SKKN giải toán có lời văn lớp 4 - Pdf 28

1
I. TÊN ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở
LỚP 4
II. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hồ Chủ Tịch người thầy vĩ đại của Đảng, của Cách mạng Việt Nam đã
nói: “ Muốn có đạo đức Cách mạng thì phải có tri thức”.
Thật vậy, tri thức trong xã hội là chìa khóa vạn năng để mở tất cả các
cửa của vũ trụ, của loài người.
Muốn có tri thức thì phải học và phải học thật tốt. Việc học phải trải
qua quá trình nghiền ngẫm, suy luận, tìm tòi mới có được.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà trường hiện nay là
hình thành, phát triển trí tuệ cho học sinh. Những nghiên cứu gần đây Hồ
Ngọc Đại, cho thấy chỉ thực hiện nhiệm vụ đó bằng cách tổ chức hoạt động
học tập ngay từ khi trẻ tới trường tiểu học.
Các môn học nói chung, môn Toán nói riêng tùy theo đặc trưng bộ
môn đều có nhiệum vụ, thông qua việc trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ năng
và góp phần tích cực vào việc đào tạo con người. Quan điểm dạy Toán, dạy
người cũng được Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh.
Trong thư gửi các bạn trẻ yêu Toán, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói
về khả năng giáo dục của môn Toán như sau: “ Trong các môn Khoa học và
Kĩ thuật, Toán học giữ một vai trò nổi bật. Nó có tác dụng lớn đối với các
ngành khoa học khác, đối với kĩ thuật, sản xuất và chiến đấu. Nó còn là môn
thể thao trí tuệ giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, học tập và giải quyết vấn đề. Toán còn giúp cho
ta rèn luyện đức tính quý báu như: cần cù, nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí
vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lí. Dù các bạn phụ vụ ngành
nào, công tác gì thì kiến thức và phương pháp Toán học cũng cần cho các
bạn”.
Môn Toán có một vị trí quan trọng như vậy cho nên chúng ta cần xây
dựng một nền tảng vững chắc ngay từ những lớp đầu cấp một cách rõ ràng,

mở bài toán ( đặc biệt toán hợp ). Nếu giáo viên giảng giải nhiều sẽ bị coi là
không đổi mới phương pháp và cũng đồng thời không phát huy được tính tích
cực trong học tập của học sinh. Bản thân học sinh không biết cách trình bày
bài giải thế nào hoặc không xác định được dạng toán điển hình để có những
bước tính phù hợp. Đó chính là những khó khăn khi dạy toán ở tiểu học.
Vì vậy, kết hợp với khảo sát chất lượng tôi lại tiếp tục với những
phương pháp điều tra, tìm hiểu khác như:
+ Dành thời gian đầu năm ở tiết Ôn luyện Toán, kiểm tra lại kiến thức,
kĩ năng tính toán, nêu và giải quyết vấn đề, giải toán qua các phép tính, bài
toán các em đã học ở chương trình Lớp 3.
Qua những biện pháp tìm hiểu trên, tôi nhận thấy tình hình chất lượng
giải toán của lớp như sau:
- Biết nêu và giải quyết vấn đề, tóm tắt đề và giải toán: 10 em, tỉ lệ:
25%
- Giải toán theo quán tính ( cụ thể: nhiều hơn thì làm phép tính cộng, ít
thì làm phép tính trừ, ) 13 em, tỉ lệ: 32,5%.
- Kĩ năng tính toán sai, nhầm ( cộng, trừ có nhớ, nhân, chia, ): 10 em,
tỉ lệ: 25%.
- Không biết giải toán, giải sai: 7 em, tỉ lệ: 17,5%
Với thống kê trên tôi nhận thấy tỉ lệ giải toán có lời văn yếu quá nhiều,
không đáp ứng được yêu cầu môn Toán. Tất nhiên hạn chế trên có nhiều
nguyên nhân đem đến nhưng phổ biến là:
3
+ Một số phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con em và đa số
không biết được biện pháp kỹ năng hướng dẫn học Toán để giúp đỡ các em
học ở nhà.
+ Phương pháp dạy học của chúng ta còn hạn chế, chưa lôi cuốn, phát
huy tích cực trong học sinh và thiếu các biện pháp tích cực để hỗ trợ.
+ Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế,
nhanh quên.

