Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn
khoa học, chỉ bảo tận tình của TS Nguyễn Văn Đính. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc nhất tới thầy.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu. Ban chủ nhiệm khoa Sinh -
KTNN, cùng các thầy cô trong tổ sinh lý sinh hoá, cán bộ phụ trách phòng thí
nghiệm.Trung tâm hỗ trợ Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; các
bạn học viên trong nhóm nghiên cứu, các anh chị trong ban quản lý thư viện
trường ĐHSPHN 2.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình,
đồng nghiệp và bạn bè của tôi đã hết lòng ủng hộ, chia sẻ, giúp đỡ, động viên,
khích lệ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt luận văn này.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, thảng 7 năm 2013 Tác giả
Bùi Vãn Dũng
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2013 Tác giả
Bùi Văn Dũng
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN LỜI
CAM ĐOAN MỤC
LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG DANH
MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC TÙ VIÉT TẮT
TN : Thí nghiệm
ĐC : Đối chứng
CT : Công thức
Vĩnh Phúc là một trong các tỉnh có diện tích trồng ót tương đối cao, tập
tiling nhiều ở các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Đảo và thị xã Phúc Yên.
Theo ước tính của một số hộ dân ở huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng
với 360 m
2
trồng ớt thu hoạch được khoảng 8 đến 10 triệu đồng, so với trồng
lúa thì trồng ớt lãi gấp 5 lần. Vì vậy, diện tích trồng ót ở Vĩnh Phúc có chiều
hướng gia tăng. Hiện nay người nông dân ở Vĩnh phúc trồng một số giống ớt
có giá trị kinh tế cao như: giống ót giống ớt FI NP 907, PAT 34, TN 018, TN
026, [26].
Ở thực vật ngoài rễ là cơ quan hút nước và khoáng thì chúng còn có
3
khả năng hấp thụ một số chất từ thân, lá. Chính vì vậy, trong sản xuất con
người đã sử dụng một số chế phẩm như phân khoáng, các chất kích thích sinh
trưởng phun lên lá nhằm bố sung một số chất cần thiết cho cây trồng gọi
chung là phân bón lá. Dùng phân bón lá có nhiều ưu điếm: chất dinh dưỡng
được cung cấp nhanh hơn bón gốc, hiệu xuất sử dụng phân bón cao hon, chi
phí thấp, ít ảnh hưởng đến môi trường và làm tăng nhanh các quá trình sinh lí
trong cây, do vậy làm tăng năng suất và chất lượng nông sản. Do lợi ích của
phân bón lá đã được khẳng định như vậy nên hiện nay trên thị trường đã bán
rất nhiều các chế phẩm dùng phun lên lá như: Phân bón lá cao cấp Đầu Trâu;
chế phẩm Pisomix Y95; Atonik 1,8DD; tại các trung tâm nông nghiệp, các
chế phẩm này được sử dụng trên nhiều đối tượng khác nhau. Tuy nhiên,
không phải tất cả các cây trồng đều có phản ứng như nhau và cũng sử dụng
với liều lượng như nhau. Dùng phân bón lá như thế nào để có hiệu quả cao
nhất, đồng thời không ảnh hưởng đến chất lượng nông sản nói chung còn ít
các tài liệu bàn đến. Chính vì lí do đó chúng tôi chọn đề tài “Anh hưởng của
chế phấm Atonik 1,8DD đến một số chỉ tiêu sinh lí, hóa sinh giống ớt F1
NP 907” nhằm khẳng định hiệu quả của loại chế phẩm này đối với một số chỉ
tiêu sinh lí cũng như năng suất, chất lượng ớt làm cơ sở khuyến cáo cho người
- Hoạt chất: Hợp chất Nitro thơm
- Tổ chức xin đăng ký: Asahi chemical MFG Co., Ltd Japan
- Nhà phân phối: Công ty thuốc sát trùng cần Thơ
- Mô tả: Chất kích thích sinh trưởng cây trồng trên lúa, cây ăn trái, rau
màu.
- Liều lượng sử dụng: 10 ml/8 lít; phun 1 - 2 lần
* Các máy móc và hóa chất phục vụ cho nghiên cứu như: máy cất đạm tự
5
động, máy quét lá, máy đo hàm lượng diệp lục tổng số OPITI-
SCIENCES model CCM - 200 (do Mỹ cung cấp), Hóa chất gồm:
H
2
0
2
; H2SO4; KMnơ
4
; HC1; axit Ascobic.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Thời gian nghiên cứu tiến hành từ ngày 10 tháng 07 năm 2012 đến
ngày 30 tháng 5 năm 2013.
