Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy Toán có lời văn lớp 1. - Pdf 33

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
Phường 4, ngày 15 tháng 9 năm 2013

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
-Tên sáng kiến:
Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở
lớp 1.
-Tên cá nhân thực hiện: Trần Kim Oanh
-Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày 15/9/2012 đến ngày đến ngày
30/5/2013.
1.Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Việc học giải toán có lời văn đối với học sinh lớp 1 còn khá mới mẻ các em còn
gặp nhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội tri thức đặc biệt là những em có sức học
trung bình, yếu . Xuất phát từ những lý do trên, qua quá trình nghiên cứu nội dung,
chương trình dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1, tôi thấy sự cần thiết phải tìm ra “
Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn ở lớp
1” Đây là một việc làm cần thiết góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở
tiểu học. Đó cũng chính là lý do để viết bản sáng kiến kinh nghiệm này.
2.Phạm vi triển khai thực hiện:
- Thực hiện ở lớp 1C
- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 1
- Thực hiện toàn trường
* Thuận lợi:
Được sự quan tâm giúp đỡ và chỉ đạo sâu sắc của BGH nhà trường, tổ chuyên
môn và các đoàn thể của trường.
Được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Phòng GD & ĐT Thành phố Cà Mau
bằng các văn bản pháp quy. Tất cả các ban ngành đã tạo điều kiện tốt cho bản thân
để nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Qua việc tự bồi dưỡng kiến
thức nâng cao trình độ chuyên môn, trang thiết bị cơ sở vật chất đến việc chăm lo
đời sống tinh thần cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên và học

Nhiễu thông tin (quá chú ý vào danh số )như: con vịt, con gà, bạn trai, bạn gái mà
không chú ý: cái cần tìm, hoặc đáp ứng được một phần yêu cầu bài: viết kết quả vào
tóm tắt, thiếu lời giải, sai danh số, kết quả…
Khả năng diễn đạt của các em còn hạn chế, dẫn đến một số em đặt lời văn cho
bài toán còn dài dòng,nhưng không đủ ý.
Bản sáng kiến kinh nghiệm này có thể áp dụng cho các giáo viên dạy lớp 1 của
trường trong việc dạy học giải các bài toán có lời văn.
3.Mô tả sáng kiến: Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học
giải toán có lời văn ở lớp 1.
a/ Mục tiêu dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1:
Nhằm giúp học sinh nhận biết:
- Nhận biết bước đầu về cấu tạo của bài toán có lời văn .
- Biết giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng hoặc một phép tính trừ,
chủ yếu là các bài toán thêm, bớt một số đơn vị .
- Biết trình bày bài giải gồm: Câu lời giải, phép tính, đáp số.
- Bước đầu phát triển tư duy, phương pháp giải toán và khả năng diễn đạt:
nói, viết.
b/ Nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1.
Bài toán: “ thêm”
- Ở dạng bài tập này, học sinh bước đầu làm quen từ :
Sau khi xem tranh vẽ: ( Ví dụ bài tập 5 trang 46, sách giáo khoa toán 1- nhà
xuất bản 2006) học sinh tập nêu bằng lời: “Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng
xanh. Hỏi tất cả có mấy quả bóng ? “xong tập cho học sinh nêu miệng câu
trả lời: có tất cả ba quả bóng sau đó viết vào dãy 5 ô trống để có phép tính:
1
+
2
=
3


hoàn chỉnh (có thể có hoặc không kèm theo tranh minh họa). Kèm theo mẫu: tóm
tắt, mẫu bài giải hoàn chỉnh:
+ Lời giải
+ Phép tính giải
+ Đáp số
Kèm theo viết đơn vị vào kết quả.
Ví dụ:
Bài giải
Nhà An có tất cả là:
5 + 4 = 9 (con vịt)
Đáp số: 9 con vịt
Bài toán “bớt”
- Ở dạng bài tập này, học sinh bước đầu được làm quen từ ;
- Sau khi xem tranh vẽ ( Ví dụ : Bài tập 3 trang 54, sách giáo khoa toán 1) .
Học sinh tập nêu bằng lời : “ Có 3 con chim đậu trên cành, bay đi 2 con. Hỏi
còn lại mấy con chim ?” . Xong, học sinh nêu miệng câu trả lời: “ Trên cành
còn một con chim “ . sau đó, viết phép tính thích hợp vào 5 ô trống:
3
1
=
2
- Ở giai đoạn này, học sinh mới được làm quen với phép tính (bớt) nên thao
tác quan sát – nêu lời – câu trả lời và điền phép tính thích hợp. Chưa đọc- viết danh
số hoặc hư số vào dấu ngoặc sau kết quả.
- Tiếp theo học sinh được làm quen với đọc và tóm tắt đề toán , ở giai đoạn
này quan sát tranh được loại bỏ bớt, nâng yêu cầu cao hơn (trí tưởng tượng thông
qua đọc và tóm tắt đề toán ) .Ví dụ bài tập 3b trang 87 SGK:
Có: 10 quả bóng
Cho: 3 quả bóng
Còn:…..quả bóng?

