BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO CHO KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 28

Bé Lao ®éng - Th¬ng binh vµ X· héi Ch¬ng tr×nh Ph¸t triÓn Liªn HiÖp Quèc
Dự án VIE/02/001
Hỗ trợ cải thiện và thực hiện các CTMTQG về giảm nghèo

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP HỖ TRỢ GIẢM NGHÈO
CHO KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Báo cáo tóm tắt
Nhóm tư vấn: - ThS. Nguyễn Xuân Lai
- TS. Phạm Bảo Dương
- ThS. Huỳnh Viết Khải
Hà Nội, tháng 11 năm 2008
2
1. Lý do nghiên cứu
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng luôn được Đảng và Nhà nước quan
tâm, hỗ trợ phát triển. Kinh tế-xã hội của vùng ngày càng phát triển, đời sống người dân
dần được cản thiện, công tác xoá đói giảm nghèo đã thu được một số kết quả ban đầu tốt.
Tuy nhiên, ở một số địa phương tỷ lệ đói nghèo vẫn giảm chậm sau rất nhiều nỗ lực của
các chương trình hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức quốc tế thời gian qua.
Giả thiết nghiên cứu:Tình trạng nêu trên có thể là do:
1. Các giải pháp, các chính sách giảm nghèo đã được ban hành khá đầy đủ nhưng có thể do
cơ chế thực hiện chưa đồng bộ, chưa đúng đối tượng, chưa đủ mạnh, chưa phù hợp cho
điều kiện đặc thù (luôn có sự giao thoa giữa nước mặn và nước ngọt trên diện rộng, sống
chung với lũ, …) của các địa phương có tỷ lệ đói nghèo cao so với khu vực ở ĐBSCL.
2. Do có điều kiện tự nhiên đặc thù nên các giải pháp, chính sách giảm nghèo chung cho cả
vùng chưa đủ, chưa phù hợp với các địa phương có tỷ lệ đói nghèo cao so với khu vực ở
ĐBSCL.
3. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội – cơ sở hạ tầng – năng lực cán bộ của các địa
phương có tỷ lệ đói nghèo cao so với khu vực ở ĐBSCL còn nhiều khó khăn, hạn chế nên
đã ảnh hưởng tới khả năng thực thi các giải pháp, chính sách giảm nghèo.
Câu hỏi nghiên cứu:

ĐBSCL.
2) Khảo sát thực địa:
- Chọn mẫu điều tra khảo sát: chọn mẫu có chủ đích:
+ Chọn tỉnh: Để phát hiện các nguyên nhân nghèo đói đặc thù, nghiên cứu sẽ chọn
4 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao đại diện cho 4 tiểu vùng của Đồng bằng sông Cửu Long (vùng
Đồng Tháp Mười, vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng giữa sông Tiền và sông Hậu, vùng Tây
sông Hậu-Bán đảo Cà Mau, chú ý tỉnh tập trung đông đồng bào dân tộc Khmer). Việc lựa
chọn tỉnh khảo sát chuyên sâu sẽ được tiến hành trên cơ sở tham vấn với Dự án và các cơ
quan liên quan của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội.
+ Chọn huyện: Trong mỗi tỉnh chọn 01 huyện có tỷ lệ đói nghèo cao, đại diện cho
tính đặc thù của tỉnh.
+ Chọn xã: trong huyện chọn 1 xã có tỷ lệ đói nghèo cao, đại diện cho tính đặc thù
của huyện.
+ Chọn hộ: Chọn hộ phỏng vấn sâu là những hộ thuộc diện nghèo, có chú ý tới các
hộ rất nghèo, của xã. Tuy nhiên, để thảo luận nhóm có hiệu quả trong việc đề xuất giải
pháp giảm nghèo sẽ lựa chọn thêm cả các hộ có kinh nghiệm vượt nghèo, các hộ làm ăn
giỏi.
+ Chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý để toạ đàm và phỏng vấn sâu: Mỗi Sở lựa chọn
các cán bộ lãnh đạo, quản lý phụ trách và am hiểu về các lĩnh vực: đầu tư, phát triển sản
xuất kinh doanh, việc làm và phát triển nguồn nhân lực để tiến hành toạ đàm và phỏng vấn
sâu có chủ đích.
Các số liệu điều tra thu thập được không mang ý nghĩa thống kê mà chỉ mang ý
nghĩa minh chứng cho những đánh giá về nghèo đói.
- Khảo sát tại 4 tỉnh đại diện cho các tiểu vùng của Đồng bằng sông Cửu Long (mỗi
tỉnh 5-6 ngày) để khảo sát chuyên sâu và phát hiện nguyên nhân, thế mạnh, đề xuất các
chính sách, giải pháp cần thiết cho công tác giảm nghèo tại địa phương có tỷ lệ đói nghèo
cao so với khu vực ở ĐBSCL. Nội dung khảo sát tại mỗi tỉnh bao gồm:
+ Toạ đàm, trao đổi chuyên sâu với cán bộ lãnh đạo, quản lý của các đơn vị: Sở
KH&ĐT, Sở NN&PTNT, Sở LĐTB&XH - tại tỉnh.
+ Khảo sát nhanh tại 01 huyện do Tỉnh giới thiệu: Toạ đàm với các Phòng, Ban, tổ