* Phân tích các chỉ tiêu tính trạng năng suất và hàm lượng một số chất
trong quả giống ớt F1NP 907 tại phòng thí nghiệm Sinh lí thực vật của
khoa Sinh - KTNN trường ĐHSP Hà Nội 2, Trung tâm hỗ trợ NCKH &
chuyển giao công nghệ và ngoài đồng mộng.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1. Ỷ nghĩa khoa học
Ket quả nghiên cứu của đề tài bổ sung các tài liệu nghiên cứu ảnh
hưởng của Atonik 1,8 DD đến một số chỉ tiêu sinh lý, năng suất và phẩm chất
quả đối với giống ớt cay F1 NP 907.
5.2. Ỷ nghĩa thực tiễn
Theo y học cố truyền, ớt có vị cay, nóng, có tác dụng khoan trung, tán
hàn, kiện tỳ, tiêu thực, chỉ thống (giảm đau), kháng nham (chữa ung thư ).
Do vậy ớt thường được dùng đế chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, đau
khớp, dùng ngoài chữa rắn rết cắn. Nghiên cứu của y học hiện đại cũng thống
nhất với y học cổ truyền về tác dụng chữa bệnh của ớt. Ket quả nghiên cứu
của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy quả ớt có rất nhiều ích lợi cho sức
khỏe. Trong ớt có chứa một số hoạt chất: capsicain là một alkaloid chiếm tỷ lệ
khoảng 0,05-2%, được xác định là acid isodexenic vanilylamit, có đặc điểm
bốc hơi ở nhiệt độ cao, gây hắt hơi mạnh. Ngoài ra còn có capsicain, là hoạt
chất gây đỏ, nóng, chỉ xuất hiện khi quả ớt chín, chiếm tỷ lệ từ 0,01- 0,1%.
Capsicain có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất endorphin, một chất
morphin nội sinh, có đặc tính như những thuốc giảm đau, đặc biệt có ích cho
những bệnh nhân bị viêm khớp mạn tính.
1.2. Đặc điểm sinh thái cây ót [ 1 ] [4] [6] [ 11 ] [25]
* Thời vụ
7
Ớt được trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ót
vào các thời vụ sau:
- Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12
và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ liếp cao
không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu
hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài,
tuy nhiên diện tích canh tác vụ này không nhiều.
- Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu
thu hoạch tháng 2-3 năm sau. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng
suất cao, ít sâu bệnh.
- Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5 trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dương dịch.
Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt đế tránh úng ngập và chọn
giống kháng bệnh thán thư.
* Chuân bị cây con
nitrat + (50-70) kg 16-16-8 + 1 tấn chuồng hoai + 100 kg vôi bột, tương
đương với lượng phân nguyên chất (185-210N) - (I5O-I8OP2O5) - (160-
I8OK2O) kg/ha.
Bón lót
Lượng bón 50 kg super lân, 3 kg Clorua kali, 2 kg Calcium nitrat, 10-
15 kg 16 - 16 - 8, 1 tấn phân chuồng và 100 kg vôi. Vôi rải đều trên mặt đất
trước khi cuốc đất lên liếp, phân chuồng hoai, lân rãi trên toàn bộ mặt liếp xới
trộn đều.
Bón thúc
Lần 1: 20-25 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy
(giống cao cây). Số lượng 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg 16-16-8 + 2 kg
Calcium nitrat. Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hoặc
đục lỗ màng phủ giữa 2 gốc cây.
Lần 2: 55-60 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều.
Lượng bón: 6 kg Ưrê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg16-16-8 + 2 kg
Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lỗ
giữa 2 gốc cây
Lần 3: Khi cây 80-85 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái.
Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg16-16-8 + 3 kg
Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lỗ
giữa 2 gốc cây
9
Lần 4: Khi cây 100 - 110 ngày sau khi cấy, thúc thu hoạch rộ (đối với
ớt sừng dài ngày).
Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg
Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lỗ giữa 2 gốc
cây.
* Chăm sóc:
Tưới nước: Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh.
