BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TR- ỜNG ĐẠI HỌC S- PHẠM HÀ NỘI 2
— ca
ĐÀO THỊ THANH VÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ số THỂ Lực VÀ TRÍ TUỆ
CỦA TRẺ EM LỨA TUỎI MAM NON TẠI MỘT SỐ XÃ,
HUYỆN KIẾN X- ƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VÃN THẠC Sĩ SINH HỌC
HÀ NỘI - 2010
ĐÀ
O
TH
Ị
TH
AN
H
VÂ
N
SIN
H
HỌ
C
TH
ỰC
NG
HI
ỆM
200
8-
201
0
1
PHỤ LỤC
NHỮNG CHỮ VIÉT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BMI Body mass index (Chỉ số khối cơ thể)
CDC National Center for Chronic Disease Prevention and
Health Promotion (Trung tâm quốc gia phòng bệnh mạn tính
và tăng cường sức khỏe) cs Cộng sự
FAO Food and Agriculture Organization (Tố chức Nông
lương thế giới)
GTSH Giá trị sinh học người Việt Nam
HSSH Hằng số sinh học của người Việt Nam
IQ Intelligence Quotient (Chỉ số thông minh)
Nxb Nhà xuất bản
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (To chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên
họp quốc)
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
•
MỞ ĐÀU
1. Lý do chon đề tài
Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
4
trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta. Muốn thực hiện
tốt nhiệm vụ này, cần nắm vũng các đặc điểm về thể lực, trí tuệ và tâm sinh lý của
trẻ. Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em luôn có ý nghĩa
quan trọng.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số thể lực, trí tuệ của con
người có thể thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã hội và
môi trường tự nhiên [12], [23], [44], [58], [63], [67], [71], [74], [75]. Do đó, các
- Nghiên cứu chỉ số thông minh (IQ) và các mức trí tuệ của trẻ em lứa tuổi
mầm non.
- Nghiên cứu khả năng ghi nhớ của trẻ em lứa tuổi mầm non (trí nhớ thị giác
ngắn hạn, trí nhớ thính giác ngắn hạn).
- Nghiên cún môi liên quân giữâ một sô chỉ sô nghiên cứu củã trẻ em lứa
tuổi mầm non.
4. Đối tưọ’ng và phạm vi nghiên cún
- Đối tượng nghiên cứu là trẻ em lứa tuổi mầm non của xã Bình Thanh và xã
Hồng Tiến thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Đối tượng được
nghiên cứu ở trạng thái khoẻ mạnh, tâm sinh lý bình thường, không có dị
tật về hình thể hoặc các bệnh mạn tính.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chỉ số về thể lực, về chức năng
của một số hệ cơ quan, về năng lực trí tuệ, khả năng ghi nhớ và mối liên
quan giữa một số chỉ số nghiên cún của trẻ em lứa tuổi mầm non ở xã Bình
Thanh và xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
6
5. Phương pháp nghiên cứu
+ Các chỉ số: chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, tần số tim, tần số
thở được xác định theo các phương pháp hiện hành.
+ Các chỉ số pignet, BMI được tính theo công thức:
Pignet = chiều cao đứng (cm) - [cân nặng (kg) + vòng ngực(cm)]
BMI = cân nặng (kg) / [chiều cao đứng (m)]
2
+ Năng lực trí tuệ được xác định bàng test Ravent màu dùng cho trẻ em từ 6
tuổi trở xuống.
+ Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev.
Ket quả nghiên cún được phân tích và xử lý trên máy vi tính bằng chương
trình Microsoft Excel.
6. Những đóng góp mói của đề tài
- Là đề tài đầu tiên xác định được một số chỉ số về thể lực và
Đặc điểm của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi là chiều cao và khối lượng cơ thể phát
triển chậm hơn giai đoạn trước. Tốc độ tăng vòng đầu và vòng ngực cũng chậm
hơn [36]. về hoạt động tư duy, theo Piaget, quá trình phát triển của trẻ em ở giai
đoạn từ 2 đến 6 tuổi có thể phân thành ba pha: tư duy lặp lại
- hình thành các khái niệm tư duy - hình thành các khái niệm phân lập [54].
Tóm lại, chức năng sinh học và xã hội cơ bản của trẻ em lứa tuổi mầm non là
sinh trưởng và phát triển [36].
