tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển - Pdf 28

NGUYỄN ĐÌNH HOÈ - VŨ VĂN HIẾU TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG
NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG
VÀ PHÁT TRIỂN
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Giới thiệu chung Vài nét về lịch sử của Tiếp cận Hệ thống
Năm 1927 là một mốc thời gian quan trọng nhất trong lịch sử
tư duy hiện đại: đó là năm Einstein đưa ra lý thuyết Trường thống
nhất và nhóm khoa học Copenhagen công bố chính thức về lý
thuyết Cơ học lượng tử. Theo thuyết Cơ học lượng tử, thế giới
khách quan không gì khác hơn là sự chuyển động của các luật

2
Các hệ thống - ngược lại - là những tổng thể, chỉ có thể nhận
diện trên cơ sở phân tích liên ngành, đa ngành và gian ngành
Năm 1956 đánh dấu sự xuất hiện của tiếp cận hệ thống với
công trình của nhà sinh vật học người áo có tên là Ludwig von
Bertalanffy, “Học thuyết chung về hệ thống”.
“Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại
bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó” .
Học thuyết của Bertalanffy chỉ rõ cách thức đúng đắn mà con
người xây dựng khái niệm về thực tại xung quanh mình, đồng thời
cũng là một tiếp cận sắc sảo để giải quyết các vấn đề được đặt ra.
Tiếp cận hệ thống không chỉ sử dụng kiến thức chuyên sâu của một
ngành khoa học, mà còn sử dụng kiến thức đa ngành và liên ngành.
Ở đâu có sự đa dạng kiến thức khoa học được sử dụng chồng chập
trong cùng một hệ phương pháp để giải quyết cùng một vấn đề, ở
đó tiếp cận hệ thống được ứng dụng và phát triển.
Những lý do trên cho thấy tại sao tiếp cận hệ thống lại phát
triển mạnh khi nó gắn với lĩnh vực nghiên cứu môi trường và phát
triển - mảnh đất đa dạng đòi hỏi của các kiến thức liên ngành và đa
ngành. Công trình của Clayton và đồng nghiệp, 1997 [7] chính thức
mở đầu cho giai đoạn này vì nó cung cấp một bộ công cụ sắc sảo
dựa trên tiếp cận hệ thống cho phát triển bền vững.
• Những nền tảng khoa học - góp phần phát triển Tiếp cận
Hệ thống
Tiếp cận Hệ thống, nhiều trường hợp còn được gọi là Tư duy
Hệ thống, là một lĩnh vực mới mẻ và đang được hoàn thiện rất
nhanh do tính thực tiễn cao của nó. Tiếp cận Hệ thống không hình
thành một cách đơn độc. Một số thành tựu khoa học sau đó đã xuất
hiện góp phần cho "Học thuyết chung về hệ thống" của Bertalanffy
phát triển. Đó là lý thuyết Nhiễu loạn (chaos) và Hình học Gồ ghề

thập phân. Đó là những hình dạng lớn hơn một điểm nhưng nhỏ
hơn một đoạn, lớn hơn một đường nhưng nhỏ hơn một mặt, lớn hơn
một mặt nhưng nhỏ hơn một khối... Từ hình học gồ ghề, phát triển
thành lý thuyết về các hệ thống gồ ghề, đa chiều với số thứ nguyên

