Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kinh tế Nhật Bản giai đoạn "thần kỳ" (1952 - 1973)
Từ cuối năm 1951 trở đi, cùng với hoàn thành khôi phục kinh tế và ký với
các nớc phơng Tây hiệp ớc hoà bình ở San Fran-Sisco vào tháng 9/1951, có hiệu
lực từ tháng 4/1952, đã chấm dứt chiếm đóng của Mỹ ở Nhật Bản, tiếp sau đó giữa
Nhật và Mỹ ký với nhau hiệp ớc "an ninh Nhật Mỹ" vào tháng 5/1952, hiệp ớc về
thơng mại và đầu t vào 1953. Tuy giữa Mỹ và Nhật đều có sự tính toán nhất định,
nhng với sự bảo trợ của Mỹ, nhờ đó nền kinh tế Nhật đã có sự phát triển nhanh
chóng, đợc ca ngợi "thần kỳ về kinh tế" giai đoạn (1952 - 1973). Trong giai đoạn
này nếu tốc độ tăng trởng kinh tế của cả thế giới t bản chủ nghĩa tăng hơn 5%,
của Nhật Bản trung bình gần 10%.Tốc độ tăng trởng đợc thể hiện trong bảng sau:
Tốc độ tăng sản phẩm quốc dân của Nhật Bản
Đơn vị: %
1953 - 1955 56 - 60 61 - 65 66 - 70 1971 1973 1973
7.7 9.75 9.65 12.5 4.5 9.3 11
Nguồn: tái sản xuất xã hội ở Nhật Bản - PAVZNERJa. A Chủ biên trích
theo: KT Nhật Bản giai đoạn "thần kỳ" - Lê Văn Sang - Viện KTTG.
Cùng với sự tăng trởng nhanh về kinh tế, ngời Nhật đợc đánh giá thành
công trên nhiều lĩnh vực. Vào đầu những năm 50 tổng sản phẩm quốc dân GNP
của Nhật chỉ bằng hơn 1/3 của Pháp hay Anh nhng đến cuối những năm 70 đã
bằng nửa của Anh, Pháp cộng lại và hơn một nửa so với Mỹ. Vào năm 1978 ở
Nhật chiếm 14 lò so với 22 lò cao luyện thép hiện đại, lớn nhất thế giới.
Với kỹ thuật hiện đại, phơng pháp tổ chức có hiệu quả, sản phẩm thép của
Nhật đã cạnh tranh đợc với thép của Mỹ ở thị trờng Mỹ và nớc ngoài.
Các sản phẩm Radio, máy ghi âm, máy ảnh, dụng cụ quang học... nếu vào
đầu những năm 50 không cạnh tranh đợc với Mỹ và Châu Âu thì vào giữa những
năm 70, ngời Nhật đã giữ đợc vị trí thống trị trên thị trờng, ngành chế tạo ô tô, xe
máy ngời Nhật cũng trở thành đối thủ cạnh tranh của Mỹ, Anh, Đức trên thị trờng
thế giới.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1 - Nhật Bản biết huy động vốn sử dụng vốn táo bạo có hiệu quả.
Trong những năm 50 - 60 tập trung cho tăng trởng kinh tế là mục tiêu cơ
bản cho các chính sách của Nhà nớc Nhật Bản. Một trong những chính sách đó là
chính sách huy động vốn và sử dụng vốn.
a) Những giải pháp huy động vốn của Nhật Bản.
* Huy động vốn trong nớc:
- Tỷ lệ tích luỹ của Nhật trong tổng sản phẩm quốc dân rất cao thờng xuyên
từ 30 - 35%, trong khi đó các nớc t bản phát triển khác chỉ trên dới 20% (xem biểu
3). Sở dĩ ngời Nhật duy trì đợc tỷ lệ tích luỹ cao là do:
+ Chi phí cho quân sự của Nhật Bản rất thấp so với Mỹ và Tây Âu.
+ Hạn chế nhu cầu chi tiêu cho phúc lợi xã hội, tinh giảm tối đa bộ máy
hành chính.
+ Tiền lơng của công nhân Nhật Bản thấp hơn so với Mỹ và Tây Âu.
Tiền lơng và tiền thởng của Nhật Bản đợc vận dụng rất linh hoạt và đa dạng.
