Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo - Pdf 28

MỎ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Sau năm 1975, đặc biệt là sau năm 1987, đời sống văn học Việt Nam có nhiều thay đổi. Sự chuyển
tiếp từ thời chiến sang thời bình với những quy luật bình thường của nó, ảnh hưởng của công cuộc
đổi mới tư duy mà Đảng khởi xướng, những vấn đề bức thiết cộm lên trong lịch sử dân tộc thời hậu
chiến và một độ lùi thời gian tương đối thích hợp là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những
thay đổi quan trọng của văn học. Cùng với sự đổi mới của Đảng, các phương tiện đời sống văn học
như tác giả, tác phấm, các hoạt động sáng tác, lí luận, phê bình đều có sự chuyển biến tích cực.
Có thể khẳng định đây là giai đoạn văn học phát triến sôi động nhất - một giai đoạn đang phát triển
và chưa hoàn thành.
Trong sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay, truyện ngắn là
một trong những thể loại gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cún đã
nhận ra xu hướng vận động mói - xu hướng của những tìm tòi sáng tạo, của những lối viết hoàn
toàn mới mẻ, người nghệ sĩ đã được “cởi trói” trong sáng tạo. Hòa vào dòng chảy ấy, ta thấy xuất
hiện một nữ văn sỹ có cá tính sáng tạo độc đáo - nhà văn Võ Thị Hảo.
- Võ Thị Hảo xuất hiện trên văn đàn vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX với sáng tác ở thể
loại thơ và truyện ngắn. Trong những năm gần đây chị còn thể nghiệm ngòi bút ở cả tiểu thuyết và
kịch bản phim. Truyện ngắn là lĩnh vực mà nhà văn nữ này đã có nhiều thành công, được độc giả
hào hứng đón nhận. Nghiên cứu truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn trẻ hiện nay rất được chú trọng
nhưng cho đến nay truyện ngắn của Võ Thị Hảo vẫn chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách
có hệ thống. Đây vẫn là một “mảnh đất trống” cần được khai phá.
Cùng với những tên tuổi như Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ
Duy Anh , Võ Thị Hảo là nhà văn góp phần tạo ra xu hướng cách tân trong nền Văn xuôi Việt
Nam đương đại. Các nhà văn này đã mang vào văn học hơi thở của cuộc sống và con người hiện
đại. Đe làm được điều đó, trước hết họ phải tự làm mới chính mình. Cùng với một quan niệm mới
mẻ về hiện thực là một văn phong táo bạo, đối mới trong nghệ thuật thể hiện.
- Nhà văn Võ Thị Hảo, “người kể chuyện cổ tích hiện đại”, đã cho ra mắt độc giả yêu thích văn
chương những tác phẩm đi cùng năm tháng. Trong các tác phẩm, chị có lối kể chuyện cuốn hút, có
duyên với văn phong sắc sảo, vừa quen vừa lạ, ảo thực lẫn lộn. Tuy nhiên, đến nay các công trình
nghiên cứu về truyện ngắn của nhà văn Võ Thị Hảo chưa nhiều. Đặc biệt là nghiên cứu về nghệ
thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào.

mẻ về nội dung. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài tương đối rộng nên chỉ một số truyện
ngắn của nhà văn được chú ý đề cập đến.
2
- Đe tài Truyện ngắn Vô Thị Hảo trong bối cảnh đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986
(Nguyễn Thị Hằng, luận án thạc sĩ, Đại học Vinh, 2008) là công trình nghiên cứu khá toàn diện về
truyện ngắn Võ Thị Hảo trên cả hai phương diện nội dung và hình thức. Trong công trình nghiên
cứu này, tác giả đã đề cập tới một số phương diện hình thức nghệ thuật, nhưng chủ yếu là để tiếp
cận yếu tố kỳ ảo. Chính vì thế phương diện nghệ thuật vẫn chưa được khai triển sâu sắc.
- Đe tài Nhân vật nữ trong sáng tác của Vô Thị Hảo (Trần Thị Bích Vân, luận án thạc sĩ, Đại học
Thái Nguyên, 2009) lại tập trung nghiên cứu về nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo. Trong
đề tài này tác giả mới chỉ đề cập đến cách thể hiên nhân vật nói chung, nhân vật nữ nói riêng và các
biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong sáng tác Võ Thị Hảo. Tuy nhiên do phạm vi nghiên
cún nên luận văn này chưa chú ý khai thác sâu về nghệ thuật.