4
là số thập phân. Đó chính là hình ảnh của các hệ sản xuất. Chính
các hệ gồ ghề mới là dạng tồn tại thực tiễn và tạo ra sự đa dạng của
môi trường.
Các hệ thống gồ ghề nằm trong khoảng trung gian giữa thế
giới các nhiễu loạn không kiểm soát được và thế giới có trật tự thái
quá, cứng đọng của hình học Euclide. Thuật ngữ gồ ghề (fractal) do
Mandelbrot đề xuất lần đầu năm 1977, hơn 20 năm sau khi "Học
thuyết chung về hệ thống" ra đời. Chính nhờ lý thuyết của
Mandelbrot mà lý thuyết hệ thống từ mức độ chỉ áp dụng cho sinh
học và sinh thái học trở nên có khả năng áp dụng sang các hệ thống
đa chiều của xã hội. Ở đây chúng ta thấy một quy luật: không nhất
thiết các lý thuyết nền tảng phải xuất hiện toàn bộ trước một lĩnh
vực khoa học mới, chúng có thể xuất hiện sau để hoàn thiện thêm
cho lý thuyết khoa học mới này. Tuy nhiên, việc mở rộng lý thuyết
hệ thống sang lĩnh vực xã hội (môi trường và phát triển) còn phải
chờ đợi thêm sự xuất hiện của một hệ phương pháp nữa, đó là hệ
phương pháp kiến tạo chỉ số.
Thập niên 1990 được đánh dấu bằng sự xuất hiện các chỉ số
đo lường sự tiến bộ xã hội của Chương trình Phát triển Liên Hợp
Quốc UNDP. Đó là các chỉ số như HDI (chỉ số phát triển nhân
văn), HPI (chỉ số nghèo nhân văn), CPM (độ đo nghèo tiềm năng),
GDI (chỉ số phát triển giới) v.v... Đây là một hệ phương pháp xác
định gần đúng chất lượng của các hệ thống xã hội bằng một số tối
thiểu chỉ số định lượng, được đo đạc thông qua một số ít tiêu chí

Đáng chú ý có các tài liệu về tư duy hệ thống của ứng dụng lý
thuyết hệ thống vào quản trị doanh nghiệp [12, 19].
Như vậy, những năm đầu thế kỷ 21 đánh dấu bước phát triển
ứng dụng ồ ạt của tiếp cận hệ thống vào các hệ sản xuất, vào nghiên
cứu phát triển. Mỗi bước phát triển đòi hỏi lý thuyết hệ thống phải
được hoàn thiện thêm và ngày càng được các nhà khoa học, các nhà
quản lý tài nguyên, môi trường và các hệ sản xuất chú ý rộng rãi.
• Cấu trúc của giáo trình
Giáo trình được cấu trúc thành 4 chương

6
Chương 1 - Đại cương về hệ thống, trình bày khái niệm về hệ
thống và tính các chất chung của hệ thống. Người đọc cần nắm
vững những khái niệm cơ bản ở chương này để có thể đi tiếp vào
những chương tiếp theo. Trên đại dương mênh mông của các khoa
học phân tích, chia nhỏ và xây dựng luận đề xung quanh các định
luật tất định, các khái niệm hệ thống lý giải cái tổng thể, cái nhiễu
loạn... sẽ trở thành một thách thức với người đọc, bởi vì "tư duy hệ
thống là tư duy phi truyền thống dành cho những độc giả phi truyền
thống" (Gharajed8ghi. 2005 [12]).
Chương 2 - Đại cương về Tiếp cận Hệ thống, trình bày những
định hướng chung của tiếp cận hệ thống như là một cách nhìn nhận
thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc, động lực của chúng. Các
cách tiếp cận mềm và cứng, mô hình và mô phỏng, những rủi ro và
những điểm cần lưu ý khi sử dụng tiếp cận hệ thống . . . được trình
bày ở chương này.
Chương 3 - Một số công cụ của Tiếp cận Hệ thống trong
nghiên cứu môi truvng và phát triển. Đây là chương quan trọng
nhất của giáo trình, cung cấp cho người đọc các công cụ có thể áp
dụng vào nghiên cứu các hệ thống khác nhau trong lĩnh vực có con


