nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã huyện kiến xương tỉnh thái bình - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta. Muốn thực hiện
tốt nhiệm vụ này, cần nắm vững các đặc điểm về thể lực, trí tuệ, và tâm sinh lý của
trẻ em. Vì vậy, nghiên cứu các chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em luôn có ý nghĩa
quan trọng.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số thể lực, trí tuệ của con người
có thể thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã hội và môi
trường tự nhiên [12], [23], [44], [58], [63], [67], [71], [74], [75]. Do đó, các chỉ số
thể lực, trí tuệ của con người nói chung, của trẻ em nói riêng cần được tiến hành
nghiên cứu thường xuyên và có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định.
Đến nay, đã có một số tác giả nghiên cứu về thể lực, chức năng sinh lý, năng
lực trí tuệ của người Việt Nam [6], [10], [20], [23], [24], [28], [34], [40], [43],…
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi mầm non còn ít và chủ
yếu là nghiên cứuvề chức năng sinh lý, tình trạng dinh dưỡng. Việc nghiên cứu các
chỉ số thể lực, sinh lý và trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi mầm non là cần thiết. Núcung cấp
dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em ở bậc học mầm non, cũng như tạo cơ sở khoa
học để đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thế hệ tương lai của đất
nước một cách tốt nhất.
Kiến Xương là một huyện thuần nông của tỉnh Thái Bình. Trong những năm
gần đây, mức sống của người dân đã được nâng cao, nhưng ở một số xã, đời sống
của người dân vẫn còn nhiều khó khăn. Đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên
cứu về thể lực, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non của huyện để có thể dựa vào đó đề
ra biện pháp góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho
trẻ em ở địa bàn này.

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số
chỉ số thể lực và trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non tại một số xã,huyện Kiến
Xương, tỉnh Thái Bỡnh”.
2. Mục đích nghiên cứu

BMI = cân nặng (kg) / [chiều cao đứng (m)]
2
+ Năng lực trí tuệ được xác định bằng test Ravent màu dùng cho
trẻ em từ 6 tuổi trở xuống.
+ Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev.
Kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý trên máy vi tính bằng chương
trình Microsoft Excel.
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Là đề tài đầu tiên xác định được một số chỉ số về thể lực và trí tuệ của trẻ em
lứa tuổi mầm non tại xã Bình Thanh và xã Hồng Tiến của huyện Kiến Xương, tỉnh
Thái Bình.
- Bước đầu nghiên cứu mối liên quan giữa một số chỉ số nghiên cứuở
trẻ em lứa tuổi mầm non.
- Kết quả trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho hướng
nghiên cứu về thể lực, sinh lý, trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non, cung cấp dẫn
liệu cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và là dẫn liệu cho công tác nuôi
dạy trẻ em mầm non được tốt hơn.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát các giai đoạn phát triển của trẻ em lứa tuổi mầm non
Mỗi giai đoạn phát triển cá thể của con người có những đặc điểm riờng về mặt
cấu tạo và chức năng. Chính các đặc điểm này đã xác định sự khác nhau trong quá

người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số pignet, BMI [36], [42],
[66].
Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các
lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học. Chiều cao của mỗi người được quyết định
bởi đặc điểm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện
sống[2], [10], [12], [36], [42], [48], [63], [74].
Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong
những năm đầu. Chiều cao của các em tăng trung bình 7cm/ năm ở giai đoạn từ 1
đến 3 tuổi, và tăng trung bình 6 cm/ năm từ 3 đến 6 tuổi [4], [7], [36].
Để theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ em, có thể áp dụng công thức
tính gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ em trên một tuổi [36], [72].
X (cm) = 75 + 5. n
Trong đó: X- chiều cao đứng (cm); n- số tuổi (năm); 75-
chiều cao trẻ 1 năm; 5- chiều cao tăng trung bỡnh/năm.
Cùng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng
để đánh giá sự phát triển của cơ thể. Cân nặng biểu thị mức độ và tỷ lệ giữa hấp
thụ với tiêu hao năng lượng của con người. So với chiều cao, cân nặng của cơ thể ít
phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn mà có liên quan chủ yếu tới điều kiện dinh
dưỡng [2], [12], [19], [27], [48]