trường trong mùa mưa lũ; Không được đọc/hiếm khi được đọc được sách báo, tạp chí với
lý do rất phổ biến là không biết chữ và không có báo.
Tổng hợp kết quả lựa chọn của cả tổng thể mẫu và từng xã, các vấn đề làm người
dân nghèo khổ sở nhất theo thứ tự gồm: (1) Thu nhập bình quân đầu người thấp dưới
200.000 đồng; (2) Đứt bữa; (3) Nhà ở là nhà tạm bằng tranh tre nứa lá; (4) Nước sinh hoạt
chính từ sông, ao; (5) Thiếu phương tiện đi lại; (6) Không có tiền khám chữa bệnh tại
bệnh viện; (7) Chưa được sử dụng điện lưới quốc gia
4.2 Nguyên nhân nghèo đói: cái nhìn từ thực tế hộ nghèo
Dễ dàng nhận thấy rằng có một vòng luẩn quẩn không thoát ra được của các hộ
nghèo và các nguyên nhân gây nên nghèo đói mang tính tổng hợp, có sự tác động qua lại
rất phức tạp. Vì vậy, vấn đề cơ bản không phải là đi tìm xem nguyên nhân nào là nguyên
nhân gốc mà cần phải xác định đúng các nguyên nhân gây nên các biểu hiện của nghèo đói
cần giải quyết thì mới có giải pháp đúng đắn để giảm nghèo nhanh và bền vững ở những
xã có tỷ lệ nghèo đói cao này.
Bên cạnh các nguyên nhân nghèo có thể tìm thấy phổ biến ở các địa phương như:
điều kiện tự nhiên; dịch bệnh; không có hoặc có ít đất sản xuất; thiếu việc làm; thị trường
bấp bênh; cơ sở hạ tầng yếu kém; thiếu vốn sản xuất; phong tục tập quán lạc hậu; trình độ
5
học vấn thấp, kỹ thuật thấp; và các nguyên nhân khác, những nguyên nhân cụ thể mang
tính đặc thù gây nên nghèo đói ở những xã có tỷ lệ nghèo cao ở ĐBSCL là:
- 6 tháng ngập lũ, 6 tháng khô hạn, đất nhiễm phèn nặng
- Hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh
- Chưa có hệ thống kho, bãi, chợ được xây dựng để bảo quản và mua bán sản phẩm
- Đông đồng bào dân tộc Khmer với một số phong tục tập quán không có tác động
tích cực cho XĐGN: nhiều lễ hội, không thích xa nhà, cúng tiến quá nhiều vào chùa
chiền ...
- Phong cách sống hào phóng, không tích lũy, dựa vào thiên nhiên.
4.3 Đánh giá các giải pháp
Các thành công của hệ thống giải pháp
Đến năm 2006, theo chuẩn nghèo mới của Bộ LĐTBXH, tỷ lệ nghèo toàn quốc còn

