Một số kết quả nghiên cứu về cổ sóng thần
ven biển việt nam
Cao Đình Triều
1
, Rogozhin E.A.
2
, Ngô Thị L
1
, Nguyễn Hữu Tuyên
1
,
Mai Xuân Bách
1
, Lê Văn Dũng
1
, Nguyễn Thanh Tùng
1
1- Viện Vật lý Địa cầu, Viện KH&CN Việt Nam,
2- Viện Vật lý Trái đất, Viện HLKH Nga.
Tóm tắt
Qua việc điều tra, khảo sát cổ sóng thần dọc ven biển Việt Nam cho thấy:
1. Vết tích của ba sóng thần vào các năm cách đây 380 năm, 610 năm, 960
năm, độ cao tối đa của sóng có thể lên tới 18 m.
2. Đới hút chìm Manila là nguồn xa có nguy cơ xuất hiện động đất gây sóng
thần ảnh hởng đến hải đảo và bờ biển Việt Nam
3. Có thể tồm tại nguy cơ xuất hiện động đất gây sóng thần tại các đới phát sinh
trong vùng Biển Đông Việt Nam là: Huyện Nhai - Văn Ninh Châu Giang Bắc
Hoàng Sa (M7,5); và đới Thuận Hải Minh Hải Nam Côn Sơn.
1. Mở đầu
Hầu hết các đợt sóng thần có sức tàn phá lớn đều đợc hình thành từ các trận
động đất mạnh có chấn tâm nông. Thông thờng chúng là những động đất phát sinh tại
nhận nh sau: tháng 9 năm 1877, tại Bình Thuận, Động đất, từ đấy đến tháng 12 tất cả
3 lần, lần đầu nớc sông cuốn lên, nhà ngói cũng rung động, hai lần sau nhẹ hơn.
Trận động đất này đợc các nhà địa chấn Viện Vật lý Địa cầu đánh giá chỉ có 5,1
độ Richter, tuy vậy theo số liệu của NOAA thì có Ml =7,0 độ Richter, gây sóng to.
Liệu có phải động đất đã gây nên sóng thần địa phơng hay không?.
2.2. Tài liệu điều tra trong nhân dân
Kết quả điều tra sóng thần trong nhân dân dọc ven biển Việt Nam (Nguyễn
Đình Xuyên và nnk, 2005; lu VLĐC) cho thấy ngoài sóng bão, thuỷ triều, nớc dâng,
đã phát hiện một số hiện tợng sóng lớn? mà các tác giả gọi là sóng thần có nguồn gốc
khác [10]:
- Năm 1978 sóng thần đã thực sự xuất hiện ở vùng bờ biển Trà Cổ, Móng Cái.
Sóng cao 3-5 m đã tràn vào bờ nhiều đợt, làm nứt tờng nhà, đổ các hàng cây phi lao
ven bờ.
-Theo ghi chép của TS Armand Krempt năm 1923 sóng thần đã phá hỏng
chuồng ngựa của bác sĩ Alexandre Yersin. Vị trí chuồng ngựa cách bờ biển 5-6m. Sự
cố này liên quan với phun trào núi lửa ở đào Hòn Tro. Vùng biển nam Trung bộ và
Nam bộ là vùng hoạt động núi lửa hiện đại. Năm 1923 phun trào núi lửa diễn ra ở đảo
Hòn Tro trong quần đảo Phú Quý đã gây động đất núi lửa 6,1 độ Richter. Năm 1960,
1963 hoạt động núi lửa lại diễn ra nhng yếu hơn. Việc phun trào núi lửa Hòn Tro gây
sóng thần cho thấy hoạt động núi lửa cũng là một nguồn sóng thần đáng chú ý trong
vùng biển Đông.
-Theo lời kể của những ngời cao tuổi, vào cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20,
hiện tợng sóng thần cũng đã xảy ra ở Diễn Châu (Nghệ An). Sóng cao nh sóng bão xảy
ra ở đây năm 1984 (5-10 m).