Ngoài ra còn một số bài phỏng vấn, trao đổi giữa nhà văn Võ Thị Hảo với phóng viên các tờ
báo, tạp chí. Thông qua các cuộc trao đổi, nhà văn đã bộc lộ nhiêu quan niệm vê văn học nghệ
thuật.
Nhìn chung, ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình về truyện ngắn Võ Thị Hảo
còn ít. Hơn nữa các bài viết mới chỉ dừng lại ở cái nhìn ban đầu, chứ chưa có một công trình nào có
tính chất quy mô nghiên cứu về đóng góp của Võ Thị Hảo ở thể phương diện nghệ thuật. Đề tài
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo của chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu phương diện
nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo nhằm khẳng định sự sáng tạo trong nghệ thuật trần thuật
của nhà văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật trần thuật: Điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ
trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo, từ đó thấy
được những đóng góp mới trong sáng tạo nghệ thuật của Võ Thị Hảo.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm tự sự nói
chung và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn nói riêng.
- Nghiên cún một số phương diện của nghệ thuật trần thuật: điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Điếm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Vô Thị Hảo
Chương 2. Giọng điệu trân thuật trong truyện ngăn Vồ Thị Hảo
Chương 3. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Vô Thị Hảo
NỘI DUNG Chương 1
ĐIẺM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ HẢO
4
1.1. Khái niệm trần thuật và điểm nhìn trần thuật
1.1.1. Khải niệm trần thuật
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, trần thuật được hiểu như sau: “Trần thuật là phivơng diện
cấu trúc của tác phâm tự sự, thế hiện mối quan hệ chủ thế - khách thế trong loại hình nghệ thuật
này. Nó đánh dấu sự đối thay điếm chủ ỷ của ý thức văn học từ hệ thong sự kiện thắt nút, mở nút
sang chủ thế thấm mỹ của tác phẩm tự sự” [15, tr.248].
Trong cuốn Lý luận văn học, trần thuật đã được xác định: “Trần thuật là sự trình bày liên
tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biên đối về xung đột và nhân vật một cách
cụ thế, hấp dân, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định. Trần thuật là sự thế hiện của hình tượng
văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức. Bố cục của trần thuật là sắp xếp, tố chức sự tương
ứng giữa các phương diện khác nhau của hình tượng với các thành phân khảc nhau của văn bản ”
[42, tr.307].
Ngoài ra còn có nhiều quan điểm khác nhau về trần thuật, nhưng nhìn chung đều đi đến
khẳng định: Trần thuật là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh,
sự việc theo cái nhìn nhất định. Nghệ thuật trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự
sự, nó có tác dụng soi sáng nội dung tư tưởng của tác phẩm và thể hiện sự sáng tạo độc đáo của
nhà văn.
1.1.2. Khải niệm điếm nhìn trần thuật
Các nhà lý luận, phê bình sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên thuật ngữ này: quan
điểm trần thuật, điểm nhìn tâm lý, cái nhìn trần thuật, phương thức trần thuật. Ở đây chúng tôi xem
xét vấn đề và thống nhất thuật
ngữ điếm nhìn trần thuật.
G N Pospelov khắng định: “Trần thuật tự sự bao giờ cũng tiến hành từ phía một người nào

* Xét về bình diện tâm lý, có thế phân biệt thành điếm nhìn bên trong và điềm nhìn bên ngoài:
+ Điểm nhìn bên trong: Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kính của một tâm
trạng cụ thế, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật.
+ Điểm nhìn bên ngoài: Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị trí bên ngoài có
khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật.
- Trong Nhập môn văn học, điểm nhìn trần thuật được chia thành 5 loại:
+ Trần thuật khách quan: Người trần thuật lẩn đi, không nhập cảm vào
ý thức của một nhân vật nào, chỉ ghi lại những sự kiện một cách khách quan.
+ Trần thuật thông suốt tất cả: Người kể dường như biết tất cả về đời sống nội tâm và hoạt
động của mọi nhân vật trong tác phẩm.
6
+ Trần thuật thông suốt tất cả có lựa chọn: Người kể chỉ “biết hết tất cả” với một vài nhân
vật. Những nhân vật khác được miêu tả qua ấn tượng của nhân vật được lựa chọn.