Thông thường ở cùng một lứa tuổi, những trẻ em cao hơn thường nặng cân
hơn. Trong vòng ba năm đầu, khối lượng cơ thể của các em tăng rất nhanh. Từ 3
đến 6 tuổi, khối lượng cơ thể của các em tăng chậm hơn, tăng trung bình 1, 5
kg/năm, nhưng tốc độ tăng tương đối đồng đều [4], [36].
Cân nặng của trẻ emtrên một tuổi có thể tính gần đúng như sau:
X (kg) = 9 + 1, 5 (n - 1)hay X = 9, 5 + 2(n -1)
Trong đó:X- cân nặng của trẻ trên một tuổi (kg); 9- cân nặng của
trẻ lúc một tuổi (kg); n - số tuổi của trẻ (năm).
Vòng ngực và vòng đầu của trẻ em cũng là những chỉ số có ý nghĩa
khi đánh giá sự phát triển cơ thể. Vòng ngực và vòng đầu của trẻ em đều tăng

Số lần thở trong một phút gọi là tần số thở. Tần số thở phụ thuộc vào
kích thước của cơ thể, lứa tuổi, trạng thái tâm sinh lý và khí hậu [36], [62]. Tần số
thở của trẻ em giảm dần theo tuổi. Một số tài liệu cho thấy, lúc 1 tuổi tần số thở
của trẻ là 30 - 35 nhịp/phỳt, giảm xuống còn 25 - 30 nhịp/ phút lúc 3 tuổi và 20 -25
nhịp/ phút lúc 6 tuổi [3], [4], [18], [36], [52]. Tần số thở của trẻ em vào mùa hè cao
hơn vào mùa đông khoảng 2 - 6 nhịp/phút. Do trung khu hụ hấp chưa phát triển
hoàn chỉnh nên tần số thở của trẻ em hay bị rối loạn, có lúc thở nhanh, có lúc thở
chậm, lúc thở nông, lúc thở sâu. Tần số thở của trẻ em cao hơn của người lớn.
Dưới 2 tuổi, trẻ em nam thở nhanh hơn trẻ em nữ [36], [52].
1.3. Đặc điểm về trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non
Trí tuệ là khả năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người. Theo
tiếng Latinh, trí tuệ (Intellectus) có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ [51]. Theo từ điển

tiếng Việt [73], trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất
định. Tựu chung lại có ba khuynh hướng chính quan niệm về trí tuệ [51].
Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực
học tập của cá nhân. B.G. Ananhev cho rằng, trí tuệ là một đặc điểm tâm lý phức
tạp của con người mà kết quả của công việc và học tập phụ thuộc vào nú. Theo J.
Huarte, thì trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và
sáng tạo (theo [60]). Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu
tượng. Terman cho rằng, chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các khái
niệm. Menchins kaia lại coi đặc trưng của trí tuệ là sự tích luỹ các tri thức và các
thao tác trí tuệ [31], (theo [60]). Khuynh hướng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích
ứng. Đại diện cho khuynh hướng này là R. Stern (theo [60]). Ông coi trí tuệ là
năng lực thích ứng chung của con người với điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời
sống. Theo ông, trí tuệ là năng lực suy luận và khả năng sáng tạo trên cơ sở kết hợp
những kinh nghiệm khác nhau để giải quyết vấn đề mới.
Ngoài ra, còn có nhiều thuật ngữ khác dùng để mô tả năng lực trí tuệ như:
trí khôn, trí lực, trí thông minh, trí năng… nhưng chúng đều xuất phát từ chữ tiếng
Anh là intelligence [11], [26]. Rõ ràng là không có một khái niệm nào chứa đựng

những năm 1954 và 1956, test Raven đã được UNESCO công nhận và chính thức
đưa vào sử dụng để chẩn đoán trí tuệ con người từ những năm 1960 [76].