-Một hiện tợng đáng chú ý nữa đã xảy ra ở Tuy Hoà, Nha Trang ngày 4/5 năm
1991, trớc ngày núi lửa Pinatubo, Philippin, phun trào. Nớc biển rút ra xa, nhiều tàu
nhỏ lộ trên bãi cát, mọi ngời sợ hãi chạy vào bờ, không hiểu là hiện tợng gì xảy ra. Một
lúc sau nớc lại trở lại nhng do đứng xa nên không rõ cao hơn hay bằng mực nớc ban
đầu. Ông Đỗ Minh Tiệp, một ngời trong đoàn cán bộ địa chất khảo sát, đào hố lấy mẫu
ở bờ biển, những ngời chứng kiến hiện tợng, đánh giá: nớc đã rút 2m so với mức bình
2.4. Kết luận
Qua tài liệu lịch sử, tài liệu điều tra khảo sát trong nhân dân và ngay cả t liệu
hiện đại cho ta thấy dọc ven biển Việt Nam đã xuất hiện nhiều hiện tợng sóng lớn tác
động và gây thiệt hại về ngời và của. Phần lớn các cơn sóng này có nguyên nhân khí t-
ợng. Tuy vậy cũng còn tồn tại một số hiện tợng sóng lớn cần đợc tìm hiểu thêm liệu có
phải là sóng thần đã từng xảy ra hay không?. Đó chính là lý do mà các tác giả của bài
báo này muốn thực hiện thông qua việc tìm kiếm, khảo sát sự hiện diện của cổ sóng
thần dọc bờ biển Việt Nam.
3. Kết quả phân tích địa chất tại các
vết tích nghi ngờ do sóng thần tạo nên
Để tìm kiếm những vết tích cổ sóng thần dọc theo bờ biển Việt Nam, tháng 11 -
12 năm 2005 và tháng 3 - 4 năm 2006 Viện Vật lý Địa cầu đã cử hai đoàn cán bộ đi
khảo sát, tìm kiếm những vết lộ địa chất có dấu hiệu biểu hiện của sóng thần và lấy
mẫu về phân tích tuổi tuyệt đối nhằm xác định tuổi hình thành những trầm tích có
Hình 1: Bờ biển Diễn Châu nhìn từ vệ tinh Landsat
nguồn gốc biển đợc sóng lớn hất tung lên bờ và phủ trên lớp đất thổ nhỡng. Tổng cộng
số điểm khảo sát thấy trong 2 năm tìm kiếm là 6 điểm, đó là: 1. Cửa Lò; 2. Sông Cầu;
3. Nha Trang; 4. Phan Rang; 5. Phan Thiết; và 6. Vũng Tàu
Hình 2: Mặt cắt địa chất tại điểm Nha Trang
Hình 3: Mặt cắt địa chất tại điểm khảo sát Phan Rang
Hình 4: Mặt cắt địa chất tại điểm Phan Thiết
Hình 5: Mặt cắt địa chất tại điểm Vũng Tàu
Qua phân tích toạ độ, độ cao và mặt cắt địa chất cho ta thấy một số đặc điểm
chung nhất nh sau:
1. Trong tất cả các điểm nghiên cứu kể trên, lớp phủ có một loạt tính chất tơng
tự, cho phép xếp chúng vào cùng một thành hệ, chúng đều là thềm dạng nền (sokol),
đáy nền cấu thành từ đá granit bị phong hoá ở mức độ khác nhau. Tại hai nơi trong
phần đáy của tầng trầm tích thềm thấy lớp thổ nhỡng cổ bị chôn vùi hoặc lớp đá ong
(laterit) đã bị biến đổi hoàn toàn. Đối với trầm tích thềm nét đặc trng chủ yếu là có
thành phần granit hoặc arkoz. Đôi khi có mặt cả những mảnh vụn của các đá trầm tích
13
C
theo PDB
Tuổi tuyệt đối theo mẫu
chuẩn 0.95 NBS Ox.Ac.Std
(năm)
Sai số xác
định tuổi
(năm)
1 Cửa Lò -25,0% 540 70
2 Sông Cầu -25,0% 665 55
3 Nha Trang lớp 1 -25,0% 330 50
Nha Trang lớp 2 -25,0% 395 55
4 Phan Rang 2005 -25,0% 465 85
Phan Rang 2006 -25,00 910 70
5 Phan Thiết -25,0% 1025 70
6 Vũng Tàu -25,0% 860 95
Bảng 2: Kết quả phân tích tuổi tuyệt đối của mẫu địa chất
(phơng pháp Carbon phóng xạ) theo tiêu chuẩn mới, T
1/2
=5 730 30 năm
TT Vị trí lấy mẫu Thời gian đo
mẫu
(phút)
Tuổi tuyệt đối đợc xác
định với việc áp dụng
hiệu chuẩn quốc tế INT-
98
(năm)
Sai số xác
S o n g C a u
N h a T r a n g 1
N h a T r a n g 2
P h a n R a n g 2
P h a n T h i e t
V u n g T a u
2 0 0 3 0 0 4 0 0 5 0 0 6 0 0 7 0 0 8 0 0 9 0 0 1 0 0 0 1 1 0 0
0
1
2
3
4
5
6
7
t ( n ă m )
S ố t h ứ t ự
3 6 5
6 0 5 9 3 5
Hình 7:
Phân bố
tuổi của mẫu Địa chất với chu kì bán rã T