8
Chương 1
Đại Cương về hệ thống
1.1. Định nghĩa
“Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương
tác giữa các tổ phần tạo nên nó” (L.v.Bertalallffy, 1956).
Các yếu tố của một hệ thống thường tham gia vào nhiều hệ
thống khác. Điều này đòi hỏi mỗi một thành tố phải thực hiện tết
vai trò của mỗi hệ thống mà nó đóng vai.
Tiếp cận hệ thống không hoàn toàn đồng nghĩa với phương
pháp phân tích hệ thống vì ngoài phần phương pháp (còn đang
được phát triển và hoàn thiện), tiếp cận hệ thống còn đề cập đến
vấn đề về lý thuyết hệ thống cũng như phương hướng ứng dụng lý
thuyết này trong thực tiễn.
1.2. Các đặc tính và chức năng của hệ thống
Tiếp cận hệ thống nhấn mạnh vào việc xác định và mô tả mối
liên kết giữa các yếu tố cấu tạo nên hệ thống và tương tác giữa
chúng.
Một hệ thống là một tập hợp các thành tố tương tác với
nhau. Sự thay đổi một thành tố sẽ dẫn đến sự thay đổi một thành
tố khác, từ đó dẫn đến thay đổi thành tố thứ ba... Bất cứ một
tương tác nào trong hệ thống cũng vừa có tính nguyên nhân, vừa có
tính điều khiển. Rất nhiều tương tác có thể liên kết với nhau thành
chuỗi tương tác nguyên nhân - kết quả.
1.2.1. Chức năng của hệ thống



10
chất có ở một cấp hệ thống mà không có ở các hệ thống cấp thấp
hơn nó hoặc các thành tố tạo ra hệ thống, ví dụ chiếc đồng hồ có
thể chỉ giờ chính xác trong khi từng bộ phận của nó không có khả
năng này.
1.2.4. Tính kiểm soát thứ bậc
Thứ bậc là các cấp độ phức tạp của một hệ thống. Một hệ
thống luôn luôn được tạo thành từ các hệ thống con (bậc dưới), và
chính nó lại là thành tố của một hệ thống lớn hơn (thượng hệ - bậc
cao hơn). Vì thế hệ thống luôn có tính thứ bậc. Kiểm soát thứ bậc
là sự áp đặt chức năng mới, ứng với mỗi thứ bậc, so với các thứ bậc
thấp hơn. Sự kiểm soát có tính kích động (khi một số hoạt động
được hoạt hóa), hoặc có tính kìm hãm (khi một số hoạt động trở
nên trì trệ).
Một trong những thách thức của các hệ thống môi trường là
sự tự kìm hãm quá đáng (tạo ra khả năng thích ứng kém trước
những hoàn cảnh mớn và sự tự kiểm soát hời hời (giảm năng suất
của hệ thống, có thể tạo ra rủi ro do các quá trình nội lực của hệ
thống vượt ra khỏi ranh giới hệ thống, gây tan rã hệ).
1.2.5. Tính lan truyền thông tin
Lan truyền thông tin nhằm gây tác động điều chỉnh và phản
hồi. Thông tin được lan truyền từ tác nhân điều khiển đến tác nhân
bị điều khiển để thực hiện chức năng kiểm soát của tác nhân điều
khiển. Thông tin cũng cần phải lan truyền ngược từ tác nhân bị điều
khiển đến tác nhân điều khiển làm cho tác nhân điều khiển có khả
năng giám sát sự phục tùng của tác nhân bị điều khiển, từ đó có thể
điều chỉnh hoạt động giám sát trong tương lai. Mạng phản hồi kích
động và kìm hãm, do đó, là cốt lõi của quá trình lan truyền. Nếu tác
nhân bị điều khiển không tạo được sự đáp ứng phù hợp trước tín

chức năng riêng biệt - lại là không điển hình nhất, và phần lớn các
dạng hình thái thực ra chẳng có gì hơn là những mớ hỗn độn của
các phần tử riêng biệt. Định luật thứ hai chỉ rõ rằng, theo thời gian,
ngay cả các hệ thống có trật tự cao cũng sẽ bị xuống cấp thành các
hệ thống có trật tự thấp hơn. Lượng "vô trật tự” trong một hệ thống