Trí tuệ của mỗi người đều là sự kết hợp hữu cơ của trí tuệ ngôn ngữ, tư duy
vận động thân thể, tư duy logic toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ
giao tiếp Trí tuệ của trẻ em lứa tuổi mầm non cũng không nằm ngoài quy luật đó
[79].
Đặc điểm chủ yếu về tư duy của trẻ em từ 12 - 18 tháng tuổi là tư duy được
thực hiện qua các thao tác. Bằng cách tác động trực tiếp với đồ vật, trẻ dần tìm ra
được các thuộc tính đơn giản của đồ vật. Từ 2 - 3 tuổi, song song với sự phát triển
về thể chất, sự tập trung của trẻ cũng phát triển nhanh. Ba tuổi, trẻ đã có khả năng
tổng hợp các tính chất của vật thể mà trẻ nắm được, đồng thời có thể sử dụng các
vật thể đó để thực hiện các trò chơi theo trí tưởng tượng [79].
Từ 4 - 5 tuổi, trẻ đã có thể tìm ra đặc điểm, thuộc tính của đồ vật bằng những
phép thử, phép so sánh trong óc. Trẻ còn biết sử dụng các hệ thống kí hiệu khác
nhau, như kí hiệu về đồ vật, hành động, kí hiệu về con người. Trẻ cũng có thể xếp
các đồ vật từ nhỏ nhất đến to nhất, ngắn nhất đến dài nhất…Sỏu tuổi, ở trẻ đã hình
thành tư duy sơ đồ và tư duy logic. Từ việc học thông qua quan sát và kinh
nghiệm, trẻ đã có thể chuyển sang học bằng ngôn ngữ và logic. Trẻ có khái niệm
về thời gian và các ngày trong tuần, khái niệm về con số, không gian, hình dáng,
mầu sắc. Tuy nhiên, khả năng chú ý của trẻ 6 tuổi vẫn là chú ý ngắn hạn, trong
khoảng 15 phút là nhiều nhất [79].
Một trong các điều kiện cần thiết để phát huy trí tuệ là khả năng ghi nhớ.
Có nhiều cách hiểu về trí nhớ. Theo nhiều tác giả, nhớ là sự tiếp nhận,gìn giữ và tái
hiện những sự vật, hiện tượng mà con người đã cảm giác,đã suy nghĩ, tưởng tượng
ra. Trí nhớ phản ánh những sự vật, những hiện tượng trước đây đó tác động vào cơ
thể mà hiện tại không cần sự tác động đó nữa [32], [33], [36]. Trí nhớ được xem
như là một bước chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lí tính vì trong
quá trình nhớ, não đã thực hiện việc


1.4. Những nghiên cứu về các chỉ số thể lực và trí tuệ
1.4.1. Những nghiên cứu về các chỉ số thể lực
Năm 1919, nhà nhân trắc học người Đức, Rudoll Martin đã đề xuất một
hệ thống các dụng cụ và phương pháp đo để xác định kích thước của cơ thể. Từ đó
đến nay, phương pháp Martin tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện về cả lý thuyết và
thực tiễn (theo [20]).
Năm 1964, trong cuốn “Nhân trắc học”, F.Vaneler Rael đã đưa ra những nhận
xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp
và xây dựng thang phân loại thể lực của con người theo các chỉ số đánh giá thể lực
(theo [28]).
Tại hội nghị lần thứ bảy toàn Liên Xô về vấn đề sinh thái, sinh lý và hình thái
lứa tuổi, B.A.Nhikitic và V.P.Tresov đã công bố sơ đồ phát triển cá thể sau khi sinh
của con người. Sơ đồ cho biết khá chi tiết về sự tăng trưởng phát triển của con
người ở mỗi giai đoạn và đã được áp dụng rộng rói trong nhân trắc học, giáo dục
học, nhi khoa (theo [28]).
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu đầu tiên về thể lực con
người là của một số tác giả Mondiere (1875), Huard, Bogot(1938) và Đỗ Xuân
Hợp (1943) (theo [42]). Sau năm 1954, đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu
các đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam. Năm 1975, cuốn
“Hằng số sinh học của người Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên
được xuất bản. Đây là một công trìnhkhá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh
lý, sinh húa của người Việt Nam [68]. Năm 1976 - 1980, Vũ Thị Chín nghiên cứu
về các chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý của trẻ em từ 0 đến 3 tuổi và đã xây dựng
được biểu đồ phát triển về chiều cao, cân nặng của trẻ [5].

Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cộng sự (cs) [74] nghiên cứu một số chỉ
số sinh học của người Việt Nam từ 3 đến 110 tuổi. Phân tích kết quả nghiên cứu,
các tác giả nhận thấy chiều cao và cân nặng trung bình của người Việt Nam thấp
hơn của người Âu, Mỹ ở mọi lứa tuổi.
Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [10] đã nghiên cứu chiều