+ Trần thuật tham dự: Người trần thuật tham dự vào truyện như là một nhân vật, khoảng
cách trong người trần thuật và nhân vật được rút ngắn tới mức thấp nhất.
+ Trần thuật không tham dự: Người kể lẩn đi, lời kể hầu như chỉ còn sự kiện, tình tiết.
Khoảng cách trong người trần thuật và đối tượng trần thuật là lớn nhất.
- Trong Văn chương dẫn luận, Pospelov chia điểm nhìn trần thuật thành 2 loại:
+ Trần thuật khách quan: Khi có khoảng cách nhất định giữa các nhân vật và người trần
thuật. Loại trần thuật này gặp nhiều trong các tác phẩm tự’ sự truyền thống.
+ Trần thuật chủ quan: Người trần thuật nhìn thế giới theo con mắt của một nhân vật, thâm
nhập vào suy nghĩ và ấn tượng của người ấy. Khoảng cách trong người trần thuật và đối tượng được
trần thuật bị thủ tiêu. Điểm nhìn từ hai phía được thâm nhập làm một. Theo Pospelov kiểu trần
thuật này xuất hiện khoảng 200 năm gần đây và ngày càng chiếm được ưu thế, được các tác giả sử
dụng ngày càng nhiêu trong tác phâm văn xuôi tự’ sự.
- Trong Giảo trình dẫn luận thi pháp học Trần Đình Sử chia điểm nhìn trần thuật được chia thành 5
loại:
+ Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trần thuật và của nhân vật.
+ Điểm nhìn không gian, thời gian.
+ Điểm nhìn bên trong, bên ngoài.

+ Trần thuật theo phương thức liên chủ quan: Sự trần thuật được tiến hành từ
điểm nhìn bên trong của nhân vật nhưng không thuần nhất nhân vật nào mà đan cài,
xen kẽ giữa các nhân vật. Điểm nhìn giữa các nhân vật chồng chéo lên nhau, hòa trộn
với nhau tạo nên một hợp thể phức điệu của các điếm nhìn không chỉ trong toàn bộ
tác phẩm mà trong từng hoạt động của nhân vật.
Qua khảo sát chúng ta thấy mỗi nhà nghiên cún tìm tòi và khai thác các vấn
đề của điểm nhìn trần thuật theo một cách thức riêng. Vì vậy khi nghiên cứu tác
phẩm chúng ta cần phải lựa chọn nhũng cơ sở lý luận phù họp. Đe tập trung giải
quyết nhiệm vụ đề tài đặt ra, chúng tôi nghiên cứu điểm nhìn trần thuật trong truyện
ngắn Võ Thị Hảo theo hướng phân loại của tác giả Phương Lựu: điểm nhìn bên trong
và điểm nhìn bên ngoài.
1.2. Nhà văn Võ Thị Hảo và nghệ thuật lựa chọn điễm nhìn trần thuật
trong truyện ngắn
1.2.1. Nhà vãn Võ Thị Hảo
Võ Thị Hảo sinh năm 1956 ở Diễn Bình, Diễn Châu, Nghệ An, là hội viên
Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1997. Tốt nghiệp Khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội,
năm 1977, chị về làm biên tập rồi Phó tổng biên tập cho Nhà Xuất bản Văn hoá dân
tộc. Năm 1996, chị chuyển sang công tác tại báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh làm
trưởng văn phòng đại diện cho báo này tại Hà Nội. Từ báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí
Minh chị chuyến sang đảm nhận vị trí Trưởng ban thư ký toà soạn cho báo Gia đình
và xã hội năm 2000. Rồi chị chuyển sang làm cho Tạp chí Vì trẻ thơ. Ở vị trí này
không lâu, Võ Thị Hảo lại đột ngột trở về báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh nơi
trước đó chị đã kiên quyết ra đi. Cuối năm 2006, chị xin nghỉ hưu “non” để dành thời
gian cho công việc viết lách và đầu tư kinh doanh. Cùng với hai cô con gái Uyên Ly
và Hạnh Ly, hiện nay chị đang làm giám đốc của Công ty Văn hoá và Truyền thông
Võ Thị. Rẽ hướng sang kinh doanh nhưng chị vẫn không quên nghiệp viết, sau
nhũng tập truyện ngắn và tiểu thuyêt Giàn thiêu, chị đang tập trung hoàn thành cuốn
tiểu thuyết thứ hai mang tên Dạ tiệc quỷ và cho ra mắt độc giả một số kịch bản phim.