12
có thể được đo lường và được gọi là entropy của hệ thống". Định
luật thứ hai nói rằng, entropy của bất cứ hệ thống nào không được
cung cấp năng lượng, chắc chắn sẽ tăng theo thời gian. Điều đó giải
thích tại sao vật gì rồi cũng sẽ bị phân hủy và bị tiêu vong.
Sự sống là một quá trình giảm entropy. Hệ thống sống có khả
năng xây dựng, tái sinh và tạo ra trật tự, lý do cho rằng sự sống có
thể tồn tại là bởi vì trái Đất luôn luôn dược mặt trời cung cấp năng
lượng. Chính năng lượng Mặt lời cho phép entropy giảm đi hơn là
tăng lên.
Xuất phát từ phân tích trên, chúng ta sẽ phân tích sự khác biệt
giữa các hệ cô lập và hệ mở.
Hệ cô lập có những thành phần không thay đổi, không tương
tác với mới trường ngoài. Chúng cuối cùng sẽ đạt đến một trạng
thái cân hàng, nhưng luôn vận động theo hướng có entropy cao hơn
vì không được cung cấp thêm năng lượng. Nói như thế có nghĩa là
các hệ cô lập thường đạt đến một điểm mà tại đó sẽ không có thay
đổi gì nữa.
Hệ mở, ngượi lại, trao đổi liên tục với môi trường của nó. Sự
trao đổi này bao gồm vật chất, năng lượng và thông tin. Hệ mở có
thể đạt đến một trạng thái ổn định tuỳ thuộc cao mối quan hệ trao
đổi liên tục với môi trường được duy trì, khiến cho hệ có khả năng
tạo ra và duy trì trạng thái có entropy thấp. Điều này có nghĩa rằng
một số hệ mở có thể duy trì tính toàn vẹn của chúng mặc dù điều đó

kiểm soát khác nhau. Ví dụ hệ thống môi trường có các cách duy trì
cân bằng: hướng dẫn, chế tài, kinh tê, quy hoạch, v.v...
3- Xác định ranh giới hệ. Ranh giới hệ quyết định các nguồn
vào là nguồn ra của hệ, cũng như ngưỡng an toàn của hệ.
4- Xác định các phân hệ của hệ, hoặc các thượng hệ của hệ
(thượng hệ là một hệ thống cấp bậc cao hơn mà hệ đang xét là một
phân hệ của nó).
Không có một sơ đồ phân loại hệ thống nào được coi là khuôn

14
mẫu mặc dù thường các hệ thống cũng giống như hệ thống kinh tế
vậy. Đôi khi người ta phân biệt ra các hệ thống sống và hệ thống
không sống, hệ thống trừu tượng và hệ thống cụ thể, hệ mở và hệ
cô lập. Cũng có thể chia thành các hệ cơ sở, hệ điều hành, hệ mục
tiêu và hệ kiểm soát. Các hệ thống được gộp thành 5 nhóm là:
(1). Các hệ tự nhiên.
(2). Các hệ cơ khí (máy móc).
(3). Các hệ trừu tượng toán học).
(4). Các hệ nhân văn.
(5). Các hệ huyền ảo (các hệ ngoài tri thức).
Các hệ thống thuộc các nhóm trên đây thuộc các kiểu hoàn
toàn khác nhau. Đặc biệt các hệ 2 - 3 và 4 lại hoàn toàn khác với
các hệ tự nhiên.
5. Xác định chức năng. Xác định chức năng chính và các
chức năng phụ của hệ thống bằng cách trả lời các câu hỏi: hệ thống
có những vai trò gì, có mục tiêu gì trong thượng hệ.
1.4. Mô hình hóa các hệ thống
Nhìn chung, một mô hình tốt phải là mô hình rẻ tiền và có
tính dự báo cao. Điều đó có nghĩa là mô hình phải bao gồm tất cả
các thành tố có ý nghĩa, bao trùm mọi khoảng giá trị và phản ánh