Giãi đoạn này thiêu nước hoặc quá âm đêu dân đên đậu trái ít. Nêu khô hạn
lượng ớt tươi chiếm 50,4% của toàn thế giới sản lượng 13.031.000 tấn. Ấn độ
1.193.025 Tấn. Hàn Quốc 395.293. Việt Nam 81,007[26].
Ấn Độ là nước có tập quán trồng ớt từ lâu đời, là nước đứng đầu thế
giới về diện tích và sản lượng ót khô, năm 2006 diện tích ớt khô của Ân Độ
chiếm 48,2 % và chiếm 43,4 % sản lượng ớt khô toàn thế giới. Năm 2008,
diện tích trồng ớt khô nước này là 805.000 ha, sản lượng ớt khô Ấn Độ năm
2008 ở mức 1.297.000 tấn và năm 2009 đạt 1.167.000 tấn.
Trong khẩu phần ăn hằng ngày của người dân Hàn Quốc, ớt là thành
phần không thế thiếu. Ước tính trung bình 1 người dân Hàn Quốc tiêu thụ 3,8
kg ớt/năm. Ớt là loại rau chủ lực ở nước này: Diện tích trồng ớt tươi của Hàn
Quốc đứng thứ 8 trong tốp 10 nước đứng đầu về diện tích trồng trọt. Năm
2006 sản lượng ớt tươi Hàn Quốc đạt 395,295 tấn, ớt khô là 116,915 tấn, năng
suất ớt xanh của nước này rất cao đạt được 42,11 tấn/ha [26].
Mỹ là nước thu được lợi nhuận từ ớt cao nhất trên thế giới cả về giá trị
nhập khấu và giá trị xuất khẩu, năm 2008 giá trị nhập khẩu ớt của Mỹ chiếm
khoảng 24% so với giá trị nhập khẩu toàn thế giới. Hàn Quốc là nước có thế
mạnh về xuất khẩu ót trong số các nước Châu Á, giá trị xuất khẩu ót của Hàn
Quốc cao gấp 5-6 lần so với Trung Quốc [26].
1
1
1.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt của Việt Nam
Ớ nước ta, ớt là một loại gia vị rất phố biến, ở nông thôn trong vườn gia
đình người ta thường trồng một vài cây ớt vừa dùng trong bữa ăn hàng ngày,
vừa để làm cảnh. Ngoài lượng ớt trồng để sử dụng trong nước, hàng năm trăm
tấn ớt được xuất khẩu sang nhiều nước.
Theo số liệu thống kê năm 2008 diện tích trồng ớt của nước ta là 6.532
ha, sản lượng là 62.993 tấn, tăng 37% về diện tích và 35% về sản lượng so với
năm 2007. Năng suất trung bình là 9,6 tấn/ha năm 2008 đạt ở mức thấp so với
năng suất trung bình của toàn thế giới 14,5 tấn/ha [26].
Một số địa phương trồng ớt xuất khẩu truyền thống có diện tích lớn như
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyên Văn Đính [7] [8] [9] [10] sử dụng
KC1 (2%) phun lên lá cho khoai tây đã tăng hàm lượng diệp lục, cường độ
quang hợp và năng suất các giống khoai tây KT3, Mariella, Ngoài cách
phun bổ sung lên lá, tác giả Võ Minh Thứ và cs lại sử dụng NaCl, KCIO3
bằng cách ngâm hạt trước khi gieo đã làm tăng khả năng nảy mầm, tăng hàm
lượng diệp lục và huỳnh quang hữu hiệu giống lúa TH85. Vì vậy đã giúp cho
cây lúa có khả năng chịu được nồng độ muối đất cao hon đối chứng.
* Một số kết quả nghiên cứu sử dụng các nguyên tố vi lượng dùng để
phun lên lá:
Các nguyên tố vi lượng có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể sinh vật,
đặc biệt là thực vật vì chúng không những chỉ là chất xúc tác các loại enzym
mà còn tham gia cấu trúc vào rất nhiều các nhóm enzym khác nhau. Cây trồng
vẫn hút các nguyên tố vi lượng từ rễ. Tuy nhiên do hàm lượng các nguyên tố
quá nhỏ, hơn nữa vào những giai đoạn cây trồng có những biến động mạnh
như phân cành, ra hoa, tạo quả thì nhu cầu các nguyên tố vi lượng tăng vì vậy
các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam cũng đã sử dụng các nguyên tố
1
3
vi lượng đơn lẻ hay phối họp với nhau để phun lên lá để giúp cây sinh trưởng
tốt, tăng khả năng quang hợp, tăng khả năng chống chịu (hạn, úng) của các
cây trồng như đậu xanh, đậu tương, lạc V.V. [2] [ 12] [ 16] [ 17][ 19][20].