Điều chủ yếu là giáo viên phân tích kĩ từng mẫu bài toán, biết lập luận một
cách logic để tìm ra cách giải nhanh và đúng. Học sinh phải biết xác định đâu
là giả thiết, đâu là kết luận của bài toán, từ đó tìm ra cách giải tương ứng của
mỗi dạng toán.
4
Từ cơ sở trên, tôi có phương hướng giải quyết vấn đề giúp học sinh
hình thành kĩ năng, kĩ xảo trong việc giải toán. Muốn giải được toán, học sinh
cần nắm được các bước, phương pháp chung giải toán có lời văn như sau:
+ Bước 1: Đọc kĩ đề toán, xác định bài toán cho biết gì và bài toán hỏi
gì?
Mỗi đề toán bao giờ cũng đều có hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là
những điều đã cho, bộ phận thứ hai là cái phải tìm. Muốn giải bất kì bài toán
nào học sinh cũng cần phải xác định đúng hai bộ phận đó.
Chúng ta cần tập trung vào những từ quan trọng (từ khóa) của đề toán,
từ nào chưa hiểu thì phải tìm hiểu ý nghĩa của nó.
Học sinh cũng cần phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán,
những gì không thuộc về bản chất của đề toán để hướng sự chú ý của mình
vào những chỗ cần thiết.
+ Bước 2: Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ, kí hiệu
ngắn gọn. Thông qua đó để thiết lập mối liên quan cái đã cho và cái cần phải
tìm.
+ Bước 3: Phân tích các mối quan hệ giữa các “ dữ kiện” đã cho với
“kết luận” để tìm ra cách giải bài toán. Kết quả các bước này là xác định một
trình tự để giải bài toán.
Thực chất của việc giải toán là bắt những chiếc cầu từ cái đã cho và cái
phải tìm. Có nhiều phương pháp để để bắt được những chiếc cầu đó, và đó
chính là quá trình phân tích bài toán. Thông thường ở tiểu học thường dùng
các cách sau:
Suy nghĩ theo đường lối phân tích: Tập trung suy nghĩ vào câu hỏi của
bài toán, nghĩ xem muốn trả lời được câu hỏi của bài toán thì ta phải biết

mỗi giờ là như nhau)”
Giải:
Cách thông thường
Tổng số giờ làm việc của hai người là:
21 + 16 = 37 ( giờ )
Mỗi giờ làm được là:
481 : 37 = 13 (dụng cụ)
Người thứ nhất sản xuất được là :
13 x 21 = 273 (dụng cụ)
Người thứ hai sản xuất được là :
13 x 16 = 208 ( dụng cụ)
Đáp số :Người tứ nhất : 273 dụng cụ
Người thứ hai : 208 dụng cụ.
Giải bằng cách khác :
Mỗi giờ một người làm được là :
481 : ( 21 + 16 ) = 13 (dụng cụ)
Người thứ nhất sản xuất được là :
13 x 21 = 273 (dụng cụ)
Người thứ hai sản xuất được là :
13 x 16 = 208 ( dụng cụ)
Đáp số : Người tứ nhất : 273 dụng cụ
Người thứ hai : 208 dụng cụ.
* Biện pháp 4: Phương pháp dạy các dạng toán có lời văn:
Trong các dạng toán có lời văn ở lớp 4, tôi chú ý vào các dạng toán
sau:
a) Đối với dạng toán “ Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”.
Dạng toán này học sinh thường giải theo cách thông thường tìm số bé
rồi tìm số lớn .
Bài toán: ( Bài 2 trang 47 )
Một lớp học có 28 học sinh. Số học sinh trai hơn số học sinh gái là 4

Cách giải thông thường
Hai lần số học sinh gái là:
28 – 4 = 24 ( học sinh)
Số học sinh gái của lớp đó là :
24 : 2 = 12 ( học sinh)
Số học sinh trai của lớp đó là :
28 – 12 = 16 ( học sinh)
Cách giải khác:
Số học sinh gái của lớp đó là :
(28 – 4) : 2 = 12 ( học sinh)
Số học sinh trai của lớp đó là :
28 – 12 = 16 ( học sinh)
Đáp số : Học sinh gái : 12 học sinh
Học sinh trai : 16 học sinh
Đáp số : Học sinh gái : 12 học sinh
Học sinh trai : 16 học sinh.
Song song với dạng toán về tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng
ta còn dạng toán có lời văn về Tìm hai số khi biết tổng và tỉ.
b) Đối với dạng toán
‘’
Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó
’’
.
Dạng toán này học sinh thường giải theo cách: Trước hết tính số phần
bằng nhau, sau đó đi tìm giá trị của một phần và cuối cùng tìm lần lượt từng
số.
Bài toán : (Bài 2 trang 148)
Một người đã bán được 280 quả cam và quýt, trong đó số cam bằng
5
2

