1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI
TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 1
2
PHẦN MỞ ĐẦU
I-Bối cảnh của đề tài:
Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bật. Nó có tác dụng lớn
đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu. Nó là một môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta
nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học
tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo. Nó
còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác như: Cần cù và nhẫn nại, tự lực
cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lý.Để đáp ứng những yêu cầu
mà xã hội đặt ra, Giáo dục và đào tạo phải có những cải tiến, điều chỉnh, phải thay đổi về nội dung
chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp.Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác , chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
túng khi giải bài toán có lời văn. Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề
toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu
lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu
khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán một cách máy móc
nặng về dập khuôn, bắt chước.
II/ Thực trạng của vấn đề:
1.Kết quả khảo sát tại lớp 1D trường Tiểu học Phú Xuân
(Năm học:2010-2011)
Đề bài: (Bài tập 3 SGK Toán 1 trang 155)
Lớp 1A trồng được 35 cây,lớp 2A trồng được 50 cây.Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây? Xếp loạiĐiểm
Số học sinh
đạt/Tổng số
Lỗi của học sinh trong bài khảo sát
Tỉ lệ
%
Giỏi 9 - 10 4/22 18,2%
Khá 7 - 8 5/22 Trình bày còn bẩn, câu lời giải chưa
chuẩn
22,7%
Trung
bình
5 - 6 7/22 Chỉ làm đúng phép tính, và đáp số
đúng, sai tên đơn vị, sai câu lời giải
lớp 1 là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả.
Vốn từ, vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế của học sinh lớp 1 còn rất hạn chế nên khi giảng dạy
cho học sinh lớp 1 giáo viên đã diễn đạt như với các lớp trên làm học sinh lớp 1 khó hiểu và không
thể tiếp thu được kiến thức và không đạt kết quả tốt trong việc giải các bài toán có lời văn.
Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy mạch kiến thức: “Giải toán có lời
văn” ở lớp 1 còn thiếu linh hoạt.
Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để nêu vấn đề.
Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các nhóm cũng như các đối tượng học
sinh trong quá trình học.
Khả năng kiên trì của học sinh lớp 1 trong quá trình học nói chung cũng như học “Giải toán có
lời văn” nói riêng còn chưa cao.
III/ Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề :
1) Nắm bắt nội dung chương trình
Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, "Giải bài toán có lời văn" nói riêng, điều đầu tiên
mỗi giáo viên phải nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa.Trong chương trình
5
toán lớp Một, giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên chưa thể dạy ngay "Bài toán có
lời văn". Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới được chính thức học cách giải "Bài toán có
lời văn" song chúng ta đã có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài "Phép cộng
trong phạm vi 3 (Luyện tập) " ở tuần 7.
Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 35 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng, trừ trong
phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng "Nhìn tranh nêu phép tính" ở đây học
sinh được làm quen với việc:
- Xem tranh vẽ.
- Nêu bài toán bằng lời.
- Nêu câu trả lời.
- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh).
Ví dụ: Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời : "Có 1 quả bóng
trắng và 2 quả bóng xanh. Hỏi có tất cả mấy quả bóng?" rồi tập nêu miệng câu trả lời : "có tất
cả 3 quả bóng", sau đó viết vào dãy năm ô trống để có phép tính :
- Tóm tắt bằng lời:
Ví dụ 1: Lan : 3 quyển
Vy : 2 quyển
Cả hai bạn có: quyển?
-Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Ví dụ 2: Bài 2 trang 123
A 5 cm B 3 cm C
? cm
-Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật:
Ví dụ 3 :
Có :
Thêm :
Có tất cả : con thỏ?
7
Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng.
Với cách viết thẳng theo cột như: 14 quyển và 26 quả
12 quyển 33 quả
quyển ? quả?
Kiểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý cho học
sinh lựa chọn phép tính giải.
Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học sinh dựa vào tóm tắt
nêu đề toán. Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình không nên vội vàng yêu cầu các em
phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phép tính và đáp số để có một bài
chuẩn mực ngay từ tuần 23, 24. Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao
đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) trẻ đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu.
b) Tìm đường lối giải bài toán.
Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm.
em chỉnh sửa thành câu lời giải: "Số gà nhà An có tất cả là" v.v
Ở đây giáo viên cần tạo điều kiện cho các em tự nêu nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó
bàn bạc để chọn câu thích hợp nhất. Không nên bắt buộc học sinh nhất nhất phải viết theo
một kiểu.
c) Trình bày bài giải
Có thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy. Thực tế hiện nay
các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải còn rất hạn chế, kể cả học sinh khá giỏi. Cần rèn cho
học sinh nề nếp và thói quen trình bày bài giải một cách chính xác, khoa học, sạch đẹp dù
trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm tra. Cần trình bày bài giải một bài
toán có lời văn như sau:
Bài giải
Nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 ( con gà )
Đáp số : 9 con gà
Nếu lời giải ghi: "Số gà nhà An là:" thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 = 9 (con)”. (Lời giải đã
có sẵn danh từ "gà").
Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao từ "con gà" lại được đặt trong dấu ngoặc đơn?Đúng ra
thì 5 + 4 chỉ bằng 9 thôi (5 + 4 = 9) chứ 5 + 4 không thể bằng 9 con gà được. Do đó, nếu
viết:"5 + 4 = 9 con gà"là sai.Nói cách khác,nếu vẫn muốn được kết quả là 9 con gà thì ta phải
viết như sau mới đúng: "5 con gà + 4 con gà = 9 con gà". Song cách viết phép tính với các
9
đơn vị đầy đủ như vậy khá phiền phức và dài dòng, gây khó khăn và tốn nhiều thời gian đối
với học sinh lớp 1.Ngoài ra học sinh cũng hay viết thiếu và sai như sau:
5 con gà + 4 = 9 con gà
5 + 4 con gà = 9 con gà
5 con gà + 4 con gà = 9
Về mặt toán học thì ta phải dừng lại ở 9, nghĩa là chỉ được viết 5 + 4 = 9 thôi.