cao hơn tốc độ giảm nghèo bình quân của vùng nhưng tỷ lệ nghèo vẫn cao.
2) Điều kiện tự nhiên khó khăn hơn:
- Là các xã xa trung tâm huyện, xa trục giao thông chính
- Điều kiện canh tác khó khăn: đất kém màu mỡ: bị phèn nặng, vùng ngập lũ sâu, bị
khô hạn.
- Vùng ngập lũ sâu: thiệt hại tư liệu sản xuất, sản phẩm nông nghiệp; mất và hỏng
nhà cửa, vật dụng; gây ốm đau, bệnh tật, không có việc làm ... bên cạnh sự không có tích
lũy dẫn đến phải vay mượn với lãi suất cao, bán non sản phẩm làm cho ngừơi nghèo càng
nghèo hơn.
3) Cơ sở hạ tầng thiếu, yếu kém hơn:
- Hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh, chưa chủ động điều tiết nước
- Đường giao thông khó khăn: còn nhiều đường đất lầy lội, còn nhiều cầu khỉ
- Điện, nước sạch chưa đến nơi
- Không có hệ thống kho, bãi, chợ được xây dựng để bảo quản và mua bán sản
phẩm
- Xa trạm y tế và trường học từ cấp trung học cơ sở, có nơi xa cả trường tiểu học cơ
sở.
4) Trình độ học vấn, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh thấp hơn
5) Những xã có tỷ lệ nghèo rất cao thường là những xã có tỷ lệ người Khmer cao
với một số phong tục tập quán không có ảnh hưởng tích cực tới giảm nghèo: nhiều ngày lễ
hội, không thích xa nhà.
6) Một nguyên nhân thuộc về thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo và cả
những chính sách phát triển kinh tế-xã hội: do nguồn lực có hạn, nên một số hỗ trợ, đặc
biệt về cơ sở hạ tầng, mới chỉ tập trung giải quyết ở những điểm người nghèo/người dân
sống tập trung, những điểm vùng sâu, xa chưa thể giải quyết cùng một lúc.
7) Không có hoặc rất ít cơ sở sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp trên địa
bàn.
Các nguyên nhân cơ bản trên gây ra cho hộ gia đình nghèo và cả các hộ cận nghèo
ở những vùng này luôn bị thiếu việc làm; chịu nhiều rủi ro và thiệt thòi trong sản xuất, đời
sống, tiêu thụ sản phẩm và mua hàng tiêu dùng; ít có cơ hội tiếp cận với các phúc lợi xã

