LỜI MỞ ĐẦU
Trong hệ thống bộ máy nhà nước của các nước trên thế giới hiện nay đều có một thiết
chế đặc biệt với tên gọi như: vua, hoàng đế, tổng thống, đoàn chủ tịch, hội đồng liên bang, hội
đồng nhà nước, chủ tịch nước. Những cơ cấu này có vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước
của từng nước, cùng được gọi chung là nguyên thủ quốc gia. Ở Việt Nam từ cách mạng tháng
Tám năm 1945 nhân dân ta đã giành được chính quyền, nước ta đã có nguyên thủ quốc gia gọi
là Chủ tịch nước. Cùng với sự phát triển của đất nước và sự thay đổi, ra đời của các bản Hiến
pháp thì chế định chủ tịch nước cũng có nhiều thay đổi. Với bản Hiến pháp 1992 được sửa đổi
bổ sung năm 2001 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan thì chế định Chủ tịch nước đã
có nhiều đổi mới quan trọng về vị trí của Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước, nhiệm vụ
quyền hạn và mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước khác ở trung ương.
NỘI DUNG
1-KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Khái niệm.
Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, đại diện cho đất nước về đối nội đối
ngoại. Nguyên thủ quốc gia có thể là vua, hoàng đế, tổng thống, đoàn chủ tịch, hội đồng liên
bang, hội đồng nhà nước, chủ tịch nước. Ở nước ta, nguyên thủ quốc gia tồn tại dưới hình thức
Chủ tịch nước.
1.2.Chế định Chủ tịch nước qua các bản Hiến pháp.
Từ cách mạng tháng Tám 1945, sau khi giành được chính quyền nước ta đã có Chủ tịch
nước. Trong Hiến pháp 1946, Chủ tịch nước tuy không được định nghĩa song theo các quy
định vể thẩm quyền thì Chủ tịch nước là người vừa đứng đầu nhà nước vừa đứng đầu chính
phủ. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 1946 đã quy định những nhiệm vụ, quyền
hạn rất rộng rãi và mềm dẻo của Chủ tịch nước, phù hợp với yêu cầu, đặc điểm, tình hình
nước ta hồi đó với vị trí rất đặc biệt của Bác Hồ.
1
Đến Hiến pháp 1959, Chủ tịch nước đã được tổ chức riêng thành một chế định độc lập
với tính chất là người đứng đầu nhà nước và không còn đồng thời là người đứng đầu chính
phủ nữa. Chủ tịch nước thay mặt đất nước thực hiện chức năng thuộc về đối nội, đối ngoại;
tham gia vào các hoạt động của nhà nước về các mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Hiến pháp 1980 xác lập chế độ Chủ tịch nước tập thể theo như mô hình thịnh hành ở
định là: toàn bộ quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội, và có sự phân công
phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao để mỗi cơ quan thi hành có hiệu lực chức năng, quyền hạn của mình với sự phối hợp chặt
chẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cùng với quy định "Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước"(Điều 101 Hiến pháp
năm 1992), các quy định khác về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thể
hiện rõ quan điểm đó.
3.1 Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Trong mối quan hệ với Quốc hội, Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 và Luật tổ chức
Quốc hội quy định như sau:
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu (trong số đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc
hội giới thiệu), miễn nhiệm và bãi nhiệm. Nhiệm kì của Chủ tịch nước được quy định theo
nhiệm kì của Quốc hội. Điều này đảm bảo tính gắn bó và chịu trách nhiệm của Chủ tịch nước
trước Quốc hội.
Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước.
Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch nước phải trả lời trước
Quốc hội tại kì họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời
3
trước Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn
bản.
Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập kì họp bất thường
của Quốc hội.
Trong mối quan hệ với Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước có quyền tham dự
phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định này nhằm mục đích tạo điều kiện để
Chủ tịch nước theo sát được ý kiến của tập thể Ủy ban thường vụ Quốc hội khi thảo luận và
quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước đồng thời để Chủ tịch nước có thể đóng góp
Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao.
Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó chánh án và thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, Chánh án, Phó chánh án, thẩm phán Tòa án quân sự trung ương.
Trong thời gian Quốc hội không họp thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách
nhiệm và báo các công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
Chánh án tòa án nhân dân tối cao trình ý kiến của mình về trường hợp người bị kết án
tử hình xin ân giảm.
3.4 Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002
quy định như sau:
Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó viện trưởng, kiểm sát viên Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời gian Quốc hội không họp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu
trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về
những trường hợp người bị kết án tử hình xin ân giảm.
5