8
1.2. Đặc điểm về thể lực và chức năng của một số hệ cơ quan của trẻ
em lứa tuổi mầm non
1.2.1. Các chỉ số về thể lực của trẻ em lứa tuổi mầm non
Thể lực là một chỉ tiêu dùng đế đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng,
phát triển và khả năng học tập, lao động của con người [63]. Đe đánh giá sự phát
triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều cao, cân
nặng, vòng ngực, vòng đầu Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều cao đúng, cân
nặng và vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất. Từ các chỉ số cơ bản này, người
ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số pignet, BMI [36], [42], [66].
Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các
lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học. Chiều cao của mỗi người được quyết định
bởi đặc điếm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện sống
[2], [10], [12], [36], [42], [48], [63], [74].
Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong
những năm đầu. Chiều cao của các em tăng trung bình 7cm/năm ở giai đoạn từ 1
dên 3 tuôi, và tăng trurĩg bình 6 cm/ĩĩăm từ 3 đêiĩ 6 tuôi [4], [7], [36].
Đe theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ em, có thể áp dụng công thức
tính gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ em trên một tuối [36], [72].
X (cm) = 75 + 5.n
Trong đó: X - chiều cao đứng (cm); n - số tuổi (năm); 75 - chiều cao trẻ 1
năm; 5 - chiều cao tăng trung bình/năm.
Cùng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng để
động cơ chính của hệ tuần hoàn. Công suất của tim phụ thuộc vào tần số tim và
1
0
thể tích co tim. Vì vậy, tần số tim là một trong các chỉ số quan trọng để đánh giá
hoạt động của hệ tuần hoàn [41], [42], [45], (theo [83]).
Tần số tim là số lần tim co bóp trong một phút. Tần số tim có thể thay đối và
phụ thuộc vào các trạng thái tâm sinh lý khác nhau [36], [46], [62]. Tần số tim của
trẻ em cao hơn nhiều so với của người trưởng thành. Trong quá trình phát triển cá
thể của trẻ em, tần số tim giảm dần theo tuổi. Tốc độ giảm tần số tim của trẻ em
không đều. Ở cùng một độ tuoi, tần số tim của nam và của nữ khác nhau. Tần số
tim của trẻ em dễ thay đổi khi khóc, sốt, sợ hãi, gắng sức [3], [36], [52].
1.2.2.2. Tân sô thở của trẻ em lứa tuôỉ mầm non
Cơ thể luôn cần trao đổi khí với môi trường bên ngoài. Việc đổi mới không
khí trong phổi được thực hiện qua động tác thở nhờ cử động của các cơ hô hấp với
sự luân phiên nhịp nhàng giữa động tác hít vào và thở ra. Mỗi lần thở ra và hít vào
được gọi là một nhịp thở [36], [83].
Số lần thở trong một phút gọi là tần số thở. Tần số thở phụ thuộc vào kích
thước của cơ thể, lứa tuổi, trạng thái tâm sinh lý và khí hậu [36], [62]. Tân sô thở
củâ trẻ em giảm dân thêõ tuồi. Một so tài liệu chõ thây, lúc 1 tuồi tần số thở của
trẻ là 30 - 35 nhịp/phút, giảm xuống còn 25 - 30 nhịp/phút lúc 3 tuổi và 20 - 25
nhịp/phút lúc 6 tuổi [3], [4], [18], [36], [52]. Tần số thở của trẻ em vào mùa hè cao
hơn vào mùa đông khoảng 2-6 nhịp/phút. Do trung khu hô hấp chưa phát triển
hoàn chỉnh nên tần số thở của trẻ em hay bị rối loạn, có lúc thở nhanh, có lúc thở
chậm, lúc thở nông, lúc thở sâu. Tần số thở của trẻ em cao hơn của người lớn.
Dưới 2 tuổi, trẻ em nam thở nhanh hơn trẻ em nữ [36], [52].
1.3. Đặc điểm về trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non
Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người. Theo tiếng
Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ [51]. Theo từ điển tiếng
Việt [73], trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định. Tựu
1
nghiệm trí tuệ là xác định chỉ số thông minh, mức trí tuệ
Năm 1912, W. Stem đã đưa ra cách tính chỉ số thông minh (Intelligence
Quotient) viết tắt là IQ, bằng thương số giữa tuổi trí tuệ (MA - Mental Age) và
tuổi thực (CA - Chrorological Age) (theo [60]).
ỈQ = MA
X
100 CA
Trong đó: MA - tuổi trí khôn được tính theo kết quả bài trắc nghiệm; CA -
tuổi thời gian tính theo ngày tháng năm sinh.