Song vì các đơn vị cũng đóng vai trò rất quan trọng trong các phép tính giải nên vẫn phải
tìm cách để đưa chúng vào phép tính. Do đó, ta mới ghi thêm đơn vị "con gà" ở trong dấu
ngoặc đơn để chú thích cho số 9 đó. Có thể hiểu rằng chữ "con gà” viết trong dấu ngoặc đơn
tranh vẽ học sinh đã định ra được cách giải bài toán. Trong những trường hợp này bắt buộc
giáo viên phải sử dụng tranh vẽ và phương pháp trực quan.
b) Phương pháp hỏi đáp (đàm thoại) :
Sử dụng khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích đề bài, tìm đường lối giải, chữa bài
làm của học sinh
c) Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
Với mục đích giúp các em khắc sâu những kiến thức về “Giải toán có lời văn” trong quá
trình giảng dạy giáo viên nên áp dụng phương pháp dạy học này.
Ở mỗi dạng toán “thêm, bớt” giáo viên có thể biến tấu để có những bài toán có vấn đề.
Chẳng hạn bài toán “bớt” trở thành bài toán tìm số hạng, bài toán “thêm” trở thành bài toán
tìm số trừ.
Giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề bằng cách cho sẵn lời giải, học sinh tự đặt phép
tính hoặc cho sẵn phép tính học sinh đặt câu lời giải. Cho hình vẽ học sinh đặt lời bài toán và
giải.
Với những tình huống khó có thể phối hợp với các phương pháp khác để giúp học sinh
thuận lợi cho việc làm bài như : Phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp kiến tạo
IV/ Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm :
- Năm học 2009 - 2010: Dạy bình thường theo khả năng và thực tế, đồng thời tìm hiểu, tập
hợp số liệu, thực hiện kiểm tra khảo sát.
- Năm học 2010 - 2011: áp dụng kinh nghiệm vào thực tế giảng dạy và tiếp tục tìm hiểu và
bổ xung những kinh nghiệm thu được, thực hiện kiểm tra khảo sát.
Bảng kết quả kiểm chứng (Qua hai năm thực nghiệm áp dụng kinh nghiệm)
Sĩ Kết quả thu được qua kiểm tra khảo sát
11
Năm học số
lớp
Đặt câu lời
giải phù hợp
bản thân tôi chiêm nghiệm, trăn trở bằng một tình yêu nghề nghiệp, hy vọng nó sẽ cùng các bạn
đồng nghiệp gần xa trao đổi để hoàn thành xứ mệnh vẻ vang mà Đảng và nhà nước trao cho nghề
thầy giáo.
Đối với học sinh lớp Một, các em thực sự là những mầm cây còn rất non nớt, để có được một
cây to, cây khoẻ, mỗi giáo viên dạy lớp Một ngoài việc uốn nắn ,buộc tỉa phải biết chăm sóc để
các em được phát triển một cách toàn diện. Làm tốt việc dạy “Giải toán có lời văn “cho học sinh
12
lớp Một sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Từ đó
các em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các lớp trên.
II) Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
- Mỗi giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, cấu trúc sách giáo khoa về “Giải toán có
lời văn” ở lớp Một để xác định được trong mỗi tiết học phải dạy cho học sinh cái gì, dạy như thế
nào?
- Đối với học sinh tiểu học và đặc biệt là học sinh lớp Một, cần coi trọng sử dụng trực quan
trong giảng dạy nói chung và trong dạy “Giải toán có lời văn” nói riêng, tuy nhiên cũng không vì
thế mà lạm dụng trực quan hoặc trực quan một cách hình thức.
- Dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một không thể nóng vội mà phải hết sức bình tĩnh,
nhẹ nhàng, tỷ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành cho các em một phương pháp tư duy
học tập. Đó là tư duy khoa học, tư duy sáng tạo, tư duy lô gic. Rèn cho các em đức tính chịu khó
cẩn thận trong “Giải toán có lời văn”.
- Vận dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp, linh hoạt phát huy tính tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh.
III) Những vấn đề hạn chế còn tồn tại:
Thực tế cho thấy chương trình môn toán lớp Một còn nặng ở một số bài, một số tiết về “Giải
toán có lời văn” .Phần thời gian dành cho “Giải toán có lời văn” thường ở cuối tiết nên đôi khi bị
phần trên lấn sang, làm cho nội dung này phải thực hiện một cách vội vàng, chưa thoả đáng.
Còn có vướng mắc về từ ngữ đối với học sinh lớp Một nên cũng là một khó khăn trở ngại đối
với giáo viên trong dẫn dắt gợi mở cho học sinh.
Lời kết: Người xưa nói: “Ngôn dị – hành nan”, nói dễ làm khó. Tuy vậy tôi khẳng định với các
III/ Phạm vi nghiên cứu
IV/ Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
I/ Cơ sở lý luận
II/ Thực trạng của vấn đề
III/ Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề
IV/ Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
V/ Nguyên nhân thành công , tồn tại
PHẦN KẾT LUẬN
I/ Những bài học kinh nghiệm
II/ Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
III/ Những vấn đề hạn chế còn tồn tại
1
1
1
2
2
2
2 , 3
4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9
10
10
11
11
11