Võ Thị Hảo sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Nghệ khắc nghiệt. Sự cằn cỗi
và hà khắc của thiên nhiên đã tạo cho con người sinh ra trên mảnh đất gió Lào nóng

làm theo những gì mình cho là đúng, là đích thực. Chị đã dám sống, dám viết và đã
tỏ bày quan niệm sống của mình trên từng trang viết thấm đẫm mồ hôi và nước mắt,
với mong muốn tột cùng cống hiến cho đời những suy nghĩ trung thực nhất, dũng
cảm nhất.
Không cho rằng văn chương là một cuộc chơi hay một trò giải trí, chị quan
niệm văn chương là nơi có thê đem đên cho chị niêm vui được chia sẻ cảm thông với
cuộc đời, được trả những món nợ ân nghĩa, “Văn chương sẽ cún rỗi tất cả”. Chị đã
viết trong nhọc nhằn và xót xa, trong hạnh phúc và hân hoan. Luôn cảm thấy viết vừa
là đam mê, vừa là trách nhiệm, Võ Thị Hảo như là một người chân trần lặng lẽ mang
ánh sáng của mình kiên nhẫn đi trong thăm thẳm đời sống, ngụp lặn trong dòng đời
bộn bã để sống và viết và sáng tạo. Chị không còn thời gian cho những thú vui nhỏ
nhoi mà bất cứ người phụ nữ nào cũng giành một phần thời gian để chiều chuộng
chính mình. Cảm giác mắc nợ, có lỗi với mọi người, với cuộc đời luôn thôi thúc chị
viết. Chị nói về cái được, cái mất trong văn chương: “Tôi không tìm kiếm điều gì khi
viết văn, tôi chỉ sống theo số phận của mình. Viết văn, tôi được sống nhiều kiếp,
được viết cho mình, được khóc cười. Thiên đường, địa ngục, người và ma quỷ, thiên
thần hỗn độn như thế, tôi đã được quá nhiều khi tôi viết văn. Neu tính chuyện mất,
thì tôi mất đi ít nhiều khả năng làm lành với cuộc sống và phải nhận lĩnh kiếp nạn
của nhũng kẻ không thế im lặng trước nỗi đau của người khác”.
Không chỉ miệt mài sáng tạo, Võ Thị Hảo còn rất nghiêm khắc với bản thân
trong lao động nghệ thuật. Chị luôn luôn tâm niệm “điều quan trọng đế trở thành một
người viết có tư tưởng độc lập là không chấp nhận những lối mòn”. Và “nhà văn
không được phép lừa dối chính mình, không làm những điều mà chính mình đang dối
trá để cầu lợi sống dối là nguy hiểm, viết dối lại càng nguy hiểm hơn”. Thực tế,
những truyện ngắn của chị đã là bằng chứng hết sức thuyết phục cho quan niệm về
nghề văn. Đặt bên cạnh những truyện ngắn cùng thời bao giờ ta cũng có thế nhận ra
nét riêng của Võ Thị Hảo khi ở giọng kể, khi ở cái tên, khi ở những đoạn kết hay tình
huống độc đáo Càng viết chị càng khẳng định được mình, càng đưa lại cho độc giả,
những người yêu mến chị, niềm tin vào sức sáng tạo và tinh thần lao động nghiêm
túc của người phụ nữ dám sông, dám viêt và dám cháy hêt mình cho văn chương.

trong công cuộc đổi mới như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài truyện ngắn của
Võ Thị Hảo không dễ để cuốn hút ngay người đọc bằng cái “lạ” và cái “mới”.
Nhưng chính chiều sâu tư tưởng và sự thành công ở một số phương diện hình thức
nghệ thuật đã tạo nên chỗ đứng của truyện ngắn Võ Thị Hảo.