D. Wechsler (theo [60]) lại cho rằng, sự phát triển trí tuệ diễn ra trong suốt
đời người một cách không đồng đều nên một đại lượng như cách tính của Stern
không thế đánh giá được sự phát triển của trí tuệ. Ông đưa ra khái niệm IQ bằng
công thức sau:
IQ =
x
~
x
x\5+\00 SD
Trong đó: X - điểm trắc nghiệm cá nhân; X - điểm trắc nghiệm trung bình
trong cùng một độ tuổi; SD - độ lệch chuẩn.
Dựa trên chỉ số IQ, D.Wechsler phân thành 7 mức trí tuệ khác nhau [77].
Đe tính được chỉ số IQ, người ta thường sử dụng các loại test khác nhau như
test “trí tuệ đa dạng”, test “hình phức hợp Rey”, .(theo [42]). Một trong số đó là
test Raven. Test Raven được xây dựng trên cơ sở thuyết tri giác hình thể của Tâm
lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của spearman [21]. Sau hai lần chuẩn hóa
vào những năm 1954 và 1956, test Raven đã được UNESCO công nhận và chính
thức đưa vào sử dụng để chấn đoán trí tuệ con người từ những năm 1960 [76].
là trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn. Trí nhớ ngắn hạn là sự lưu thông hưng phấn
1
4
trong các vùng nơron, chỉ tồn tại trong vòng vài giây hoặc một phút sau khi tiếp
nhận một sự kiện hay hiện tượng nào đó. Trí nhớ dài hạn tồn tại trên cơ sở sự hình
thành các prôtêin hoạt hoá vùng xinap, có khả năng lưu giữ hình ảnh trong vòng
nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm [33].
về cơ chế nhớ, có nhiều quan điếm khác nhau. Theo Anôkhin, trí nhớ là
một hệ thống chức năng phức tạp. Cùng quan điểm với Anôkhin, Luria cho rằng,
trí nhớ được thực hiện bằng sự phối hợp hoạt động của cả một loạt các vùng trên
vỏ não, mỗi vùng giữ một nhiệm vụ chuyên biệt [15]. Theo Pavlov, cơ sở sinh lý
của trí nhớ là sự hình thành, lưu giữ và tái hiện lại những đường liên hệ thần kinh
tạm thời. Hyden lại cho rằng, cơ sở của trí nhớ là sự thay đối trong cấu trúc phân
tử của axit ribonucleic. Còn theo Conell và Jacobson, thì trí nhớ có liên quan đến
lượng axit deoxyribonucleic [33]. Cơ chế của sự lưu giữ thông tin ngày càng được
nghiên cứu sâu hơn. Tuy nhiên, chưa có một cơ chế lý thuyết thống nhất về cơ chế
của trí nhớ.
Trẻ sỡ sinh chưa có trí nhớ, đên cuôi tháng thứ sáu, trẻ mới băt đâu tái nhận
lại. Trẻ một tuổi có thể tái nhận lại sự vật hiện tượng sau vài ngày. Đen hai tuổi,
trẻ không những tái nhận lại sự vật, hiện tượng diễn ra sau vài tuần mà còn nhớ
được những gì mới xảy ra trong vài ngày. Ở lứa tuổi này trẻ mới chỉ có trí nhớ
không chủ định, nghĩa là trẻ chưa đặt ra cho mình mục đích, chưa có kế hoạch nhớ
những điều cần ghi nhớ mà thường chỉ nhớ những ấn tượng riêng biệt, những ấn
tượng đượm màu sắc xúc cảm (theo [14], [59]).
Trong lứa tuổi mẫu giáo các quá trình ghi nhớ của trẻ em tiếp tục phát triển
và hoàn thiện. Trẻ tham gia vào các hoạt động phức tạp hơn, đòi hỏi phải nhớ
được luật chơi, nội dung chơi hoặc kế lại được câu chuyện, thuộc thơ .nên ở trẻ
đã bắt đầu xuất hiện trí nhớ có chủ định (theo [14], [59]).
1
5
thấp hơn của người Âu, Mỹ ở mọi lứa tuổi.
Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [10] đã nghiên cứu chiều cao, vòng
đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới trên 8000 người Việt Nam từ 1 đến 55 tuổi ở
ba miền Bắc - Trung - Nam. Các tác giả nhận thấy có quy luật gia tăng về chiều
cao của người Việt Nam, tăng 4 cm/20 năm.
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [58] đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình
thái của người Việt Nam tù' 1 - 25 tuổi ở Nghệ Tĩnh. Ket quả nghiên cún cho thấy,
các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu của cư dân Nghệ Tĩnh
phần lớn thấp hon so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tác
giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái thể lực theo giới tính.
Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ
số hình thái của con người.