1/2
= 5730 30 năm
Qua phân tích theo phân bố tuổi cho thấy có biểu hiện của ba chu kỳ tuổi tuyệt
đối của mẫu địa chất, đó là: 365, 605, 935 năm đối với phơng pháp phân tích 1 và: 380,
610, 960 năm đối với phơng pháp phân tích 2. Nh vậy, nếu khẳng định một cách chắc
chắn rằng các cấu tạo tại điểm lấy mẫu là do sóng thần tạo ra thì tại vùng ven biển Việt
Nam đã phát hiện đợc ít nhất là 3 sóng thần, vào các năm cách đây 380 năm, 610 năm
và 960 năm, chu kỳ trung bình là 320 năm. Độ cao tối đa của sóng thần có thể lên tới
Guinea
>10 Aitape khoảng 2 500
ngời chết,
M=7,0
26/12/2004 Sumatra 298 000 ngời
C u a L o
S o n g C a u
N h a T r a n g 1
N h a T r a n g 2
P h a n R a n g 2
P h a n T h i e t
V u n g T a u
2 0 0 3 0 0 4 0 0 5 0 0 6 0 0 7 0 0 8 0 0 9 0 0 1 0 0 0 1 1 0 0
0
1
2
3
4
5
6
7
t ( n ă m )
S ố t h ứ t ự
3 8 0
6 1 0
9 6 0
chết, M=9,0
Đã có một số trận động đất rất mạnh gây sóng thần làm thiệt hại lớn về ngời và
của tại khu vực Đông Nam Châu á (Bảng 3). Tuy vậy bờ biển bao quanh biển đông đã
không chịu ảnh hởng của các trận sóng thần này vì chúng đã đợc che chắn bởi các
3 1645 11 30 14.40 121.00 8.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Luzon
4 1661 1 8 23.00 120.00 6.4 0.0 0.0 0.0 1.5 S.Ch.sea
5 1675 3 0 13.40 121.10 0.0 0.0 0.0 0.0 1.0 Sulu Sea
6 1677 12 7 14.50 120.50 0.0 0.0 0.0 1.0 1.0 Luzon
7 1716 9 24 14.00 121.00 0.0 0.0 0.0 0.0 1.0 Taal
8 1745 5 13 14.00 121.00 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Taal
9 1749 8 11 14.00 121.00 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Taal
10 1749 8 12 13.60 121.10 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Philippine
11 1765 5 0 23.00 113.00 6.0 0.0 2.0 0.0 0.0 S.Ch.sea
12 1770 12 0 14.20 121.00 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Luzon
13 1824 10 26 14.20 121.00 0.0 0.0 0.0 0.0 1.0 Luzon
14 1828 11 9 14.20 121.00 7.5 0.0 0.0 0.0 0.5 Luzon
15 1840 3 22 16.00 123.00 6.5 0.0 0.0 1.0 1.0 Sulu Sea
16 1852 9 16 14.00 120.50 7.5 0.0 0.0 0.0 1.5 Luzon
17 1862 6 6 24.00 121.00 7.5 0.0 0.0 0.0 0.0 Philippine
18 1863 6 3 14.50 121.00 6.5 0.0 0.0 1.0 1.0 Luzon
19 1865 10 19 13.30 123.40 6.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Sulu Sea
20 1869 8 16 12.30 123.10 7.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Sulu Sea
21 1872 1 26 16.00 119.00 6.0 0.0 0.0 0.0 1.0 W.Luzon
22 1880 7 18 15.00 121.50 7.5 0.0 0.0 0.0 0.0 Luzon
23 1889 5 25 13.50 121.00 6.8 0.0 0.0 0.0 3.0 Sulu Sea
24 1889 5 26 13.50 121.00 6.8 0.0 0.0 0.0 3.0 Sulu Sea
25 1897 9 21 6.80 122.50 8.5 0.0 6.0 1.0 2.5 Sulu sea
26 1897 9 21 7.10 122.50 8.6 0.0 6.0 0.0 0.0 Sulu sea
27 1897 10 19 6.50 122.00 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 SE
28 1901 9 10 14.00 122.30 7.0 33.0 1.2 0.0 0.0 E.Luzon
29 1902 8 21 5.00 122.00 0.0 0.0 0.0 0.0 2.0 Celebes
30 1902 8 21 6.30 123.60 7.2 0.0 0.0 0.0 2.0 Celebes
31 1911 1 27 14.00 121.00 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 Taal,
Luzon
62 1994 11 14 13.50 121.10 7.1 32.0 7.3 0.0 2.1 Philippine
Chú giải: M - Độ lớn động đất; H - độ sâu chấn tiêu; R - độ cao sóng thần so vơi
mực nớc bển (0.0 là không xác định đợc); m - magnitude sóng thần tính theo công
thức mlog
2
h
5.3. Sóng thần có thể đã tấn công bờ biển Việt Nam
Liệu sóng thần đã đổ bộ vào bờ biển Việt Nam hay cha? là một câu hỏi cần đợc