Truyện ngắn thời kỳ đổi mới hướng vào cuộc sống thường nhật, khám phá mọi
vấn đề của đời sống ở những chiều kích và góc độ khác nhau. Truyện ngắn của Võ
Thị Hảo cũng không nằm ngoài những đối tượng phản ánh ấy. Chị đặc biệt hướng
ngòi bút của mình đến vấn đề nhân tính và sự bất bình trong xã hội. Nói về những
điều này bao giờ nhà văn cũng đi đến tận cùng bằng cách phản ánh mọi góc cạnh sâu
sắc của vấn đề, không ngại đụng chạm đến những gì mà dư luận cho là “nhạy cảm”
theo cách riêng của mình. Đọc truyện của Võ Thị Hảo, ta không có cảm giác ngột
ngạt, khó chịu như trước khi cơn bão tràn qua như khi đọc truyện của Phạm Thị Hoài
hay Nguyễn Thị Thu Huệ. Ngược lại, người đọc có cảm giác bất an khi luôn dự cảm
có bất trắc sẽ xảy ra, tựa như cảm giác của một người lần đầu tiên bước chân xuống
biển, không dám bước liều vì sợ sẽ sa chân xuống một hố sâu nào đó. Bất an, lo sợ
nhưng vẫn muốn bước tiếp đế khám phá vì cuộc sống luôn đầy bất ngờ không thể
lường trước. Người viết đã khéo léo gieo vào lòng người đọc sự háo hức chờ đợi
thông qua những biện pháp nghệ thuật hữu ý.
Tính chất bất ngờ trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo trước
hết được tạo nên tù’ các tỉnh huống đặc sắc. Đúng như
nhận xét của tác giả Bùi Việt Thắng: “Mỗi người viết
truyện ngắn thường có một lối nẻo riêng, với Võ Thị Hảo
việc tìm tòi tình huống truyện là có ý nghĩa nhất” [57]
Không chỉ ở tình huống mà ở ngay tiêu đề của truyện ngắn
ta đã thấy dụng công của người viết nhằm gây ấn tượng với
người đọc. Những tên truyện thường hứa hẹn ở phía sau
nhiều suy tư triết lí và gợi không khí về một miền cổ
tích: Dây neo trần gian, Vũ điệu địa ngục, Làn môi đồng trinh, Hổn trình nữ
Không khí cố tích, huyền thoại còn được tạo nên cùng với
sự linh hoạt trong các ngôi trần thuật, trong cách xưng

của Nguyễn Thị Thu Huệ mạnh mẽ bạo liệt sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được hạnh
phúc. Còn ở truyện ngắn của Võ Thị Hảo họ nhẫn nại cam chịu trước số phận bất
hạnh. Có lúc ngang ngạnh, nối loạn nhưng họ vẫn rất đằm thắm với khát vọng được
dâng hiến, khao khát kiếm tìm hạnh phúc cứ rát bỏng trong tâm hồn nhân vật. Người
đọc không thế không yêu, không thương, không thể không đồng cảm với nhân vật dù
đó là một cô gái sa ngã (Vũ điệu địa ngục), một người đàn bà nhẹ dạ (Người đàn ông
duy nhất) hay một con điếm đã hết thời (Biên cứu rỗi) Với tình yêu, câu chuyện
muôn thuở của loài người, nhà văn không hoài nghi mà ngược lại đặt niềm tin mãnh
liệt vào sức mạnh của nó. Trong các truyện ngắn: Goá phụ đen, Tiếng vạc đêm, Khỏi
mang màu nước biển người ta cảm nhận được sự âu yếm mang chút thánh ca của
tác giả khi nói về tình yêu. Điều này đã gieo vào lòng độc giả niềm hy vọng tin tưởng
vào những gì còn tốt đẹp trong cuộc đời. Khi mà con người quay quắt với tiền tài,
danh vọng, tình yêu cũng như một thứ đồ có thể trao đổi buôn bán thì gieo được hạt
mầm hi vọng ấy quả là một điều đáng nói.
Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay ghi nhận sự phát triển của dòng văn
học sử dụng yếu tố kỳ ảo. Nhắc đến văn học kỳ ảo thời kỳ này không thể không thừa
nhận những đóng góp của Võ Thị Hảo. Cùng với Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Sơn Minh,
Lý Lan Võ Thị Hảo đã góp phần khơi dòng cho văn học sử dụng yếu tố kỳ ảo phát
triển trở lại sau một thời gian dài vắng bóng, mở ra một không gian mới, một thủ
pháp mới đế khám phá hiện thực. Ngay ở dòng truyện ngắn này, cá tính của một nữ
nhà văn ưa khám phá thử nghiệm đã được biểu hiện khá rõ nét.