toán. Sau khi giúp học sinh đọc và tóm tắt được đề toán, giáo viên nên thao tác
“Muốn biết … em làm tính gì?(tính cộng ;trừ) ta lấy mấy cộng(hoặc trừ) mấy? Tới
đây giáo viên nên chú ý: Kết quả(số) đây là kèm theo đơn vị ta nên viết (con vịt)vào
trong ngoặc đơn.
Ví dụ: 5 + 4 = 9 (convịt)
- Để tránh sai lầm, khó khăn thường mắc phải trong viết câu lời giải giáo viên
nên áp dụng một số cách sau:
- Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối (mấy…) hoặc
(bao nhiêu…) và cùng dấu hai chấm(:) hoặc là (hai chấm).
Ví dụ:
+ Nhà An có tất cả :
+ Nhà An có tất cả là:
Đưa danh số lên đầu câu hỏi thay thế từ hỏi thêm số ở đầu câu và là ở cuối
câu.
Ví dụ : Số con vịt nhà An có tất cả là:
- Dựa vào dòng tóm tắt cuối cùng: Có tất cả …..con vịt thêm từ nhà An để có:
Nhà An có tất cả…..
- Tạo điều kiện cho học sinh làm việc độc lập trong giờ học, gợi ý về thủ
thuật làm bài cho học sinh, lựa chọn hệ thống bài hợp lý, đặc trưng để học sinh có
điều kiện rèn luyện kỹ năng thực hành giải toán có lời văn.
- Khi giảng dạy cần theo dõi sự chú ý của học sinh trong mạch kiến thức
này, Luôn đổi mới và áp dụng phương pháp dạy học tích cực đối với việc dạy học,
đảm bảo chất lượng giảng dạy.Duy trì các biện pháp giáo dục hợp lý:


Trình bày bài mới nên áp dụng những biện pháp gây hứng thú trong việc tiếp
thu kiến thức kĩ năng cho học sinh liên hệ kiến thức với đời sống thực tế học sinh,
làm nổi bật những điểm mới , đặt câu hỏi theo nhiều cách khác nhau cho học sinh,
để các em có nhiều cơ hội biểu hiện mức độ hiểu bài.
- Đặc biệt, trong kĩ thuật trình bầy lời giải , giáo viên nêu yêu cầu về viết câu

bài.
- Trình bày bài giải lưu ý các dấu câu như dấu hai chấm, dấu ngoặc đơn, đơn
vị.
4/ Kết quả, hiệu quả mang lại:
Sau khi áp dụng một một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học
giải toán có lời văn ở lớp1 . Bước đầu thu được một số kết quả nhất định ,học sinh
có sự chuyển biến tích cực và thực hiện tốt các yêu cầu của bài tập, được áp dụng ở
lớp 1C . Mục đích của nội dung nghiên cứu này nhằm hỗ trợ cho Giáo viên và học
sinh trong quá
trình dạy học đạt kết quả tốt hơn. Cụ thể kết quả đạt được trong năm học 2010-2011
như sau:
Chất lượng học lực môn toán lớp 1C học kì I:
GIỎI
KHÁ
TRUNG BÌNH
YẾU
Số HS


SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
10
25
10

- Từ những kinh nghiệm và hiệu quả đạt được tôi sẽ tiếp tục áp dụng kinh
nghiệm này để nâng cao khả năng học tốt các bài toán có lời văn lớp 1.
Tôi tự nhận thấy mình đã tìm được hướng đi đúng , cách làm phù hợp cho
việc nâng cao chất lượng giảng dạy bài toán có lời văn. Trong mỗi giờ dạy bản thân
mình cũng tạo được sự say mê, hứng thú trong việc rèn cho các em học các bài toán
có lời văn.Rất mong Ban giám hiệu và các đồng nghiệp góp ý để tôi hoàn thiện hơn
bản sáng kiến này.
6/ Kiến nghị, đề xuất:
Qua những kết quả đạt được trong giảng dạy và quá trình nghiên cứu và áp
dụng tôi xin đề xuất với các cấp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho
học sinh như sau:
- Bộ phận chuyên môn phòng giáo dục mở các lớp học tập nâng cao công tác
giảng dạy bộ môn toán lớp 1 cụ thể là những phương pháp nhằm kích thích sự
hăng say học toán có lời văn cho học sinh lớp 1.
- Tổ chuyên môn lớp 1 cần đưa sáng kiến kinh nghiệm cùng bàn bạc, rút
kinh nghiệm thêm trong tổ để áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp.
Trên đây là kinh nghiệm : “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học
giải toán có lời văn ở lớp 1”. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng
khoa học để kinh nghiệm được hoàn chỉnh và được áp dụng vào thực tế giảng
dạy.
Ngày 19 tháng 3 năm
2012
Người báo cáo
Ý kiến xác nhận
Của thủ trưởng đơn vị