làm sáng tỏ. Trên cơ sở việc phát hiện một số điểm có thành tạo địa chất biểu hiện do
nguyên nhân gây nên bởi sóng thần, các hiện tợng sóng lớn điều tra đợc trong nhân
dân, cộng thêm đó là các bậc thềm đợc thành tạo tại ven biển Diễn Châu cũng nh danh
mục sóng thần khu vực Biển Đông và tây Philippine đã chứng tỏ có khả năng sóng thần
đã tấn công vào bờ biển Việt nam. Cơ sở cho nhận định này là:
1. Các sóng thần đã ghi nhận đợc trong khu vực Biển Đông Việt Nam và tây
Philippine (Bảng 2, gồm 62 sóng thần). Danh mục này đã chứng tỏ:
- Đới hút chìm Manila là nơi có nguy cơ xuất hiện động đất mạnh gây sóng thần
tác động đến bờ biển tiếp giáp với Biển Đông Việt Nam nh bờ biển nam Trung Quốc,
bờ biển đông Việt nam, Brunay và Malaysia. Mức độ ảnh hởng của sóng thần có nguồn
Manila đến các điểm trên đờng bờ của mỗi nớc này sẽ khác nhau, phụ thuộc vào độ
mạnh của động đất gây ra sóng thần và khoảng cách từ chấn tâm tới đờng bờ quan sát
sóng thần.
- Các nguồn sóng thần đợc ghi nhận trong bảng 2 có toạ độ nằm sát với đờng bờ
biển nam Trung Quốc và đặc biệt là sát với đờng bờ biển Việt Nam lại trùng với đới
động đất mạnh thuộc ven bờ Biển Đông Việt Nam và Trung Quốc. Nh vậy, ngoài yếu
tố sóng thần lan truyền tới từ nguồn Manila còn có yếu tố của sóng thần vùng gần đờng
bờ tác động đến bờ biển nớc ta.
Tóm lại, có thể nói rằng bờ biển Việt Nam ở mức độ khác nhau đã chịu ảnh h-
ởng tác động của sóng thần vừa có nguồn gốc xa, từ đới Manila, vừa có nguồn gốc gần,
nằm sát với đờng bờ Trung Quốc và đờng bờ Việt Nam.
2. Với kết luận của phân tích địa chất, cho rằng lớp phủ thềm đợc thành tạo
Đông đến bờ biển Việt Nam. //Các công trình nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển.
T.1 NXB KHKT. Hà Nội, 1995. Tr. 145-155.
3. Phạm Văn Thục, 1998. Độ nguy hiểm động đất và sóng thần vùng quần đảo
Trờng Sa. //Tuyển tập các công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên vùng quần đảo Trờng Sa. NXB KHKT. Hà Nội, 1998. Tr. 127-143.
4. Phạm Văn Thục, 2000. Đánh giá độ nguy hiểm của sóng thần ở biển
Đông. // Các công trình nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển. T.4, NXB KHKT. Hà
Nội, 2000. Tr. 31-46.
5. Phạm Văn Thục, 2000. Sóng thần ở biển Đông và vấn đề dự báo. //Tuyển
tập báo cáo khoa học, Hội nghị khoa học biển Đông Tr. 351-365.
6. Phạm Văn Thục, 2001. Những đặc điểm của sóng thần khu vực biển
đông. //Tc. Khoa học và Công nghệ biển. T.1, số 2. Tr. 52-64.
7. Phạm Văn Thục, 2002. Chế độ động đất khu vực biển Đông Việt Nam. //Tc.
Khoa học và Công nghệ biển. T.1, số 4. Tr. 40-56.
8. Phan Trọng Trịnh, 2005. Động đất và sóng thần ngày 26/12/2004 tại ấn Độ
Dơng và kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam. Báo cáo tại hội thảo khoa học Bộ Tài
nguyên và Môi trờng. Hà nội tháng 2/2005.
9. Cao Dinh Trieu, Panza, 2005. Establishing appropriate approaches to
increase earthquakes preparedness in Vietnam. VIETNAM-ITALY PROJECT in the
frame Vietnam- Italy Co-operation Programme in Science and Technology.
10. Nguyễn Đình Xuyên và nnk, 2005. Nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm
động đất và sóng thần ở vùng bờ biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp cảnh báo,
phòng tránh. Báo cáo Đề tài cấp Viện KH&CN VN.
11. UNESCO-IOC. Tsunami Glossary. IOC Information Document No.1221.
Paris, UNESCO, 2006.
summary
some results of ancient Tsunami study
along the vietnam coast line
Cao Dinh Trieu
1