cam.
Số quả quýt người đó đã bán là : tổng – số quả cam đã bán
Nhìn vào sơ đồ phân tích học sinh sẽ giải được bài toán một cách dễ
dàng.
Giải:
Cách giải thông thường:
Tổng số phần bằng nhau là :
2 + 5 = 7 (phần)
Giá trị của 1 phần là :
280 : 7 = 40 (quả)
Số quả cam người đó đã bán là :
40 x 2 = 80 ( quả)
Số quả quýt người đó đã bán là:
280 - 80 = 200 ( quả)
Cách giải khác:
Số quả cam người đó đã bán là :
280 : ( 2 + 5 ) x 2 = 80 ( quả )
Số quả quýt người đó đã bán là :
280 - 28 = 200 ( quả)
Đáp số : Cam : 80 quả
Quýt : 200quả
Đáp số: Cam 80 quả
Quýt 200 quả
( Dành cho đối tượng trung bình yếu)
(Dành cho đối tượng HS khá, giỏi)
Trong việc dạy học sinh giải toán có lời văn giáo viên không phải nhất
thiết bắt buộc các em là em nào cũng làm như nhau về từng bước của giáo
viên hướng dẫn và SGK. Trong lớp bên cạnh những em học sinh trung bình,
yếu, lớp còn có học sinh khá, giỏi. Chính vì thế ta có thể khuyến khích động
viên các em tìm tòi để giải bài toán bằng cách khác nhưng kết quả vẫn không

Từ gợi ý trên sẽ lập được sơ đồ phân tích như sau:
Hiệu số phần bằng nhau : ( 5 - 3 = 2 (phần))
Tìm giá trị của 1 phần : Hiệu : hiệu số phần
Số bóng đèn màu là : Giá trị của 1 phần
×
số phần của bóng đèn màu
Số bóng đèn trắng là : Hiệu – số bóng đèn màu
Nhìn vào sơ đồ phân tích học sinh sẽ giải được bài toán một cách dễ
dàng.
Giải:
Cách giải thông thường:
Hiệu số phần bằng nhau là :
5 – 3 = 2 (phần)
Giá trị của 1 phần là :
250 : 2 = 125
Số bóng đèn màu là :
250 : 2 x 5 = 625 (bóng)
Số bóng đèn trắng là:
Cách giải khác:
Số bóng đèn màu là :
250:(5 – 3)x5 = 625 (bóng)
Số bóng đèn trắnglà:
625 - 250 = 375(bóng)
Đáp số:Bóng đèn màu: 625 bóng
Bóng đèn trắng:375 bóng
625 - 250 = 375(bóng)
Đáp số: Bóng đèn màu : 625 bóng
Bóng đèn trắng : 375 bóng
d) Các dạng toán có nội dung hình học :
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình

G K TB Y
SL % SL % SL % SL %
GHKI 41 7 17,1% 26 63,4% 6 14,6% 4 4,9%
CHKI 41 11 26,8% 23 56,1% 7 17,1% 0 0
Như vậy nhờ có biện pháp rèn kỹ năng giải bài toán có lời văn liên
quan đến tỷ số cho học sinh lớp 4/2 mà chất lượng học tập của học sinh có
tăng lên. Song vẫn chưa theo ý muốn của mình, tôi đã thực hiện kết hợp với
các hình thức tổ chức khác như:
* Biện pháp 5: Tổ chức dạy học theo nhóm:
- Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là
rất cần thiết. Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm
lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ
năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt
những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự
hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và
được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau.
Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động,
giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu
về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy
cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong
môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn,
cặp…Tùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập.
Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : 6 học sinh
( nhóm ngẫu nhiên),…
-Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh.
-Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ.
-Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh.
Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường
chia theo các cách:
Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định

