Nghiên cứu một số kích thước hình thái và trí tuệ của học sinh trường Trung học phổ thông Yên Lạc 1, Huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN THỊ THƠM
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KÍCH THƯỚC HÌNH THÁI VÀ
TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG YÊN LẠC 1, HUYỆN YÊN LẠC,
TỈNH VĨNH PHÚC LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Văn Hưng
HÀ NỘI, 2013

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo
tận tình về mọi mặt của PGS.TS Mai Văn Hưng. Em vô cùng biết ơn và chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó của thầy.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn sinh lý người và
động vật, khoa sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Ban giám hiệu, phòng Sau đại
học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em
học sinh trường THPT Yên Lạc 1, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Tôi xin
chân thành cảm ơn tất cả bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia
đình đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, tháng 07 năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Thơm


1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Những đóng góp mới của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Chỉ số kích thước hình thái 4
1.2. Trí tuệ 8
1.3. Trạng thái cảm xúc 15
1.4. Kiểu hình thần kinh 19
1.5. Trí nhớ 23
1.6. Khả năng chú ý 26
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Đối tượng nghiên cứu 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái 29
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trí tuệ 31
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu trạng thái cảm xúc 32
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu kiểu hình thần kinh 33
2.2.5. Phương pháp nghiên cứu trí nhớ 34
2.2.6. Phương pháp nghiên cứu khả năng chú ý 35
2.3. Phương pháp xử lý số liệu 36
2.3.1. Xử lý thô 36
2.3.2. Xử lý thống kê 36
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 38
3.1. Một số chỉ số hình thái cơ bản của học sinh THPT 38
3.1.1. Chiều cao đứng của học sinh 38
3.1.2. Cân nặng 39

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
Kết luận 72
Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CHỮ VIẾT TẮT

ĐƯỢC ĐỌC LÀ
BMI Body mass index
cs Cộng sự
EQ Trạng thái cảm xúc
IQ (Chỉ số thông minh) Intelligence Quotient

Nxb Nhà xuất bản
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
Tr Trang
TCN Trước công nguyên
WHO World Health Organization DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu 29
Bảng 2.2. Phân loại thể lực theo chỉ số pignet 30
Bảng 2.3. BMI theo cách phân loại của tổ chức Y tế thế giới (WHO),
1995 31
Bảng 2.4. Mức trí tuệ theo chỉ số IQ. 32

tính 40
Hình 3.3. Biểu đồ về vòng ngực trung bình của học sinh theo lớp tuổi và
theo giới tính. 41
Hình 3.4. Biểu đồ chỉ số pignet của học sinh theo lớp tuổi và theo giới
tính 43
Hình 3.5. Biểu đồ BMI của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính 44
Hình 3.6. Biểu đồ chỉ số IQ trung bình của học sinh theo lớp tuổi và theo
giới tính 46
Hình 3.7(a). Đồ thị biểu diễn sự phân bố học sinh nam theo mức trí tuệ
và theo lớp tuổi 48
Hình 3.7(b). Đồ thị biểu diễn sự phân bố học sinh nữ theo mức trí tuệ và
theo lớp tuổi. 48
Hình 3.7(c). Đồ thị biểu diễn sự phân bố học sinh theo mức trí tuệ và
theo giới tính. 49
Hình 3.8. Biểu đồ trạng thái cảm xúc chung của học sinh theo lớp tuổi
và theo giới tính. 53
Hình 3.9. Biểu đồ các chỉ tiêu về trạng thái cảm xúc của học sinh theo
lớp tuổi và theo giới tính. 55
Hình 3.10. Biểu đồ kiểu hình thần kinh hướng ngoại của học sinh theo
lớp tuổi và theo giới tính. 57
Hình 3.11. Biểu đồ kiểu hình thần kinh hướng nội của học sinh theo lớp
tuổi và theo giới tính. 58
Hình 3.12. Biểu đồ trí nhớ thị giác của học sinh theo lớp tuổi và theo
giới tính 60
Hình 3.13. Biểu đồ trí nhớ thính giác của học sinh theo lớp tuổi và theo
giới tính 61
Hình 3.14. Biểu đồ so sánh trí nhớ thị giác- trí nhớ thính giác của học
sinh theo giới tính 63
Hình 3.15. Biểu đồ độ tập trung chú ý của học sinh theo lớp tuổi và theo
giới tính 64