Ai đó từng nhận xét chí lí rằng văn học đang mang gương mặt nữ ngày càng
trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm. Thập niên chín mươi của thế
kỷ qua truyện ngắn được mùa vì thế cũng nở rộ một loạt tên tuổi nữ được người đọc
mến mộ như Y Ban, Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý
Lan Võ Thị Hảo cũng là một trong số những cây bút nữ đã góp phần làm nên sự
khởi sắc của truyện ngắn. Dù chưa phải là một cây bút xuất sắc nhất nhưng sẽ thật
thiếu sót nếu nói đến truyện ngắn Việt Nam sau 1986 mà không nói đến chị. Không
ồn ào, không sắc nét màu mè, không khiến giới phê bình phải tốn nhiều giấy mực đế
tranh cãi nhưng truyện của chị lại có sức cuốn hút kỳ lạ đối với ngưòi đọc. Án đằng

trong của nhân vật, chỉ lặng lẽ quan sát rồi ghi chép lại lời nói hành động của nhân
vật tựa như một chiếc máy quay chính hiệu. Song, câu chuyện vẫn được tiếp diễn
phát triển nhờ vào các cuộc thoại giữa các nhân vật. Nói khác đi, chọn điếm nhìn bên
ngoài người trần thuật có vị trí quan sát khách quan hơn để chiếm lĩnh mọi diễn biến
của câu chuyện mà thuật lại cho người nghe.
Ở điểm nhìn này đa phần người làm chủ điểm nhìn ấy là người kể chuyện
ngôi ba với cái nhìn “biết tuốt” - toàn tri. Bằng sự điềm nhiên của lối kể, người trần
thuật thường xuyên tách mình ra khỏi sự đồng cảm đối với nhân vật và chỉ hướng sự
chú ý của người nghe vào kết quả thuần túy.
Điểm nhìn bên ngoài gắn với ngôi kể ấy đề xuất một cái nhìn khách quan và
dẫn dắt câu chuyện theo dụng ý của tác giả. Nhưng dù chưa đạt tới độ “khách quan
lạnh ỉùng” như T. Sêkhốp “đứng trên tất cả mọi sự phiền muộn, hân hoan đế thấu
triệt hết mọi công việc ”, nhưng “ổng kỉnh ” của nhà văn cũng đã xoáy sâu vào các
hiện tượng xã hội để mổ xẻ, phân tích đến từng ngóc ngách sâu kín nhất. Với quan
niệm đó, câu chuyện được kể dưới nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm, cách lý giải
khác nhau nhằm tạo nên tính chân thực khách quan, lôi cuốn người đọc. Đồng thời
giúp người nghệ sĩ phát huy tối đa sự sáng tạo của mình.
Theo lý thuyết Tự sự học của G.Genette, người kể chuyện ngôi thứ ba tồn tại
hai trường hợp cơ bản: người kể chuyện toàn tri toàn năng và người kể chuyện ngôi
ba không toàn tri (hạn định) bị hạn chế bởi tầm nhìn của nhân vật. Không khó để
nhận diện dạng thức thứ nhất trong các truyện kể truyền thống. Ở đó, người kể
chuyện chẳng khác nào vị thượng đế tài năng có khả năng tinh thông am tường mọi
đường đi nước bước, thậm chí biết rõ cả mọi suy nghĩ, đoán định được chính xác
tương lai số phận của nhân vật. Kiểu người kế này đã trở nên thông dụng và phố biến
trong các tác phẩm văn xuôi các giai đoạn trước. Nhưng sang đến văn học hiện đại,
để gia tăng độ khách quan và mời gọi tiếp nhận từ phía độc giả, nhà văn tìm cách
kiềm chế và thu hẹp quyền lực của người kể có khả năng bẩm sinh và siêu nhiên như
thượng đê, trỉnh diện nhiêu hơn vai kê khác - người kê chuyện hạn định.
a. Điếm nhìn bên ngoài qua người kế chuyên ngôi thứ 3 toàn tri.
Không đoạn tuyệt với truyền thống, khảo sát các tập truyện ngắn của Võ Thị

tử cơ hội đối với sáng tạo nghệ thuật ở Bản cốt; hoặc cũng có thế là bức tranh ô tạp
của cuộc sống hiện đại đang âm thầm len lỏi vào từng mái nhà làm nhem nhuốc tâm
hồn người.