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Minh (2011) về hiệu lực của
molypden tẩm vào hạt và phun trên lá cây đậu xanh cho thấy: khi sử dụng ở
các nồng độ 1, 5, 10, 20mg/l Mo tẩm vào hạt làm tăng đáng kể tỷ lệ nảy mầm
của đậu xanh, còn khi sử dụng dung dịch bổ sung molypden phun qua lá ở các
giai đoạn 7 lá, 9 lá, ra hoa và tậo quả đêu làm tăng chiêu cao cây, tăng diện
tích lá, giảm cường độ thoát hơi nước, tăng khả năng giữ nước, tăng hàm
lượng diệp lục, năng suất quang hợp thuần túy ở cây đậu xanh [20].
Trên thế giới cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu ảnh hưởng
của phun các nguyên tố vi lượng đon lẻ hay phối họp đã làm cho cây trồng
và chất điều hòa sinh trưởng làm tăng số lá cũng như diện tích lá của
cây bí ngô khi dùng dung dịch platnofix (ìooppm), ethrel (200ppm) và
ãlar (200ppm) ở giai đoạn 10 ngày và 20 ngày sau trồng. Trong khi
đó tác giả Singh và cộng sự (1991) [58] sử dụng hợp chất mixtalol
(30ml/101it) phun qua lá là tăng số lá trên cây bottlegourd. Khi sử dụng
GA
3
để tẩm ướt hạt trong 12 giờ sẽ làm tăng số lá trên cây ở
muskmelon (Trích theo Nguyễn Văn Đính [10]).
* Một số kết quả nghiên cứu các chế phẩm dùng trong nông nghiệp:
Các chế phẩm như phân bón Đầu trâu, Atonik 1,8DD; Pomior v.v [21]
[52][54][55] được bán trên thị trường rất rộng rãi cho người nông dân sử dụng
để phun lên lá cho nhiều loại cây trồng khác nhau nhưng các kết quả nghiên
cứu cụ thế còn rất ít tài liệu bàn đến một cách rõ ràng.
Theo tác giả Hoàng Ngọc Thuân (2005) dùng chế phẩm Pomior
phun lên lá lúa đã làm tăng năng suất lúa từ 9,7% đến
26%, phun cho củ cải năng suất tăng từ 27% đến 62% trên
đất bạc màu; chế phẩm Pomior còn có tác dụng cải thiện
đậu quả giống xoài GL1 và GL6 (Trích theo Nguyễn Văn Đính
[10]).
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu
2.1. Đối tượng nghiên cún
- Mầu thực vật: Giống ớt cay FI NP 907 được sản xuất tại công ty
THHH giống cây trồng Miền Trung. Giống sinh trưởng và phát triển
1
5
mạnh, kháng bênh tốt, đâm nhiều nhánh, cho trái sai và trồng được
quanh năm, tán rộng, trái màu xanh chuyển đỏ bóng khi chín, trái suôn,
thịt dày, ft hạt, trái dài 10-12 cm, đường kính trái 0,4-0,6 cm, cay và
thơm, đặc biệt đế lâu không bị mất màu và mềm. Cho trái sau trồng:
Thí nghiệm ngoài đồng ruộng theo nguyên tắc khối ngẫu nhiên hoàn
chỉnh đảm bảo sự đồng đều giữa các công thức mỗi công thức nhắc lại 3 lần,
diện tích mỗi ô 40m
2
. Các công thức thí nghiệm:
- Đối chứng: Không phun chế phấm Atonic 1,8 DD (Phun nước máy
101it/360m
2
.
- Công thức thí nghiệm 1: Phun chế phẩm Atonic 1,8DD lầnl khi cây có
5 lá thực (lầnl) với liều lượng 1 gói chế phẩm pha 10 lít nước máy phun
đều lên mặt lá.
- Công thức thí nghiệm 2: Phun chế phấm Atonic 1,8DD lần 2 sau lần
110 ngày (lâĩì2) với liêu lượng 1 gói chê phâm phâ lOlit nước máy
phun đêu lên mặt lá.
2.2.2. Kỹ thuật frồng và chăm sóc
Kỹ thuật trồng và chăm sóc theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn [ 1 ] [51 ]
2.2.3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu
2.2.3.1. Anh hưởng của chế phấm Atonỉc 1,8 DD đến các chỉ tiêu sinh
trưởng Các chỉ tiêu sinh trưởng quang hợp được xác định vào các thời
điếm: sau khi phun chế phẩm KTRL được 5, 10,15, 20 ngày.