- Chính sách về đào tạo nghề và tạo việc làm
Tăng mức hỗ trợ cho đào tạo nghề và tạo việc làm cho người nghèo đảm bảo đầu
tư hỗ trợ “trọn gói” cho người nghèo có thể tiếp cận được với việc làm.
Tăng mức hỗ trợ cho người nghèo tham gia đào tạo nghề, đối với những người
nghèo là lao động chính trong gia đình nên có thêm hỗ trợ mức lương thực tối thiểu cho
bản thân họ và những người sống phụ thuộc vào họ trong thời gian đào tạo.
Trước mắt, cần tiến hành điều tra nghiên cứu nhu cầu và điều kiện giải quyết
việc làm của người nghèo tại những xã có tỷ lệ nghèo cao, tập trung nguồn lực của
Trung ương và địa phương giải quyết dứt điểm vấn đề tạo việc làm cho người nghèo
trên cơ sở cam kết của đối tượng nghèo với chính quyền.
- Chính sách về giáo dục văn hóa:
Tăng mức hỗ trợ về chính sách giáo dục cho người nghèo để đảm bảo cho thế hệ
con cháu đủ điều kiện được đi học hết phổ thông. Trước mắt, tăng mức hỗ trợ cho trẻ
em nghèo trong độ tuổi đi học đảm bảo được đi học phổ cập trung học cơ sở: bên
cạnh miễn giảm học phí, nên có sự hỗ trợ về sách vở và đồ dùng học tập (thông qua
phát động các phong trào vì người nghèo) và miễn giảm các khoản đóng góp với nhà
trường.
Đầu tư mở rộng quy mô và mức hỗ trợ cho các trường dân tộc nội trú thu hút được
nhiều con em dân tộc thiểu số để tạo ra một thế hệ mới có đủ năng lực tiếp cận việc làm,
có tư duy mới về phát triển đời sống kinh tế-xã hội.
8
Hỗ trợ kinh phí đầu tư trang thiết bị và hoạt động tuyên truyền văn hóa xã hội cho
các thôn, ấp nghèo xa trung tâm thông qua tuyên truyền bằng hệ thống loa không dây,
truyền hình kỹ thuật số.
Hỗ trợ kinh phí cho truyền thanh huyện, xã nhiều đồng bào dân tộc Khmer có hoạt
động tuyên truyền bằng tiếng Khmer.
Tăng mức kinh phí đầu tư trang thiết bị và hoạt động cho hệ thống các nhà văn hóa
để hệ thống nhà văn hóa thực sự trở thành nơi giao lưu trao đổi kiến thức, kinh nghiệm sản
xuất kinh doanh, sinh hoạt, … giao lưu văn hóa các dân tộc của mọi người dân.
- Chính sách về y tế:

9
Tăng cường kinh phí cho đào tạo và hỗ trợ cán bộ làm công tác giảm nghèo, tạo sự
ổn định và tâm huyết với công việc.
Đồng thời với hình thành bộ máy chuyên trách, các cán bộ làm công tác XĐGN
nên là cán bộ chuyên trách từ cấp Trung ương đến cấp xã; cán bộ cấp thôn có thể là hợp
đồng nhưng có chế độ đãi ngộ thích đáng.
- Tăng mức kinh phí thực hiện giám sát không chỉ cho Chương trình MTQGGN mà
cho tất các các chương trình khác, đảm bảo đủ để công tác giám sát được thường xuyên, có
hiệu quả thiết thực cho thực hiện tốt các chương trình.
4.4.1.2 Tạo sự đồng bộ trong thực hiện các chính sách hỗ trợ XĐGN
- Phối kết hợp các nguồn vốn để đầu tư “trọn gói”, “có địa chỉ” cho hỗ trợ sản xuất
kinh doanh và tạo việc làm: từ hỗ trợ vốn vay, hướng dẫn mô hình, hỗ trợ kỹ thuật, đến
giải quyết đầu ra cho sản phẩm đối với sản xuất; từ xác định nhu cầu đào tạo từ người dân,
hỗ trợ phí đào tạo, hỗ trợ tìm nơi làm việc hoặc hỗ trợ vốn để tạo việc làm – có như vậy
mới tránh được sự lãng phí nguồn hỗ trợ và tạo cơ hội có việc làm, sản xuất kinh doanh
hiệu quả cho hộ nghèo để họ thoát nghèo nhanh.
- Xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ phải đồng bộ: có nhà ở và tạo việc làm, hệ
thống cung cấp nước hợp vệ sinh, cải tạo đường giao thông, chợ ....
- Nghiên cứu tổng hợp các chính sách thành một số chính sách cơ bản mang tính
chất đầu tư đồng bộ, giải quyết dứt điểm từng vấn đề thiết yếu của người nghèo, tránh sự
chồng chéo giữa các chính sách về cùng một nội dung hỗ trợ.
- Cần mở rộng một số chính sách như chương trình 135 cho các xã nghèo không
thuộc diện Chương trình 135, đặc biệt là các xã anh hùng, nhưng vẫn có tỷ lệ nghèo cao
trên 20% và thiếu thốn nhiều về cơ sở hạ tầng.
4.4.1.3 Đổi mới cơ cấu phân bổ vốn đầu tư trong các chính sách hỗ trợ XĐGN,
chú ý tạo sự hỗ trợ đầu tư tập trung, dứt điểm cho từng xã
- Tránh đầu tư dàn trải, không phân bổ vốn hỗ trợ bình quân như nhau cho các địa
phương: Chính phủ cần cân đối nguồn lực vừa hỗ trợ đầu tư cho các vấn đề bức xúc tại các
điểm nóng của nghèo đói, bên cạnh đó cần có kế hoạch ưu tiên tập trung đầu tư đồng bộ,
dứt điểm từng xã, từng vùng trên cơ sở kế hoạch nhu cầu do các địa phương tự xây dựng.