Nghiên cứu trí tuệ và các chỉ số sinh học của con người là một nội dung rất
quan trọng, giúp chúng ta có thể nhận biết sớm những tài năng tương lai của
đất nước, đồng thời xác định được mối quan hệ giữa các chỉ số của cơ thể với
sự phát triển trí tuệ. Điều đó góp phần vào việc hoạch định chiến lược, xác
định và lựa chọn các phương pháp, biện pháp giáo dục đạt hiệu quả cao.
Sự phát triển và tăng trưởng của học sinh theo lứa tuổi, giới tính trong
mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác nhau về các chỉ số sinh học và trí tuệ.
Thông thường cứ sau 10 năm các nghiên cứu trên con người lại cho thấy các
chỉ số về hình thái, sinh lí của con người có những thay đổi liên quan với điều
kiện sống, tình hình kinh tế xã hội. Do đó, việc đánh giá đúng các chỉ số sinh
học và trí tuệ của học sinh ở các lứa tuổi cần tiến hành thường xuyên, theo
định kì. Chính vì vậy, các chỉ số này ở học sinh cũng phần nào phản ánh được
sự phát triển của đất nước và từng khu vực.
Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh
học và năng lực trí tuệ trên đối tượng học sinh. Tuy nhiên, các công trình
2

nghiên cứu trên học sinh của trường trung học phổ thông Yên Lạc 1, huyện
Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc còn ít.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số kích thước hình thái và trí tuệ của học sinh trường
trung học phổ thông Yên Lạc 1, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định thực trạng sự phát triển một số chỉ số hình thái (chiều cao,
cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, BMI) của học sinh trường
trung học phổ thông Yên Lạc 1, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh phúc.
- Xác định các chỉ số trí tuệ của học sinh trường trung học phổ thông
Yên Lạc 1, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh phúc (chỉ số IQ, kiểu hình thần kinh, trí
nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý, chỉ số cảm xúc - EQ).
- Đánh giá mối tương quan giữa IQ với các chỉ số nghiên cứu khác.

Là đề tài đầu tiên xác định được một số chỉ số hình thái và trí tuệ của
học sinh trường THPT Yên Lạc 1, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai
đoạn hiện nay. Các số liệu trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số
liệu cho hướng nghiên cứu về các chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh ở giai
đoạn 16 – 18 tuổi và có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong các nghiên cứu
và giảng dạy ở trường THPT.
Nghiên cứu được mối tương quan giữa các chỉ số nghiên cứu của học
sinh trong giai đoạn 16 – 18 tuổi. 4

NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Chỉ số kích thước hình thái
Chỉ số hình thái là một trong số các chỉ tiêu được rất nhiều nhà nhân
trắc học cũng như các nhà sinh lý học quan tâm. Trong đó, chiều cao, cân
nặng, vòng ngực là những chỉ số sinh học được lựa chọn sớm nhất. Các chỉ số
này được dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng, phát triển và
khả năng học tập, lao động của con người, cũng như tốc độ tăng trưởng, đặc
điểm di truyền của mỗi dân tộc và từng người từ khi sinh ra đến khi chết [67].
Chiều cao đứng của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong
hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học trước cả giai đoạn hình thành
khoa học nhân trắc. Chiều cao là một chỉ tiêu quan trọng trong công tác tuyển
chọn vào các ngành nghề như: thể dục thể thao, quân đội, hoa hậu, việc
làm,…[24].

người Việt Nam.
Năm 2003, cuốn “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ
90 - thế kỷ XX” được xuất bản do Lê Ngọc Trọng làm chủ biên [68]. Hai cuốn
sách trên đã được dùng làm tài liệu tham khảo cho nhiều công trình khoa học
trong và ngoài nước.
Sau năm 1975, việc nghiên cứu thể lực của trẻ em được nhiều tác giả
thực hiện. Nguyễn Khải và Phạm Văn Nguyên (1978) nghiên cứu về tình hình
thể lực của học sinh từ 6 đến 18 tuổi ở thành phố Huế [31]. Thẩm Thị Hoàng
Điệp (1992) bằng phương pháp nghiên cứu dọc đối với 13 chỉ số nhân trắc
học của học sinh Hà Nội từ 6-17 tuổi đã đưa ra những kết lận rất đáng chú ý
6

về đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh [15]. Đào Huy Khuê (1991)
trong luận án “Nghiên cứu đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng
trưởng và phát triển cơ thể học sinh phổ thông từ 6 đến 17 tuổi ở Hà Nội” đã
đưa ra những kết luận đáng chú ý về đặc điểm hình thái thể lực của học sinh
THCS ở Hà Nội [33].
Năm 1994, Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương và cộng sự [57] đã
nghiên cứu một số chỉ tiêu nhân trắc của cư dân trưởng thành (từ 16 tuổi trở
lên tại phường Thượng Đình và xã Định Công - Hà Nội) gồm 595 nam và 841
nữ. Kết quả cho thấy về chiều cao trong mỗi giới đều có xu hướng tăng trong
đó nam cao hơn nữ rõ rệt ở mọi lứa tuổi. Tương tự, với chỉ số cân nặng, nam
cũng tăng hơn nữ ở mọi lứa tuổi. Vòng ngực trung bình nam cũng cao hơn nữ,
chứng tỏ sức mạnh về thể lực. Các chỉ số BMI, pignet của nữ tốt hơn nam (do
lợi thế về dinh dưỡng cộng với chiều cao thấp).
Năm 1991-1995, nhóm các tác giả Trần Văn Dần và cs [13] đã nghiên
cứu các chỉ số kích thước của cơ thể của học sinh ở một số tỉnh, thành phố như
Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình. Tác giả nhận thấy, so với dẫn liệu trong cuốn “
Hằng số sinh học người Việt Nam” thì sự phát triển chiều cao của trẻ từ 6 - 16
tuổi tốt hơn, đặc biệt ở trẻ em thị xã, thành phố, còn ở các khu vực nông thôn

1759 - 1777, 6 tháng ông đo một lần trong 18 năm liên tục. Đây là một
phương pháp nghiên cứu tốt được áp dụng cho đến ngày nay [68]. Ngoài ra,
còn có nhiều công trình khác của Carlschule (Đức), Bowditch (Mỹ), Paul
Godin (Pháp)… đến năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trưởng học ra đời có ý
nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [29].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học
sinh phổ thông khá phong phú. Mặc dù các công trình nghiên cứu có chênh
lệch không nhiều nhưng đều có sự khác biệt rõ rệt ở từng lứa tuổi, theo giới
8

tính và thay đổi theo từng vùng miền, từng nhóm dân tộc khác nhau. Mốc
đánh dấu sự thay đổi “nhảy vọt” của các chỉ tiêu nghiên cứu trong quá trình
phát triển cơ thể trong các công trình là tương đối đồng nhất, chiều cao tăng
nhanh nhất khoảng 13-15 tuổi ở nam và 10-12 tuổi ở nữ, cân nặng cũng tăng
nhanh nhất từ 13-15 tuổi ở nam và 11-13 tuổi ở nữ. Ở các vùng sinh thái khác
nhau trong các điều kiện nuôi dưỡng giáo dục khác nhau thì các chỉ số hình
thái của trẻ em cũng không giống nhau.
1.2. Trí tuệ
Trí tuệ là một khả năng rất quan trọng trong hoạt động của con người,
có liên quan đến cả thể chất và tình thần của họ. Hoạt động trí tuệ được biểu
hiện ra nhiều mặt, liên quan đến nhiều hiện tượng tâm, sinh lí và là đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như sinh học, tâm lý học,
giáo dục học, triết học, y học, xã hội học… Theo từ điển tiếng Việt [72], trí
tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định. Trí tuệ là khả
năng hoạt động trí óc đặc trưng của con người [35], [60]. Ngoài ra còn có
nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để mô tả năng lực trí tuệ như: trí khôn, trí
lực, trí thông minh, nhưng chúng đều xuất phát từ tiếng Anh intelligence
[19], [20]
Trí khôn được coi là trí thông minh dưới góc độ học tập và giải quyết
những vấn đề thực tiễn. Theo Claparede và Stern, trí khôn là một sự thích

duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và trừu tượng hóa [76].
Kiểu định nghĩa thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích ứng. Đây là kiểu
định nghĩa phổ biến và được chấp nhận nhiều nhất. D.Wechsler, nhà tâm lý
học Hoa Kì nổi tiếng, cho rằng, trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, được
thể hiện trong các hoạt động có mục đích, trong sự phán đoán và thông hiểu
một cách đúng đắn, trong việc làm cho môi trường thích nghi với khả năng
của mình.
10