Nhìn chung tiền lơng của họ thấp hơn so với Mỹ và Châu Âu, trong ngành
chế tạo tiền lơng bình quân của công nhân Nhật chỉ bằng 1/7 tiền lơng của công
nhân Mỹ. Nhờ đó Nhật tiết kiệm đợc chi phí sản xuất, giảm giá thành nâng cao lợi
thế cạnh tranh trên trờng quốc tế so với Mỹ và Tây Âu.
- Còn tiền thởng của Nhật Bản cũng mang đặc trng riêng, tiền thởng đợc trả
hai lần trong năm, số thởng bằng 1/3 tiền lơng nếu Công ty làm ăn phát đạt có thể
bằng toàn bộ lơng cơ bản cả năm của họ. Tiền thởng đợc coi nh là đòn bẩy kích
thích ngời lao động, tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động của Công ty, có tác dụng
thúc đẩy cả ngời làm quản lý và ngời lao động trực tiếp đều phải cố gắng. Khi
Công ty có khó khăn, đồng thời với giảm ngời làm, hạn chế tiền thởng, sau đó mới
giảm tiền lơng.
Khuyết khích tiết kiệm: ở Nhật tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập rất cao so với
ở Mỹ và Tây Âu.
Cùng với tăng trởng kinh tế cao, tiền lơng của ngời lao động tăng lên, chênh
kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ, Chính phủ Nhật quy định khắt khe với đầu t n-
ớc ngoài vào Nhật nh:
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Vốn là lợi nhuận không đợc phép đa ra ngoài nớc Nhật nếu nh không đợc
Chính phủ Nhật chấp thuận.
+ Đầu t nớc ngoài phải phù hợp với lợi ích của Nhật - nghĩa là phải đa vào
Nhật loại công nghệ độc đáo mà Nhật không thể có đợc.
+ Phải đầu t vào ngành mới, vốn cổ phần của các nhà đầu t nớc ngoài không
đợc quá 50%.
Giai đoạn thứ hai từ năm 1964 - 1973. Lúc này cho phép đồng Yên đổi
thành Đô la và những điều khoản khác không thay đổi. Chỉ đến tháng 5/1973 thực
hiện chính sách tự do hoá, Chính phủ Nhật cho phép Công ty nớc ngoài đầu t
100% vốn vào Công ty mới thành lập hoặc đang kinh doanh. Tuy vậy đầu t nớc
ngoài vào Nhật không thiết lập đợc cơ sở của họ ở những ngành công nghiệp
truyền thống, mà chủ yếu trong một số ngành công nghiệp mới, sử dụng kỹ thuật
công nghệ cao hơn nh ngành điện tử, dợc phẩm, vì những ngành này lợi thế cạnh
tranh không thuộc về các Công ty của Nhật Bản.
b) Sử dụng vốn:
* Xuất phát từ điều kiện trong nớc và quốc tế ngời Nhật biết đầu t vào các
ngành mang lại hiệu quả và hiệu quả cao, vừa phát huy ngành truyền thống vừa cải
tạo cơ cấu ngành hàng theo xu hớng hiện đại hoá.
Trớc hết là ngành công nghiệp năng lợng, nhiên liệu đặc biệt tăng tỷ lệ dầu
lửa, giảm tỷ trọng than đá.
Ngành công nghiệp luyện kim đợc Nhà nớc chú ý đầu t để đổi mới, và hiện
đại hoá ngành luyện kim đen, luyện kim màu. Những năm (1951 - 1955) Chính
phủ chi cho đổi mới hiện đại hoá thiết bị cán thép là 128 tỷ Yên, năm 1956 - 1960
là 500 tỷ Yên, năm 1961 - 1965 tiếp tục đầu t để hiện đại hoá ngành luyện, cán
thép, nhờ đó Nhật đã đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc và xuất khẩu, chiếm u thế
trên thị trờng thế giới về chất lợng và hiệu quả.
Trong nhập khẩu vật liệu dệt giảm xuống, nếu năm 1950 chiếm 40% năm
1970 giảm xuống còn 3%, điều đó giải thích đợc sự giảm sút của ngành dệt truyền
thống, chuyển hớng sang công nghiệp dệt tơ, lụa nhân tạo.
Tỷ trọng nhập nhiên liệu, dầu thô tăng, phản ánh sự phát triển của công
nghiệp hoá dầu, luyện kim và chế tạo ô tô.
6