Trong hai năm 1995 - 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và cs nghiên cứu trên
10339 trẻ em từ 1 - 36 tháng tuổi và 11985 trẻ em từ 37 - 72 tháng tuổi tại Hà Nội,
Hà Tây, Hà Bắc, Ninh Bình, Nam Hà. Kết quả cho thấy từ 5 đến 72 tháng tuồi,
mức tăng chiêu Câõ nhanh hơn sỡ với mức tăng cân nặng [4].
Từ năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan [39], [42] nghiên cứu trên trẻ em Hà
Nội từ 6 - 17 tuối cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng của trẻ em lớn hơn so
với các kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỷ 80 trở về trước và so
với trẻ em Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu. Điều này chứng tỏ, điều
kiện sống đã có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của
trẻ em.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số thể lực trên người Việt
Nam khá phong phú. Các công trình có ít nhiều khác nhau nhưng cùng xác định
1
7
được hình thái thế lực phụ thuộc vào điều kiện sống, địa bàn nghiên cứu, thời gian
nghiên cứu và có sự biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính.
1.4.2. Những nghiên cứu về các chỉ số chức nãng của một số hệ cơ
quan
em nam cao hơn của trẻ em nữ.
Nhìn chung, những nghiên cứu về chức năng hô hấp của người Việt Nam
khá phổ biến, nhưng chủ yếu là trên đối tượng người trưởng thành với các chỉ tiêu
phân áp các chất khí trong máu, khuếch tán khí, chỉ tiêu chức năng thông khí phổi
như dung tích sống, dung tích sống thở mạnh, thể tích khí lưu thông, thể tích khí
cặn [8], [22], [25], [49], [66], [70], ít thấy những nghiên cứu về tần số thở.
1,4.3. Nhũng nghiên cúĩí về trí tuệ
Mở đầu cho những nghiên cứu đầy đủ, khoa học về trí tuệ là những nghiên
cứu theo thuyết liên tưởng về tư duy, đại diện là các nhà triết học Anh như o.
Ghatli, D.s. Miler, H. Spencer [37].
Ở Việt Nam, từ những năm 80 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về trí
tuệ ngày càng nhiều. Trần Trọng Thủy là người đầu tiên nghiên cứu sự phát triêiì
trí tuệ củã học sinh Việt Nâm. Kêt quả nghiên cứu chõ thây, chiêu hướng, cường
độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh qua các lứa tuổi khác nhau [59].
Năm 1996, Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan đã nghiên cứu đánh giá sự phát
triển trí tuệ của học sinh thành phố và học sinh nông thôn. Ket quả nghiên cứu cho
thấy, học sinh thành phố có mức trí tuệ cao hơn học sinh nông thôn [35], [38].
Năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trí tuệ của học sinh từ 6 - 17 tuổi ở
quận Cầu Giấy - Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình phát triển trí tuệ
của học sinh diễn ra liên tục, tương đối đồng đều và không có sự khác biệt về giới
1
9
tính [42].
Lê Minh Hà [14] sử dụng test Ra ven màu nghiên cứu mức độ phát triển trí
tuệ của trẻ mẫu giáo từ 5 - 6 tuổi ở Hà Nội và Yên Bái cho thấy, điểm test Raven
trung bình xấp xỉ bằng điểm chuẩn, mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo ở
Hà Nội cao hơn của trẻ ở Yên Bái.
Năm 2003, Mai Văn Hưng nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực trí
tuệ của sinh viên một số trường đại học ở phía Bắc Việt Nam cho thấy, năng lực
trí tuệ có mối tương quan không chặt chẽ với các chỉ số thể lực [23].
người Việt Nam khá phong phú, nhưng chủ yếu là ở học sinh, sinh viên, thanh
niên. Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, các nghiên cún mới chỉ được tiến hành về các
chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực hay chức năng của
một số hệ cơ quan. Còn các công trình nghiên cứu về trí tuệ và mối tương quan
giữa năng lực trí tuệ với một số chỉ số sinh học khác của trẻ em lứa tuổi này chưa
nhiều. Việc nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm
non là cần thiết. Nó góp phần xây dựng các chỉ số sinh học người Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay, bổ sung số liệu cho hướng nghiên cứu vê thê lực, trí tuệ củâ trẻ
em, đôiĩg thời là dân liệu chõ quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học ở các
trường Đại học, Cao đẳng, Trung học sư phạm mầm non và là dẫn liệu cho công
tác nuôi dạy trẻ em mầm non được tốt hơn.