Một trong những đặc trưng của mô hình phi tuyến, ngược lại,
là ở chỗ động lực cơ bản của hệ đôi khi được thu gọn trong rất ít,
đôi khi chỉ 2 ÷ 3 phương trình.
1.4.1. Hành vi của hệ thống động lực
Các hệ thống thích ứng hoặc động lực ví dụ như thời tiết, quá
trình tiến hóa, hoặc vận hành thị trường . . . tạo ra những vấn đề
mới của mô hình hóa. Rất khó mô hình hóa và dự báo hành vi của
những hệ thống phức tạp như vậy. Cho đến bây giờ vẫn chưa có
được các công cụ và kỹ thuật cần thiết cho mục tiêu này. Tuy nhiên

16
nhìn chung, có thể thấy rằng kiểu liên kết giữa các yếu tố của một
hệ động lực tập trung vào việc xác định hành vi của hệ thống đó.
Hành vi của một hệ động lực thường gồm 4 nhóm như sau:
 Nhóm 1: Gắn kết nếu hệ "đóng băng" do sự tự kiểm soát quá
mức.
 Nhóm 2: Định kỳ nếu hệ vận hành qua một số chu kỳ xác
định.
 Nhóm 3: Hỗn loạn nếu hệ là không thể xác định dù bất cứ
mục tiêu thực tiễn nào. Điều này cũng có thể nảy sinh ở các
hệ thống vốn tuân theo một bộ xác định các quy tắc - được gọi
là "sự hỗn loạn được xác định". Bất kể sự hỗn loạn là được
xác định hay thực tế không được xác định, thì hành vi cụ thể
của loại hệ thống này cũng không thể nào dự báo được.
 Nhóm 4: Gần hỗn loạn, nếu hệ nằm ở vị trí giữa ổn định và
biến động. Đây là một đội hẹp nhưng rất quan trọng nằm giữa
các nhóm hành vi 2 và 3. Các loài sinh vật thường có hành vi
ở nhóm 4.
Một hệ thống chỉ có một vài mối liên kết giữa các yếu tố sẽ
biểu lộ hành vi theo nhóm 1 . Nếu một hệ thống như vậy bị xáo trộn

trong phạm vi cuộc đời của một cá thể. Tất nhiên có những biến đổi
môi trường quá nhanh và quá mãnh liệt khiến các loài hoặc cá thể
không tài nào thích ứng được. Điều này thường dẫn đến sự hủy
diệt. Chính cái gọi là "kho lưu trữ hành vi" hoặc quy trình ứng xử
tạo điều kiện cho các sinh vật này thích ứng, nhưng nhiều khi cũng
không lại so với sự biến động nhanh của môi trường.
1.5. Tiến hóa và thích ứng của hệ thống
Tiến hóa và thích ứng là hai hiện tượng đặc biệt quan trọng và
liên kết chặt chẽ với nhau, rất phổ biến trong các kiểu hệ thống.
Nhà sinh vật học tiến hóa Richard Dawkins (1982, 1988) đã khái
quát yếu tố cơ bản của tiến hóa là "bản sao tích cực" . Ý tưởng của
ông như sau: Một "bản sao" là bất cứ hệ thống nào có khả năng tự
tái tạo hoặc được tái tạo. Quá trình tái tạo này không nhất thiết đòi

18
hỏi phải hoàn hảo, tuyệt đối không có sai sót, bởi vì trên thực tế
không có quá u uất tái tạo nào là không có sai sót.
Ví dụ điển hình cho các bản sao là các cơ thể sinh vật và cơ
quan di truyền của chúng. Các bản photocopy, bản fax cũng là một
loại bản sao. Dawkins coi các đơn vị thông tin cũng là bản sao vì
khi giao tiếp giữa con người với nhau, thông tin được chuyển giao.
Bản sao thông tin được Dawkins gọi là "me me" (từ chữ memo -
memory).
Sau khi xây dựng khái niệm về “bản sao", Dawkins tiến tới
phân loại chúng thành 2 nhóm: nhóm chủ động và nhóm bị động
tuỳ thuộc vào chất lượng của bản sao tác động đến độ chính xác của
quá trình sao chép như thế nào. Gái là các bản sao chủ động vì các
đen tốt thường được sao chép tết trong các cá thể con cháu, làm cho
thế hệ con cháu duy trì và cải thiện được khả năng sinh tồn và tránh
được kẻ săn mồi, kiếm mồi tốt hơn hoặc có sức hấp dẫn hơn với