XĐGN từ Trung ương đến địa phương: đầu mối cho XĐGN nên là Bộ LĐTBXH với hệ
thống tổ chức ngành dọc từ Trung ương đến địa phương sẽ thống nhất quản lý điều phối
thực hiện các chính sách, chương trình, dự án XĐGN không những của Chính phủ Việt
Nam mà còn của cả các tổ chức nước ngoài.
- Hình thành cơ chế phối hợp đồng bộ, gắn trách nhiệm với nhau của các cơ quan
liên quan đến phê duyệt và triển khai thực hiện các dự án XĐGN tạo nên tính liên thông
phối hợp thống nhất.
- Thực hiện cơ chế phân bổ vốn đầu tư hỗ trợ XĐGN theo nhu cầu trên cơ sở kế
hoạch nhu cầu do các địa phương tự xây dựng đồng bộ với sự tham gia của người dân
nghèo, đại diện của chính quyền xã, huyện, tỉnh và các sở, ban, ngành chức năng tại các xã
nghèo.
- Cải tiến cơ chế, quy trình thủ tục giao chỉ tiêu, đấu thầu, thanh quyết toán đơn
giản hơn cho nguồn vốn XĐGN, đặc biệt là cho nguồn vốn đầu tư XDCB, đảm bảo cho địa
phương có thể thực hiện được và không bị chậm về thời gian. Cấp vốn đủ và đúng tiến độ
đảm bảo hiệu quả của công trình
- Chính sách BHYT miễn phí:
Nên chăng hình thành cơ chế thực thanh thực chi tiền khám chữa bệnh cho người
nghèo không qua bảo hiểm để không lãng phí tiền mua BHYT bình quân cho người nghèo
ở các vùng, đáp ứng đúng nhu cầu khám chữa bệnh cho người nghèo ở những vùng có điều
kiện khác nhau về khả năng mắc bệnh, giao thông đi lại ...
Tạo điều kiện cho người nghèo đăng ký thẻ BHYT miễn phí tại cấp xã cho khám
chữa bệnh ban đầu. Nên có cơ chế làm việc đảm bảo thời gian khám chữa bệnh vào tất cả
các ngày trong tuần, cho đủ thuốc uống đến khi khỏi bệnh.
11
Tiếp tục triển khai thực hiện nhanh Chỉ thị 04/2008/CT-TTg ngày 25 tháng 01 năm
2008 của Chính phủ về kéo dài thời gian sử dụng thẻ BHYT miễn phí ít nhất là 2 năm;
tiếp tục kéo dài thời gian hưởng chính sách cấp BHYT miễn phí cho các hộ vừa thoát
nghèo thêm ít nhất là 2 năm nữa trong toàn quốc cho hộ nghèo và hộ vừa thoát nghèo.
- Chính sách đào tạo nghề: tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ chế gắn kết đào tạo
nghề với tìm việc làm, đặc biệt đối với người nghèo là dân tộc thiểu số thông qua cơ chế

thành nhiệm vụ mục tiêu đề ra, có giám sát đánh giá, quy định và chỉ rõ trách nhiệm của
mỗi bên.
- Tạo sự chủ động từ phía người nghèo: để họ tìm nguyên nhân và giải pháp - xác
định họ có cái gì - cần hỗ trợ đến đâu - họ làm như thế nào. Nhà nước chỉ nên giữ vai trò
đòn bẩy.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status