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 2.1. Đối
tương nghiên cửu
Đối tượng nghiên cứu là trẻ em lứa tuối mầm non của xã Bình Thanh và xã
Hồng Tiến thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; gồm 6 nhóm với 6 độ tuối
2
1
khác nhau, từ 1 đến 6 tuối.
Bình Thanh và Hồng Tiến là hai xã thuần nông nên đời sống kinh tế của
người dân còn khó khăn. Sự đầu tư cho chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em còn
hạn chế. Phần lớn trẻ em ở diện nghiên cứu đi học ở trường mầm non. Điều kiện
phục vụ cho học tập, sinh hoạt, vui chơi của trẻ chưa tốt như ở thành phố, thị trấn.
Nhưng nhà trường thực hiện đúng chế độ sinh hoạt quy định trong một ngày của
trẻ, kiến thức chăm sóc bà mẹ và trẻ em của người dân cũng dần được nâng cao,
nên đã có tác động tốt đến sự phát triển của trẻ.
Đối tượng được nghiên cứu ở trạng thái khoẻ mạnh, không có dị tật về hình
thể hoặc các bệnh mạn tính. Tuổi của các đối tượng nghiên cứu được tính theo
quy ước chung của tổ chức Y tế thế giới (theo [9]).
Tống số đối tượng được nghiên cún là 781 trẻ em, trong đó có 394 trẻ em
nam và 387 trẻ em nữ. Phân bô các đôi tượng được nghiên cứu theo tuôi và theo
Chọn sai số cho phép của kết quả nghiên cứu là ± 5% của trị số trung bình,
độ tin cậy của kết quả là 99% thì t = 2,58; SD = 10% và cỡ mẫu cần chọn là:
n= 10
2
X 2,58
2
/5
2
= 27 Theo cách tính cỡ mẫu trên,
chúng tôi chọn cỡ mẫu để nghiên cứu trong công trình này có số cá thể của mỗi
nhóm là từ 30 trở lên (bảng 2.1).
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số
2.2.2.1. Các chỉ sô được nghiên cứu
- Các chỉ số về thể lực: Chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, chỉ số
pignet, BMI.
- Các chi số về chức năng của một số hệ cơ quan: Tần số tim, tần số thở.
- Các chỉ số về trí tuệ: Chỉ số IQ và mức trí tuệ.
- Các chỉ số về trí nhớ: Điếm trí nhớ thị giác và điếm trí nhớ thính giác.
2.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu các chỉ sô về thê lực
- Chiều cao đứng
+ Trẻ em từ 1 - 2 tuổi được đo ở tư thế nằm ngửa trên bàn đo. Khi đo, để
đầu trẻ áp sát vào tấm ván đính vuông góc với bàn đo, chân trẻ duỗi thẳng, đầu
gối không cong lên, đặt thước đến gót chân của trẻ và đọc số đo.
+ Trẻ em trên 2 tuổi đo ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân áp
sát nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm
vào thước đo. Thước đo bằng polyme có vạch chia độ chính xác đến 0,1 cm do
2
3
Trung tâm thiết bị trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất.
- Cân nặng được xác định bằng cân y học Trung Quốc, có vạch chia đến 0,1
BMI, tuổi và giới tính của trẻ em từ 2 - 6 tuổi, xác định điểm tương ứng
trên biểu đồ BMI riêng cho nam và nữ từ 2 đến 20 tuổi của Trung tâm
quốc gia phòng bệnh mạn tính và tăng cường sức khỏe (National Center
for Chronic Disease Prevention and Health Promotion), gọi tắt là CDC,
của Mỹ (phụ lục 1 và 2) để so sánh và đánh giá mức độ gầy béo của cơ
thể [81], [82].
Bảng 2.3. Phân loại BMI đối với nam từ 2 - 6 tuổi
ũ
ơ
i
Ơ
Q
3
N>
Tuổi
Bách
phân vị
Phân
loại
2 3 4 5 6
< 14,8 < 14,4 < 14,0 < 13,9 < 13,8 Dưới 5
Suy dinh
dưỡng
14,8- 18,2 14,4 - 17,4
£
0
1
13,9- 16,8 13,8- 17,0 Từ 5 -
85
Bình
Bình
thường
18,0- 19,1 17,2- 18,3 16,8- 18,0 16,8- 18,2 17,0- 18,8 Từ 85 -
95
Nguy có
béo phì
> 19,1 > 18,3 > 18,0 > 18,2 > 18,8 Trên 95 Béo phì
Với trẻ em 1 tuổi, căn cứ vào tháng tuổi và cân nặng, xác định điểm
2
5