thu từ rễ.
Bùi Bá Bồng và cs (2005) [5] cho biết: chế phấm phân bón qua lá đã làm tăng
chất lượng nông sản: giảm hàm lượng NO3 trong dưa chuột 28 - 35%, trong cải xanh
20 - 35%, trong bắp cải 25 - 70%. Phun phân bón qua lá TP -108 cho cà chua làm
tăng tỷ lệ tinh bột lên 29%, hàm lượng muối khoáng lên 17,6%, vitamin с lên 11,1%,
hàm lượng đường lên 23%. Phun HVP cho trái Thanh long làm thời gian lưu giữ trái

cho cây sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, cải thiện chất lượng nông sản.
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu
2.1. Đối tượng nghỉên cún
1
6
❖ Mầu thực yật: Giống ớt FI NP 907 sinh trưởng và phát triển mạnh, kháng
bênh tốt, đâm nhiều nhánh, cho trái sai và trồng được quanh năm. Trái dài 8-
12cm, đường kính trái 0,8-l,6cm, khi chín màu đỏ bóng, thịt dày, cay, thu
hoạch sau trồng 70-75 ngày. Năng suất cao đến 20-30 tấn/ha. Có khả năng
kháng bệnh thối trái và chết cây [3][11].
❖ Chế phẩm Basfoliar-K: là chế phẩm kích thích đậu quả cao cấp của công ty
Behn Meyer CHLB Đức.
- Thành phần: Total Nitrogen, P2O5, K
2
0, MgO, Zn.
- Nhà phân phối: Công ty CP Nông nghiệp Nhiệt Đới.
- Mô tả: Có tác dụng kích thích ra nhiều hoa và ra hoa trái vụ, tăng khả năng
đậu trái, tăng sức đề kháng của cây trổng với sâu bệnh, chống rụng quả non,
giúp quả lớn nhanh và mã đẹp.
- Liều lượng: 1 gói (15g) pha với 10-12 lít nước phun trên mặt lá.
❖ Chế phẩm Atonik 1,8 DD: là chế phẩm kích thích ra lá cây trồng thế hệ mới
có nguồn gốc từ Asihi Chemical MFG. Co., LTD. Japan
- Hoạt chất: Hợp chất Nitro thơm
- Tổ chức xin đăng ký: Asahi chemical MFG Co., Ltd Japan
- Nhà phân phối: Công ty thuốc sát trùng cần Thơ
- Mô tả: Chất kích thích sinh trưởng cây trồng trên lúa, cây ăn trái, rau màu,
hoa kiểng.
- Liều lượng sử dụng: 10 ml/8 lít.
2.2. Phưong pháp nghiên cún
2.2.1. Cách bố trí thí nghiệm

Đe đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm Atonỉk 1,8 DD và Basfolỉar-K đến các
chỉ tiêu quang hợp chúng tôi tiến hành xác định vào các thời điểm 5,10 và 15 ngày
sau khi phun:
* Hàm lượng diệp lục tổng số:.
Xác định chỉ số hàm lượng diệp lục tổng số bằng cách đo trên máy SPAD
1
8
-502, do Nhật Bản sản xuất.
Nguyên tắc hoạt động của máy: Diệp lục có khả năng hấp thụ ánh sáng ở 2
vùng xanh (blue) và đỏ (red) nhưng không hấp thụ ánh sáng lá cây (green) hoặc ánh
sáng đỏ xanh (hồng ngoại) bằng việc xác định nguồn năng lượng hấp thụ được ở
vùng đỏ có thể ước tính được lượng diệp lục có trong mô lá.
Cách đo: kẹp lá vào buồng đo đồng thời ấn nhẹ, trong vòng 30 giây đến
1 phút, đến khi máy phát ra tín hiệu âm thanh, khi đó đọc kết quả hiện trên màn
hình. (Mỗi công thức đo 30 mẫu ngẫu nhiên)
* Huỳnh quang của diệp lục:
Huỳnh quang diệp lục được đo trên máy chlorophyll Auorometer OS- 30 do
hãng ADC-Anh cung cấp. Thời gian ủ tối là 10 phút để các tâm phản ứng ở trạng
thái “mở” hoàn toàn hay toàn bộ chất nhận điện tử đầu tiên trong mạch vận chuyến
điện tử quang hợp Quinon A (Q
A
) ở trạng thái oxi hóa.
- Máy đo xác định các chỉ tiêu:
+ F
0
: Huỳnh quang ổn định F() phản ánh sự mất đi năng lượng kích thích
bằng bức xạ trong khoảng thời gian vận chuyển chúng về tâm phản úng PSII ở trạng
thái “mở”.
+ F
m