khác nhau, từ 1 đến 6 tuổi.
Bình Thanh và Hồng Tiến là hai xã thuần nông nên đời sống kinh tế của người
dân còn khó khăn. Sự đầu tư cho chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em còn hạn chế.
Phần lớn trẻ em ở diện nghiên cứu đi học ở trường mầm non. Điều kiện phục vụ
cho học tập, sinh hoạt, vui chơi của trẻ chưa tốt như ở thành phố, thị trấn. Nhưng
nhà trường thực hiện đúng chế độ sinh hoạt quy định trong một ngày của trẻ, kiến
thức chăm sóc bà mẹ và trẻ em của người dân cũng dần được nâng cao, nên đã có
tác động tốt đến sự phát triển của trẻ.
Đối tượng được nghiên cứu ở trạng thái khoẻ mạnh, không có dị tật về hình
thể hoặc các bệnh mạn tính. Tuổi của các đối tượng nghiên cứu được tính theo quy
ước chung của tổ chức Y tế thế giới (theo [9]).
Tổng số đối tượng được nghiên cứu là 781 trẻ em, trong đó có 394 trẻ em
nam và 387 trẻ em nữ. Phân bố các đối tượng được nghiên cứu theo tuổi
và theogiới tính được thể hiện qua bảng 2.1.
Bảng 2.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu
Tuổi
Đối tượng nghiên cứu
Tổng số Hồng Tiến Bình Thanh
Chung Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
1 126 63 63 31 32 32 31
2 134 67 67 34 34 33 33

chấp nhận dù sai. Nếu trẻ chọn hình khác, trắc nghiệm viên hỏi trẻ hình mới chọn
cũng đúng à? Nếu trẻ nói là đúng thì trắc nghiệm viên chấp nhận. Nếu trẻ vẫn còn
do dự, trắc nghiệm viên hỏi trẻ hình nào mới đúng, và ghi lại kết quả trẻ đã
chọn.Với các bài khác, trắc nghiệm viên không hỏi đúng sai, chỉ nhắc trẻ mỗi
bàichỉ có đúng một hình phù hợp, trẻ cần chọn kỹ.
Trắc nghiệm viên ghi lại kết quả ở mỗi bài của trẻ, rồi chấm điểm theo
khoá điểm của test Ravenmàu. Căn cứ vào điểm test Raven, chỉ số IQ được tính
theo công thức của D. Wechsler. Trên cơ sở chỉ số IQ, đối chiếu với tiêu chuẩn

Kết quả so sánh cân nặng của trẻ em lứa tuổi mầm non từ 1 - 6 tuổi theo
tuổi và giới tính được thể hiện qua bảng 3. 6 và hình 3. 7, 3.8.
Bảng 3.6. Cân nặng của trẻ em theo tuổi và giới tính

Tuổi
Chỉ số pignet
1
-
2
p (1-2)
Nam (1) Nữ (2)
n
± SD
Tăng n
± SD
Tăng
1 63 20, 14 ± 0, 82 - 63 20, 41 ± 0, 83 - - 0, 27 >0, 05
2 67 24, 94 ± 1, 14 4, 80 67 24, 99 ± 1, 50 4, 58 - 0, 05 >0, 05
3 67 29, 00 ± 1, 57 4, 06 70 29, 36 ± 1, 05 4, 37 - 0, 36 >0, 05
4 68 32, 84 ± 1, 09 3, 84 60 32, 89 ± 1, 10 3, 53 - 0, 05 >0, 05
5 68 36, 51 ± 1, 18 3, 67 66 36, 92 ± 1, 40 4, 03 - 0, 41 >0, 05
6 61 39, 57 ± 1, 42 3, 06 61 39, 81 ± 1, 36 2, 89 - 0, 24 >0, 05
Tăng trung bình 3, 89 3, 88
Số liệu ở bảng 3. 13 cho thấy, từ 1 đến 6 tuổi, chỉ số pignet của trẻ em
tăng dần. Cụ thể là chỉ số pignet của trẻ em nam tăng từ 20, 14 ± 0, 82lúc 1 tuổi
lên 39, 57 ± 1, 42 lúc 6 tuổi, tăng thêm 19,43. Chỉ số pignet
của trẻ em nữ tăng từ20, 41 ± 0, 83lúc 1 tuổi lên 39, 81 ± 1, 36 lúc 6 tuổi, tăng
thêm 19, 40.
Mỗi năm, chỉ số pignet của trẻ em nam tăng trung bình 3, 89. Chỉ số
pignetcủa em trẻ nữ tăng trung bình 3, 88. Điều này cho thấy, từ 1 - 6 tuổi, tốc độ

<0, 05
3 6 122
5, 80 ± 1, 35
3 - 1 1, 67 <0, 05
Chung 384 5, 05 ± 1, 42
Tăng trung bình/ năm 0, 84Hìn
h 3.37. Mối tương quan giữa chỉ số IQ với chỉ số pignet của trẻ em
Giữa chỉ số IQ và BMIcủa trẻ em có hệ số tương quan là r = 0,0981, thể
hiện mối tương quan thuận (r > 0), rất lỏng lẻo (0 <| r | ≤ 0,2) và không có ý nghĩa
thống kê (p>0,05). Như vậy, những trẻ em có chỉ số IQ cao hơn thì có BMI thấp
hơn nghĩa là những trẻ em có dinh dưỡng tốt hơn thì trí tuệ cũng phát triển tốt
hơn,nhưng điều này chỉ đúng với một số trường hợp.
Hìn
h 3.38. Mối tương quan giữa chỉ số IQ với BMI của trẻ em