* Chiều cao cây: Chiều cao cây xác định bằng phương pháp đo trực tiếp
từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng của mỗi giống. Mỗi thức đo 30 cây ngẫu
nhiên.
* Đường kính thân cây: Đường kính thân được đo bằng thước kỹ thuật ở
1
7
tại điểm cổ rễ đầu tiên. Mỗi công thức đo 30 cây ngẫu nhiên.
* Số cành và nhánh/cây: số cành và nhánh/cây được xác định bằng cách
8
mạch vận chuyến điện tử quang hợp Quinon A (Q
A
) ở trạng thái oxi hóa.
- Máy đo xác định các chi tiêu:
+ Fo: Huỳnh quang ổn định F
0
phản ánh sự mất đi năng lượng kích
thích bằng bức xạ trong khoảng thời gian vận chuyến chúng về tâm phản ứng
PSII ở trạng thái “mở”.
F(): Giá trị huỳnh quang của diệp lục khi bắt đầu chiếu sáng.
+ F
m
: Cường độ huỳnh quang cực đại, F
m
đo được khi các tâm phản ứng
PSII ở trạng thái “đóng”, khi đó QA bị khử.
F
m
: Giá trị huỳnh quang tối đa cùng một cường độ ánh sáng.
+ F
vm
: Hiệu suất huỳnh quang biến đổi.
F
vm
phản ánh hiệu quả sử dụng năng lượng ánh sáng trong phản ứng
quang hóa được xác định như sau:
p _ Fy
=
F
kg/360m
2
.
2.2.3.4. Anh hưởng của chếphấm Atonik 1,8 DD đến chất lượng ớt.
* Hàm lượng vitamin A: Bằng Phương pháp xác định hàm lượng Ị3
Caroten theo phương pháp đo ảnh phổ Anthrone ở bước sóng 436 nm
(Theo mô tả của Nguyễn Văn Mã và cs [15] và của Phạm Thị Trân
Châu [5]).
Phương pháp của hiệp hội các nhà hóa phân tích chính thống ( AOAC,
1980). Cho vào bình nón có chứa 50ml êtanon 95% lOg mẫu ướt để ở nhiệt độ
70-80°C đặt trong một chậu nước trong vòng 20 phút, lắc đều theo chu kì.
Phần nổi lên trên được gạn lấy, làm mát, lượng đó tiếp tục được đo đạt bằng
một loại xilanh chuyên dụng, sau đó các số liệu đầu tiên được ghi lại.
Nồng độ êtanon thu được từ hỗn họp được chuyển về nồng độ 85%
bằng cách thêm vào 15ml nước cất sau đó làm mát trong một chậu đá trong 5
phút. Hỗn họp được chuyển qua một phễu riêng biệt, 25ml ete dầu hỏa
(petroleum ether) được thêm vào hỗn hợp, tiếp theo êtanon đã được làm mát
được đổ vào. Khuấy nhẹ phễu này để thu được hỗn hợp đồng nguyên, để yên
hỗn hợp cho đến khi thu được hai lớp tách biệt. Lớp dưới đáy được dẫn vào
một cốc thủy tinh, lóp trên được thu vào một bình thót cổ hình nón thể tích
250ffil. Lớp dưới đáy được chuyên vào một phêu đê tiêp tục tách, sử dụng
lOml ete dầu hỏa, tách từ 5 đến 6 lần cho đến khi phần muốn tách có màu
vàng nhạt. Tổng lượng ete dầu hỏa được thu vào một hình thót cổ hình nón thể
tích 250ml sau đó chuyển qua một phễu riêng để tách lại sử dụng 50ml ê- ta-
non 80% . Phần triết tách cuối cùng được đo và đổ vào bình thí nghiệm để
dùng cho các phân tích tiếp theo.
Lượng hấp thụ của tách triết được đo bằng máy đo ảnh phố (loại
22UV/VIS) ở bước sóng 436mn
2
0
- Cân 0,5g mẫu rồi nghiền trong lOml nước cất, li tâm lạnh 6000
vòng/phút trong thời gian 15 phút, lọc lấy dịch lọc.
- Cho vào ống nghiệm 2ml dịch lọc và 2ml dung dịch K
3
Fe(CN)
6
, lắc
đều, đun sôi cách thủy trong 15 phút, sau đó đế nguội.
- Thêm 4ml dung dịch hỗn hợp (Fe
2
(S0
4
)
3
0,1%: Gelatin 10% theo tỉ lệ
20:1) vào ống nghiệm. Lắc đều và dẫn bằng nước cất đến mức 30ml.