2
lá/ m
2
đất)
Trong đó diện tích lá s được đo bằng máy đo diện tích lá tụ’ động AAAM-7.
2.2.3.2. Anh hưởng của chếphấm Atonỉk 1,8 DD và Basfolỉar-K đến các yếu
tố cấu thành năng suất
Các yếu tố cấu thành năng suất: số quả/cây; khối lượng quả/cây (g/cây), mỗi
công thức xác định ở 30 cây ngẫu nhiên. Năng suất thực thu (kg/360m
2
) được tính từ
năng suất thực thu trên các ô thí nghiệm, sau đã quy đổi ra kg/360m
2
.
2.2.3.3. Anh hưởng của chế phấm Atonỉk 1,8 DD và Basfoliar-K đến hàm
lượng một số chất trong quả ớt
* Hàm lượng vitamin C: Xác định hàm lượng axit ascorbic (vitamin C) bằng
phương pháp Muri, theo TCVN 4328-2001. Thí nghiệm được thực hiện tại
Trung tâm HTNCKH & CGCN, ĐHSP Hà Nội 2 sau khi thu hoạch.
Chuẩn độ hàm lượng vitamin c bằng lốt được mô tả trong tài liệu thực hành
hóa sinh học của tác giả Phan Thị Trân Châu và cs [7].
v
c
.v. 0,00088.100
V ________________ ________________________________________________
Vf.g
X: Hàm lượng vitamin c có trong nguyên liệu (%)
v
c
: Số ml dung dịch I

vào ống nghiệm. Lắc đều và dẫn bằng nước cất đến mức 30ml.
- Đo quang phổ ở bước sóng >u=585nm trên máy uv - 2450 (Shimadzu, Nhật
Bản).
* Hàm lượng carotenoit: bằng phương pháp phương pháp đo ảnh phổ Anthrone
ở bước sóng 436 nm [34].
Phương pháp của hiệp hội các nhà hóa phân tích chính thống (AOAC, 1980).
Cho vào bình nón có chứa 50ml êtanon 95% lOg mẫu ướt đế ở nhiệt độ 70-80°C đặt
trong một chậu nước trong vòng 20 phút, lắc đều theo chu kì. Phần nổi lên trên được
gạn lấy, làm mát, lượng đó tiếp tục được đo bằng một loại xilanh chuyên dụng, sau
đó các số liệu đầu tiên được ghi lại.
Nồng độ êtanon thu được từ hỗn họp được chuyển về nồng độ 85% bằng cách
thêm vào 15ml nước cất sau đó làm mát trong một chậu đá trong 5 phút. Hỗn họp
được chuyển qua một phễu riêng biệt, 25ml ete dầu hỏa (petroleum ether) được thêm
vào hỗn hợp, tiếp theo êtanon đã được làm mát được đổ vào. Khuấy nhẹ phễu này để
thu được hỗn hợp đồng nguyên, để yên hỗn hợp cho đến khi thu được hai lớp tách
biệt. Lớp dưới đáy được dẫn vào một cốc thủy tinh, lớp trên được thu vào một bình
thót cổ hình nón thế tích 250ml. Lớp dưới đáy được chuyển vào một phễu để tiếp tục
tách, sử dụng lOml ete dầu hỏa, tách từ 5 đến 6 lần cho đến khi phần muốn tách có
màu vàng nhạt. Tống lượng ete dầu hỏa được thu vào một hình thót cổ hình nón thể
tích 250ml sau đó chuyển qua một phễu riêng để tách lại sử dụng 50ml êtanon 80% .
2
1
Phần triết tách cuối cùng được đo và đổ vào bình thí nghiệm đế dùng cho các phân
tích tiếp theo.
Dịch tách triết được đo bằng máy đo ảnh phổ (loại 22UV/VIS) ở bước sóng
436mn.
Nồng độ (3-Caroten được tính toán sử dụng định luật Bear - Lamberts
C=A/EL
C: nồng độ P-Caroten
A: độ hấp thụ

,
30
V n
<5
m=
/7
\Ịn
Độ tin cậy của hai so trung bình được tỉnh theo công thức
d Ị 2 2 — — —
td = ——; mcl = Jrĩĩị + mị ; d = X
2
— X] (trong đã x
2
: trung bình
mcỉ
thí nghiệm; Xị \ trung bình đối chứng; rri] sai số mẫu đối chứng, m
2
sai số mẫu thí
nghiệm)
So sánh td với t
a
lấy từ bảng phân phối Student Fisher với (ni + n
2
-
2) bậc tụ’ do
* Neu \td\ < ta thì 2 số trung bình khác nhau không có ý nghĩa với xác suất
>95%
2
3
>95%.

>95%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status