môi trường, thu hút bạn tình...
Cần phải hiểu rằng tính tiến hóa chính xác của một cá thể sinh
vật là không bất biến, mà thay đổi do tự thân tiến hóa, và góp phần
làm thay đổi các thông số môi trường trong đó quá trình nhân bản
xảy ra. Điều đó dẫn đến sự xuất hiện rất nhiều biến thể tiến hóa.
Trong đó có cả hiện tượng chạy đua vũ khí khi vật dữ và con mồi
cũng phải tiến hóa để săn mồi hoặc chạy trốn tốt hơn...
Tiến hóa cũng nhằm để thích ứng, nhưng là một dạng thích
ứng quan trọng và đặc biệt của quá trình thích ứng rộng rãi hơn.
Không giống như tiến hóa, thích ứng nói chung không đòi hỏi hiện
tượng nhân bản dài hạn chủ động. Ví dụ quá trình học tập ở con
người và các động vật khác, sự phát triển cơ bắp, các quá trình sinh
học nhằm duy trì sự cân bằng ôxy của khí quyển, sự móc nối của
các mạng phản hồi ổn định v.v...
Tất nhiên, thích ứng cũng có nét tương tự như tiến hóa ở chỗ
nó cũng không yêu cầu các nguyên tắc tổ chức cao hơn, tri thức
(nhận thức) cao hơn và sự có chủ định sẵn. Cả tiến hóa lẫn thích

20
ứng đều là những "quá trình mù”. Sự đánh giá cốt lõi của một hệ
thích ứng là tình ổn định hơn là tình nhân bản (sao chép) chính
xác. Ổn định giữ một vai trò rất quan trọng. Vì các hệ thống thường
không cô lập, các biến dị liên tục được nhập vào khi hệ bị nhiễu
loạn do những ảnh hưởng bên ngoài. Một vài trạng thái của hệ có
tính ổn định hơn các trạng thái khác. Điều này có thể là do chúng
không hàm chứa các động lực nội sinh cho sự thay đổi, hoặc bởi vì
chúng bao gồm các cơ chế kiểm soát có tính chu kỳ. Cũng còn có
thể là do chúng có khuynh hướng kháng cự lại những ảnh hưởng
bên ngoài. Cơ chế của tính ì được tạo ra do các hiện tượng phản hồi
triệt tiêu, cũng như các hiện tượng kháng cự số lớn với những tác

ôxy trong không khí bằng chiếc bong bóng bị biến đổi thành một
loại phổi đơn giản, mới có khả năng tiến hóa thành động vật lưỡng
cư sau này.
Một hệ thống nhân bản để thích ứng luôn luôn lưu trữ các
biến dị.
Một số ít các biến dị đó sẽ là mầm mống của tiến hóa. Vì thế
một hệ thống có khả năng tiến hóa luôn luôn phải có nhiễu loạn,
luôn luôn có entropy ở một giá trị mà hệ thống có thể kiểm soát
được. Những hệ thống ổn định cao, có entropy tháp thường là một
hệ thống có tính thích ứng hơn là có tiềm năng tiến hóa. Các hệ
thống "đóng băng" là những hệ thống không có khả năng tiến hóa.
Vì thế, có một nguyên tắc trong điều khiển hệ thống là "không
gắn kết quá chặt để tạo tiền đề cho những thay đổi". Xác định tiềm
năng "không gắn kết quá chặt" cần thông qua những hành vi, những
cấu trúc "lệch chuẩn" không gây hại cho hệ thống. Nguyên tắc
"phân quyền và uỷ quyền" cho các đơn vị quản lý cấp dưới trong
quản lý môi trường chính là khung pháp lý cho phép các thành tố
của một hệ thống phát huy tính chủ động và sáng tạo. Cũng từ đó
mà hình thành các nguyên tắc khác như "phi tập trung hóa", "xã hội
hóa" trong quản lý môi trường.