Giống như nhà tiên tri với những dự cảm không yên về cuộc đời, Võ Thị Hảo
đã nhìn thấy những mặt trái đầy tiêu cực của cuộc sống công nghiệp thời mở cửa qua
hình ảnh quái đản trong Miền bọt. Đó là sự hỗn tạp nhố nhăng, ô hợp của nhiều loại
người, nhiều cách sống nhưng cùng gặp nhau trong những thú vui tầm thường “trí
thức, nghệ sĩ, lưu manh, quan chức. Họ bình đẳng với nhau trở thành đống bùn nhão
nhoẹt trong vòng ôm cô tiếp viên điếm” [17, tr. 186]. Đó còn là sự đối lập, sự phân
cách giàu nghèo giữa các tầng lóp trong xã hội. Như một nhà quay phim thực thụ,
mọi khóc cạnh khác nhau của đời sống đương đại đều được đưa vào ống kính vạn
năng của người kể chuyện toàn năng trong truyện ngắn Võ Thị Hảo. Qủa thực, nếu
thiếu đi ngôi kế ấy e rằng câu chuyện được trải đều trên cả hai trục không - thời gian
khó mà hoàn tất. Nhờ đó, sức dung chứa bao quát lớn trong các câu chuyện ngắn
được co dãn, căng phồng. Thay vì chỉ kể đơn thuần như trước, người kể chuyện đứng
ngoài nhưng lại biết hết, bày tỏ thái độ về thời thế, về thân phận con người. Trước
biên chuyên chóng mặt của xẵ hội, khi mà các hệ giá trị và cả những chuẩn mực đạo
đức đã trở nên chao đảo bấp bênh, người kể chuyện toàn tri cũng không dấu nối tiếng
thở dài não nuột ngao ngán. Tuy nắm bắt được mọi tâm tính, nghĩ suy và kết cục của
nhân vật nhưng “người biết tuốt” vẫn không khỏi thao thức thậm chí hồ nghi, ngờ
vục; song niềm tin vào bản chất thiện của con người không bao giờ vơi cạn, vụt tắt.
Ngày không mút tay chính là tiếng nói thống thiết của người kể chuyện về
cảnh ngộ éo le, bi đát của vợ chồng Ngâu Ngần. Dù chỉ đứng ngoài quan sát nhưng
cảm giác cay đắng vẫn xâm chiếm cõi lòng người kể. Cái đói đáng sợ vây hãm lấy
gia đình một người công nhân mất sức lao động. Tác giả đã tái hiện đến chân thực sự
đói nghèo và nỗi đau khổ của nhân vật Ngâu. Là một người cha anh thấm thìa đến
tận cùng nỗi xót xa trước cảnh “ba đứa trẻ đang nhất loạt đưa tay lên miệng mút cho
đỡ cơn đói mà cái mùi kích thích mùi vị ấy vừa dấy lên. Thằng lớn bảy tuổi mút ngón
tay cái. Còn hai đứa gái sinh đôi thì chùn chụt mút ngón trỏ của bàn tay phải” [19, tr.
108] là một người chồng đau đớn uất nghẹn khi mường tượng mồn một “khuôn mặt

khoảng cách khá xa với truyện kế, không can thiệp hay với tay quá dài vào các sự
kiện, đế câu chuyện diễn ra thật tự nhiên theo sự chỉ dẫn của người kể toàn tri nên
bạn đọc cứ như bị một ma lực hút dính vào tác phấm.
b. Điếm nhìn bên ngoài qua người kế chuyện ngôi thứ 3 hạn định.
Các nhà văn mang cảm quan hậu hiện đại đều tỏ ra ưu ái, dành sự quan tâm
lớn với người kể chuyện ngôi ba hạn định. Đây cũng là nét đổi mới cơ bản trong
nghệ thuật trần thuật của Võ Thị Hảo. Khước từ vai trò của thượng đế toàn năng, họ
hiểu rằng không phải cái gì người kể chuyện cũng thông tỏ “biết tuốt”. Cuộc sống
vốn là một “trò chơi” tiềm ẩn nhiều bất ngờ lý thú, khó ai dám khẳng định biết hết
được những gì đã, đang và sẽ diễn ra. Mặc dù là người dẫn dắt câu chuyện nhưng
không có nghĩa là người kể nắm bắt toàn bộ sự việc, làm chủ cuộc chơi mà chỉ chạy
theo suy đoán và rất giỏi đưa đẩy, người kể chuyện hạn định khéo “vờ vĩnh” nhường
lại quyền phán xét và lựa chọn kết cục câu chuyện cho độc giả. Hình thức kết thúc
mở được tác giả cố tình tung ra để “mờ hóa” giúp người thưởng thức có điều kiện
tham gia vào tiến trình tụ' sự. Đã đến lúc nhà văn không thể đủ quyền lực để chi phối
toàn bộ cuộc đời nhân vật. Sự “lên ngôi” của người kể ngôi ba hạn định khẳng định
xu thế mới trên lộ trình đổi mới thế loại. Tính chất dân chủ trở thành ưu thế nối bật
trong nhũng truyện có sự xuất hiện của người kể chuyện không đáng tin này.