2
1
- Đo quang phố ở bước sóng Ằ=585nm trên máy uv - 2450 (Shimadzu,
Nhật Bản).
2.2.3.5. Đánh giá hiệu quả việc sử dụng chế phâm Atonỉk 1,8 DD
Đe đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm Atonik 1,8 DD bằng cách tính
chi phí đầu vào, đầu ra ở các công thức ĐC và thí nghiệm.
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm.
* Xử lý so liệu thí nghiệm
Số liệu thí nghiệm được xử lỷ nhờ phần mềm thống kê Excel 2007 với
các thông số (Chu Huy Mần và cs, 2001) và chương trình thống kê sinh học
IRRISTART 4.0 của IRRI. [18].
- 'Lx: , , h{X:-X)
2
giống ớt cay F1 NP 907, chúng tôi tiến hành xác định các chỉ tiêu về
chiều cao cây, đường kính thân cây, sự phân nhánh và diện tích lá vào
các thời điểm 5; 10; 15 và 20 ngày sau các lần phun ở ô đối chứng và thí
nghiệm.
3.1.1. Anh hưởng của chế phẩm Atonỉk l,8DD đến chiều cao cây
Chiều cao cây là một trong những đặc trưng hình thái cơ bản đế
phân biệt giống. Nó là đặc tính di truyền, chịu tác động của ngoại cảnh
đồng thời phản ánh sát thực tình hình sinh trưởng, khả năng phân chia
cành liên quan đến sự ra lá của cây, sự tăng trưởng chiều cao của cây
biểu hiện quá trình sinh trưởng của cây. Ket quả theo dõi ảnh hưởng của
chế phẩm kích thích ra lá đến chiều cao giống ớt Fỉ NP 907 được trình
bày trong bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1. Anh hưởng của phun chê phắm Atonik J,8DD đến chiều cao
2
3
Hình 3.1. Anh hưởng của chếphấm Atonỉk 1,8DD đến chiều cao
giống ớt Fl NP 907
Phân tích kết quả bảng 3.1 ta có: Khi phun KTRL lần 1 và lần 2 đều
làm tăng chiều cao cây, giá trị chiều cao so với đối chứng đạt từ 103,9% đến
113,5%. Tuy nhiên, ảnh hưởng của phun KTRL đến chiều cao cây ới ở các lần
phun khác nhau cũng có sự khác biệt cụ thể:
- ở lần phun 1 : Chiều cao cây so với đối chứng đạt 106,7% đến 107,9%
2
4
giống ớt Fì NP 907
Côn
g
thức
Chiều cao (cm)
Lân 1 Lân 2
78,0
3
42,05
60,9
9
73,73 77,37
%
so
ĐC
107,9* 112
,1*
113,5* 106,
7*
106,3
*
107,
2*
107,4* 103,9*
Ghi chú : Dấu * chỉ sự sai khác giừa thí nghiệm và ĐC có ỷ nghĩa thông kê với độ tin cậy trên 95%
- Ở lần phun 2: Giá trị này đạt 103,9% đến 107,4%
- So sánh ảnh hưởng của phun KTRL lần 1 và lần 2 đến chiều cao cây
chúng tôi thấy chế phẩm KTRL phun lần 1 ảnh hưởng tốt hon đến
chiều cao cây so với phun lần 2. Theo chúng tôi có thế do phun lần 1
vào giai đoạn cây bắt đầu ra lá, giai đoạn này cây ớt vẫn còn phát triển
chiều cao tốt vì vậy ảnh hưởng của KTRL là tốt hơn lần 2.
Ket quả sau hai lần phun cho thấy chế phẩm ra lá có ảnh hưởng rõ rệt
đến khả năng tăng trưởng chiều cao của giống ớt Fl NP 907.
3.1.2. Ánh hưởng của chế phẩm Atonik 1,8DD đến đường kính thân cây
Đường kính thân cây dưới ảnh hưởng chế phẩm KTRL được
thể hiện ở bảng 3.2 và hình 3.2 Bảng 3.2. Anh hưởỉĩg của chế phâm
6
1,16 0,65 0,8
2
0,9
8
1,1
4
KTRL 0,74 0,93
1,0
1
1,17 0,65
0,8
4
1,0
0
1,1
3
% so ĐC 102,7
*
101,1* 105,
6*
100
,8*
100
102,
4*
102
,0*
99,
2