22
1.6. Các ngưỡng của hệ thống và hệ sinh thái toàn cầu
Toàn bộ các hệ thống sinh thái và sinh học đều có tính co dãn
(đàn hồi). Chúng có thể thắng được một số loại sức ép hoặc phá
hoại và duy trì khả năng tự phục hồi. Ngay cả khi một số yếu tố
đơn lẻ của hệ bị phá huỷ, chúng cũng thường được khôi phục khiến
cho hệ thống được duy trì. Tuy nhiên sự bành trướng hoạt động
nhân sinh đã dẫn đến việc phá hủy cả các yếu tố của hệ hoặc toàn
bộ hệ, làm giảm tính đàn hồi của hệ.


• 0,1% O
2

• 98% CO
2

Trong khi khí quyển ngày nay có gần 79% N
2
, gần 21% O
2

0,03% CO
2
. Chính CO
2
và một số loại khí khác (NH
3
) đã hấp thụ
bức xạ hồng ngoại phát ra từ Trái Đất và do đó kìm hãm nhiệt thoát
vào khoảng không Vũ Trụ, tạo ra hiệu ứng nhà kính nguyên thuỷ.
Những dạng sống nguyên thủy của Trái Đất đã hấp thụ C, N
và H ra khí quyển. C và N đã được lưu trữ trong cơ thể sinh vật rồi
lắng đọng dưới đáy biển dưới dạng các mùn bã hữu cơ (xác chết
của sinh vật) đồng thời NH
3
bị phân hủy, giải phóng H để tạo thành
nước hoặc gia nhập vào khí quyển. Nếu không có cơ chế kiểm soát,
sẽ xuất hiện sự thiếu hụt CO
2

bao vây trong một mạng phản hồi tiêu cực rộng hơn để tạo ra mối
cân bằng tổng thể. Cũng có khi mạng tích cực một khi đã khởi động
sẽ vận hành hoặc là cho đến khi hiện tượng phản hồi tích cực trở
nên bão hoà, hoặc cho đến khi tự thân hệ thống bị biến dạng.
1.7. Tính ổn định của hệ thống
Nói chung, hệ thống càng phức tạp, các hệ thống phản hồi
càng đan xen, thì các hệ thống càng khoẻ mạnh và càng có khả
năng chống lại sự biến đổi tốt hơn. Trên thực tế, các hệ thống phức
tạp có tính ổn định cao hơn. Một lí do minh chứng cho điều đó là
một số hệ thống phức tạp (ví dụ các hệ thống sinh học) sử dụng các
cách kiểm soát đa diện chứ không phải cách đơn giản, và vì thế có
nhiều cơ hội sống sót hơn. Tương tự như vậy, sự đa dạng gen tạo
cho hệ sinh thái có khả năng thích ứng tết hơn đối với sức ép môi
trường, đa dạng văn hóa cũng giúp cho xã hội bền vững hơn.
Các hệ phức tạp thường thường tiến hóa lừ các hệ đơn giản
hơn. Tính phức tạp sẽ phát triển nếu tạo ra sự thích ứng ưu thế hơn
thế hệ đi trước. Các hệ thống phức tạp hơn chỉ có khả năng sinh tồn
nếu hệ thực sự khoẻ mạnh, vì thực tế chúng phải chịu đựng nhiều
can thiệp hơn trong quá trình tồn tại.
Một số vấn đề cần lưu ý.
• Các hệ sinh thái khu vực và toàn cầu bao giờ cũng nằm trong
các ngưỡng an toàn, bên ngoài ngưỡng, hệ sẽ biến đổi để đạt

25

Trích đoạn Kiến tạo chỉ số Phân tích khung logic LFA Phân loại tài nguyên của các hệ sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status