So sánh với số liệu trong cuốn “Cỏc giá trị sinh học người Việt Nam bình
thường thập kỷ 90, thế kỷ XX” [69], với kết quả của Vương Thị Hũa [20], của
Nguyễn Thị Mậu [48], của Hàn Nguyệt Kim Chi và cs [4], thì vòng đầu của trẻ em
trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn ở một số độ tuổi, còn ở một số độ tuổi
khác thì không khác đáng kể. So với số liệu trong cuốn “Hằng số sinh học của
người Việt Nam” [68], kết quả nghiên cứu của Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [10],
thì vòng đầu của trẻ em trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn ở nhiều độ tuổi
(phụ lục 4). Sự khác nhau này có thể giải thích bởi sự khác nhau về đối tượng
nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu…
Từ các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực có thể tính thêm được
chỉ số pinet và BMI đều có ý nghĩa khi đánh giá thể lực. Trong đó, chỉ số pignet là
chỉ số tổng hợp thể hiện mối tương quan của ba chỉ số chiều cao, cân nặng và vòng

ý nghĩa thống kê (p>0,05).KIẾN NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu ở trên, chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến sau.
- Các chỉ số thể lực và trí tuệ của con người nói chung, của trẻ em nói
riêng có thể thay đổi, phụ thuộc vào điều kiện sống, địa bàn nghiên cứu, thời gian
nghiên cứu Do đó các chỉ số này cần được tiến hành nghiên cứu thường xuyên
với thời gian định kỳ nhất định, góp phần xây dựng các chỉ số sinh học người Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, cũng như bổ sung số liệu cho hướng nghiên cứu về
hình thái thể lực, trí tuệ của trẻ em, đồng thời là dẫn liệu cho quá trình giảng dạy,
nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học sư phạm mầm
non và là dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em mầm non được tốt hơn.
- Trong quá trình giáo dục trẻ em cần sử dụng các biểu tượng trực quan để
làm tăng khả năng ghi nhớ của trẻ. I. Tài liệu tiếng Việt

vấn đề nghiên cứu về phân bổ, sử dụng đào tạo và điều kiện
lao động nữ, Trung tâm Nghiên cứu khoa học Phụ nữ - Uỷ
ban Khoa học xã hội Việt Nam.
3. Lê Thị Minh Hà (2000), “Một số quan điểm về trí nhớ”, Tạp
chí Nghiên cứu giáo dục, (11), tr. 15 - 16.
4. Lê Minh Hà (2003), Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và
thể lực của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, Luận án Tiến sĩ Tâm lý
học, tr. 10 - 39.
5. Phạm Minh Hạc (2003), Tuyển tập tâm lý học, Nxb Giáo
dục, tr. 21 - 31, 621 -626.
6. Nguyễn Kế Hào (1991), “Khả năng phát triển trí tuệ của trẻ
em Việt Nam”,Nghiên cứu giáo dục, (10), tr. 2-3, 10.
7. Nguyễn Thị Thỳy Hằng (1995), “Nghiờn cứu các chỉ số sinh
học lứa tuổi mẫu giáo thành phố Huế”, Thông báo khoa
học Đại học Y khoa Huế.
8. Nguyễn Thị Thỳy Hằng (2006), “Khảo sát sự biến đổi huyết
áp, tần số tim, điện tim qua nghiệm pháp gắng sức trên các vận
động viên trình độ cao", Tạp chíSinh lý học.
9. Châu Hữu Hầu, Huỳnh Văn Nên (1995), “Cỏc yếu tố ảnh
hưởng đến suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi”, Kỷ yếu công
trình nghiên cứu khoa học, Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em.

1. Nguyễn Đoàn Hồng (1995), Một số số liệu về thể tích hụ
hấp, Thông báo khoa học Đại học Y khoa Hà Nội, (3).
2. Mai Văn Hưng (2003), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học
và năng lực trí tuệ của sinh viên ở một số trường học phía
Bắc, Luận án Tiến sĩ Sinh học,Đại học Sư phạm Hà Nội.
3. Mai Văn Hưng (2001), “Một số chỉ tiêu về hình thái thể lực
của học sinh trường Trung học Sư phạm Thanh Húa”, Tạp
chí Khoa học Sư phạm, (6), tr. 127 -131.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status