Sáng tác của Võ Thị Hảo xuất hiện phố biến người kế chuyện ngôi ba hạn
định: Người sót lại của rừng cười, Trận gió màu xanh rêu, Phúc lộc thọ lên trời, Con
dại của đả, Làn môi đồng trinh Trong Người sót lại của rừĩĩg cười, nhân vật Thảo
chấp nhận hy sinh thầm lặng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, cho người mình yêu để
nhận về những thương tổn trong cõi lòng. Sự dâng hiến lớn lao đó khiến người yêu
của Thảo là Thành chất chứa nhiều dằn vặt, trăn trở. Dù đã an phận với tổ ấm gia
đình nhưng trong tâm trí Thành “vẫn chấp chới đôi cánh bé nhỏ của loài yến huyết”
[19, tr.107]. Đôi mắt của Thành cứ đăm đắm về một phương xa, mong cầu có phép lạ
để người con gái anh mắc nợ trở về. Thực lòng, Thành không hình dung nổi Thảo giờ
ở đâu, như thế nào, sẽ là “một thân hình tàn tạ bơ phờ, mắt mộng du, tay cầm cành
liễu? Hay với bộ quần áo nâu sồng, tay chắp trước ngục: “A di đà! Phật!”? Hay một
bà chủ sang trọng, tay đầy xuyến và nhẫn? Hay một phóng viên đầy tài năng vừa tù’

nhân vật đó. Khác với Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo nghiêng nhiều hơn về vấn đề
“cổ tích giữa đời thường”. Liệu “ác giả ác báo”, “ở hiền gặp lành”, “gieo nhân nào
gặt quả đấy” có còn vẹn nguyên giá trị ở thời buổi vàng thau lẫn lộn này? Một khi sự
hoài nghi chưa được giải đáp thì người kể chuyện khó lòng mà “biết tuốt”, biết rõ
ràng.
Kiểu trần thuật với vị trí quan sát từ bên ngoài qua ngôi ba hạn định, chỉ kế lại
các sự kiện một cách khách quan mà tuyệt nhiên không hề can dự vào nội tâm nhân
vật được Võ Thị Hảo phát huy tối đa trong các loại truyện ngắn này. Từ điểm nhìn
ấy, người kể ẩn tàng dẫn dắt người đọc đi từ chi tiết này sang chi tiết khác theo sự
vận động tất yếu của câu chuyện. Vì nhận ra bộ mặt phụ bạc của người chồng sắp
cưới mà cô gái chỉ biết lặng lẽ tụ’ trách mình khi trao gửi cả tính mạng cả niềm tin
cho kẻ “một dạ nhiều lòng” để rồi thoát xác biến thành cây bưởi có hương thơm
ngát nhung phủ đầy gai trong Nàng tiên xanh xao; vì kiểu yêu bằng mắt của bao gã
đàn ông hiếu sắc đã làm tan vỡ trái tim mong manh của cô gái xinh đẹp khiến cô trở
thành loài hoa tigôn yếu đuối ở Tim vỡ; vì nhẹ dạ cả tin mà cô gái bị phản bội trong
tình yêu đã hóa kiếp thành cây chanh với vị chua đủ để thức tỉnh con người trong
truyện Khát của muôn đời.
Hay như tác phẩm Hồn trinh nữ là một minh chứng. Câu chuyện kể về một
gia đình có “gien di truyền” “chôn chân chờ chồng đi lính” [17, tr.74], đến đời thứ
ba, người con gái cũng giữ tiết hạnh lòng thủy chung mà đợi chờ phôi pha cả tuối
xuân. Vậy là lại có thêm mấy hòn vọng phu của thời hiện đại nhưng thông tin về tên
tuổi, quê quán của họ thì lại hoàn toàn nằm ngoài thư mục lưu trữ của người kể. Sự

Trích đoạn Giọng điệu giễu nhại, châm biếm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status