giúp học sinh mở rộng suy nghĩ và thực hành các kĩ năng tư duy toán như:
phân tích, tổng hợp, khái quát, được tạo điều kiện để hoạt dộng với các bạn
làm cho các em có hứng thú, tích cực hơn nữa trong học tập môn Toán. Đặc
biệt trong hoạt động thảo luận nhóm tôi hướng dẫn học sinh hoàn toàn tuân
thủ theo các nguyên tắc tổ chức dạy học theo nhóm, đàm thoại và thảo luận
đối với tất cả các môn học và phải phù hợp với nội dung, kiến thức môn Toán.
* Biện pháp 6: Xây dựng phong trào học Toán ngoài giờ:
Với các biện pháp trên, hàng tuần tôi thường kiểm tra một số em trong
lớp ( cụ thể những em học yếu) ở tiết ôn luyện Toán, tôi thấy kỹ năng giải
toán của các em có phần tiến bộ hơn. Tuy nhiên, hàng tháng tôi cũng ra cho
các em làm một số bài toán giải có lời văn dạng tương tự ( không giống hoàn
toàn với đề bài trong SGK), tôi nhận thấy các em lập sơ đồ và giải toán vẫn
còn lúng túng, chưa đạt yêu cầu. Vì thế, hàng tháng tôi lại tổ chức thi đua
giữa các nhóm học tập về lập sơ đồvà giải toán với những đề toán không có ở
SGK để các em giải toán hoàn chỉnh hơn ( có phát thưởng)
Ví dụ:
+ Mỗi nhóm cử 2 em, yêu cầu em khá (giỏi) lập sơ đồ phân tích, em
học trung bình sẽ dựa vào sơ đồ phân tích để giải toán.
* Nhóm nào làm nhanh, đúng, chính xác sẽ được nhận thưởng ( phần
thưởng có khi chỉ là một tờ báo Khoa học hoặc cây bút). Bên cạnh đó để tạo
không khí vui vẻ, tinh thần đồng đội cho các em, trong giờ sinh hoạt ( ôn
11
luyện Toán ) tôi thường tổ chức cho các em giải toán tiếp sức với phương
thức sau:
+ Mỗi dãy chọn 3 em ( 2 dãy 6 em ), chia thành 2 đội A và B, mỗi đội 3
em. Các em bốc thăm đề toán:
* Yêu cầu tiếp sức như nhau: em đầu tiên sẽ tóm tắt đề toán xong sẽ
chuyển sang bạn tiếp theo lập sơ đồ phân tích và em cuối cùng sẽ giải bài
toán.
Giáo viên có thể ra bài toán: Một người mua gạo nhiều hơn ngô là 32


Mẹ :
?

42 tuổi
Khi học sinh nêu kết quả giáo viên yêu cầu học sinh giải thích em đã
thực hiện bài làm như thế nào ?

VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
* Trong suốt thời gian qua với tinh thần vì các em học sinh thân yêu,
tôi đã kiên trì thực hiện các biện pháp trên. Qua kiểm tra nhiều lần đặc biệt là
lần kiểm tra định kỳ giữa kỳ II vừa qua chất lượng môn Toán lớp tôi như sau:
12
LỚP Đợt Sỉ số
G K TB Y
SL % SL % SL % SL %
4B GHKII 40 20 60% 16 40% 4 10% 0 0
Tuy nhiên qua bài kiểm tra tôi đã thống kê được về việc giải toán có lời
văn của lớp như sau:
- Biết tóm tắt và giải đúng: 20 em, tỉ lệ : 50%.
- Giải toán còn theo quán tính: 10 em, tỉ lệ : 25%.
- Kĩ năng tính toán sai: 7 em, tỉ lệ : 17,5%.
- Giải toán sai 3 em, tỉ lệ : 7,5%.
So với kết quả khảo sát đầu năm thì tình hình chất lượng giải toán của
lớp có sự chuyển biến rõ rệt. Cụ thể:
- Biết tóm tắt và giải đúng tăng : 10 em, tỉ lệ tăng : 25%.
- Giải toán còn theo quán tính giảm: 3 em, tỉ lệ giảm : 6,5%.
- Kĩ năng tính toán sai, nhầm giảm: 3 em, tỉ lệ giảm: 7,5%.
- Giải toán sai giảm : 4 em, tỉ lệ giảm: 10%.
Với kết quả đó, tất nhiên vẫn còn một số em giải toán chưa đạt yêu cầu

thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của đồng
nghiệp để đề tài của tôi ngày càng đạt hiệu quả cao.
VIII. ĐỀ NGHỊ:
A) Phụ huynh:
+Thường xuyên nhắc nhở con em học bài ở nhà.
+Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập cho con em.
+Mỗi học sinh phải có góc học tập.
B) Nhà trường:
+Thường xuyên khen thưởng, tuyên dương những học sinh yếu có tiến
bộ trong các tiết chào cờ hằng tuần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status