J.Piaget cho rằng, bản chất của trí tuệ bộc lộ trong cấu tạo của những
mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể [19], [66], [69], [70], [74]. H.Garden
lại coi trí tuệ gồm nhiều năng lực thích ứng khác nhau và mỗi kiểu trí tuệ
được phát triển đến một mức độ nhất định trong mỗi người [19]. Theo
F.Raynal, A.Rieunier, trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề,
nhanh chóng thích nghi với tình huống mới [73].
Cả 3 khuynh hướng trên không loại trừ nhau mà song song tồn tại. Mỗi
quan điểm đều xuất phát từ một dấu hiệu nào đó của trí tuệ mà họ cho là quan
trọng nhất. Ngoài khái niệm trí tuệ ra còn nhiều thuật ngữ liên quan tới nó
như: trí khôn, trí thông minh, trí lực, trí năng…Tuy nhiên, mỗi thuật ngữ được
dùng trong những hoàn cảnh nhất định và có ý nghĩa sắc thái riêng. Rõ ràng là
không có một khái niệm nào chứa đựng hết bản chất của các hiện tượng phức
tạp như trí tuệ.
Có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu các phương pháp khác nhau để
đánh giá trí tuệ. Phương pháp được nhiều người quan tâm là sử dụng trắc
nghiệm trí tuệ (Test trí tuệ). Nhờ có tính chuẩn hoá mà phương pháp trắc
nghiệm ngày càng được sử dụng rộng rãi.
Thuật ngữ "trắc nghiệm" hay “test” có nghĩa là "phép thử" hay "thử",
do nhà khoa học lỗi lạc người Anh Francis Galton đưa ra lần đầu tiên vào cuối
thế kỷ thứ XIX. Sau đó, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi. Galton cũng đã
tiến hành đo đạc trí tuệ nhưng những công trình nghiên cứu của ông quá ít ỏi.

SD


Trong đó:
X: là điểm trắc nghiệm cá nhân
X
: là điểm trắc nghiệm trung bình trong cùng một độ tuổi
SD: là độ lệch chuẩn.
12

Mỗi điểm trắc nghiệm sẽ có một giá trị IQ tương đương. Dựa vào hệ
thống trắc nghiệm nổi tiếng của Binet – Simon, các nhà khoa học đã đưa ra
hàng loạt các trắc nghiệm khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích đề ra ban đầu
(theo [48]).
Bên cạnh các loại trắc nghiệm trên, còn có các trắc nghiệm phổ biến
khác như test Denver của William K. Pranken Burg - Josiahb Dodds - Anma
W. Fandal dùng để đánh giá sự phát triển của trẻ em. Trắc nghiệm hình phức
hợp của Andre Rey, có thể dùng cho trẻ câm điếc. Test trí tuệ đa dạng của
Gille nhằm đánh giá năng lực trí tuệ và kiến thức, đồng thời tìm hiểu các thao
tác so sánh, phân loại nhận thức về số lượng, khối lượng, kích thước, không
gian, thời gian, Các trắc nghiệm của D.Wechsler gồm có: WPPIS dùng cho
trẻ từ 4 đến 6 tuổi, WISC dùng cho trẻ từ 6 đến 12 tuổi và WAIS dùng cho
người từ 10 đến 60 tuổi. Trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn chuẩn của J.C.
Raven. Trắc nghiệm năng lực trí tuệ của William Bernard - Jules Leopold
dùng để đánh giá khả năng học tập của con người [9], [27], [29] … Trong đó,
test Raven là trắc nghiệm được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất, được xây
dựng vào năm 1936 dựa trên thuyết "Tân phát sinh" của Spearman và thuyết
tri giác hình thể của Gestal [75].
Sau khi xuất bản, test Raven đã qua hai lần chuẩn hóa vào các năm
1954, 1956. Đến năm 1960, test Raven chính thức được UNESCO công nhận

Nam và sự phân bố theo điểm IQ của học sinh Việt Nam gần với so phân phối
chuẩn. Năng lực trí tuệ giữa học sinh nông thôn và học sinh thành thị có sự
khác biệt, trình độ phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam không thua kém
học sinh nước ngoài.
Ngô Công Hoàn (1991) [25] nghiên cứu trí tuệ của học sinh lớp thường
và lớp chuyên toán. Kết quả cho thấy, có sự chênh lệch về mức độ phát triển
trí tuệ giữa học sinh lớp thường và học sinh lớp chuyên.

Trích đoạn Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái Phương pháp nghiên cứu trí tuệ Kiểu hình thần kinh hướng nội Trí nhớ thị giác của học sinh chính xác chú ý của học sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status