Trần Kim Oanh


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

2. Phạm vi triển khai thực hiện:


- Thực hiện ở lớp 2
- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 2
- Thực hiện toàn trường
1
3.Mô tả sáng kiến:
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc dạy tập viết cho học sinh tiểu học:
a) Lý thuyết hoạt động:
Viết chữ chính là quá trình thực hiện một loại hoạt động. Hoạt động viết của
học sinh được thực hiện qua thao tác sau:
- Làm quen với đối tượng: Khi giáo viên hướng dẫn thì trẻ sẽ tri giác bằng
mắt, tai và tay sẽ làm theo.
- Nói điều mình tri giác được, vừa nói vừa đưa tay theo các đường nét của
chữ cái để nhấn mạnh cách viết đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng chữ đó.
- Nói thầm kiến thức mới thu nhập được để tái hiện hình ảnh đó trong óc
trước khi viết.
- Làm thử: Hình ảnh đã có trong óc cần được thể hiện trên bảng, trên giấy
bằng các dụng cụ như bút bảng, phấn, bút mực.
- Kiểm tra lại kết quả so với mẫu để rút kinh nghiệm cho lần sau.
b) Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:
- Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ. Các cơ và xương bàn tay của
trẻ đang độ phát triển nhiều chỗ còn sụn nên cử động các ngón tay vụng về, chóng
mệt mỏi.
- Khi cầm bút các em có tâm lý sợ rơi. Điều này gây nên một phản ứng tự
nhiên là các em cầm bút chặt, các cơ tay cứng nên khó di chuyển.
- Muốn có thói quen viết chữ nhẹ nhàng, thoải mái, trước hết học sinh phải
biết kỹ thuật cầm bút bằng ba ngón tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa), bàn tay phải
có điểm tựa là mép cùi của bàn tay. Cầm bút phải tự nhiên, đừng quá chặt sẽ khó

trong các khâu chủ yếu sau:
- Quan sát chữ mẫu: Công việc này chủ yếu giúp học sinh nhận diện hình dạng,
cấu tạo, độ cao của chữ mẫu, từ đó hình thành và khắc sâu biểu tượng về chữ mẫu
cho học sinh.
Để việc quan sát đạt hiệu quả cao, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi định
hướng sự quan sát của học sinh về tên gọi của chữ (chữ cái, chữ số v.v), số nét
trong mỗi chữ cái (chữ số), thứ tự các nét; độ cao của con chữ v.v.
Giáo viên cũng cần đặt câu hỏi giúp học sinh nhận ra sự giống và khác nhau
của chữ mẫu với các chữ đã tập viết trước đó. Điều này sẽ giúp quá trình ghi nhớ
biểu tượng chữ viết được nhanh hơn và lâu bền hơn.
- Quan sát quy trình và kỹ thuật viết: Công việc này chủ yếu giúp học sinh nắm
được tọa độ các nét, thứ tự viết và hướng đi của từng nét, sự phối hợp và liên kết
giữa các nét. Từ đó nâng cao hiệu quả viết chữ (viết đúng, viết nhanh, viết đẹp).
Trong quá trình tổ chức quan sát, giáo viên cần coi trọng khâu làm mẫu của
giáo viên (có kết hợp với mô tả bằng lời), đồng thời nêu lên những câu hỏi định
hướng sự chú ý của học sinh vào quy trình và kỹ thuật viết chữ.
- Quan sát bài viết trên bảng phụ và trên vở tập viết: Công việc này chủ yếu
giúp học sinh rèn luyện kỹ năng trình bày bài viết với các yêu cầu tổng hợp mang
tính nâng cao: viết đúng mẫu, đúng cỡ, đúng khoảng cách; biết trình bày bài viết
sạch, đẹp v.v.


Giáo viên cần tổ chức cho học sinh so sánh giữa bài viết mẫu trên bảng với bài
viết trong vở tập viết để nhận ra sự giống nhau về cấu trúc (chỉ khác nhau về mức
độ phóng to cho học sinh dễ quan sát).
3

Điều quan trọng là học sinh phải xác định nội dung cần tập viết, vị trí bắt đầu
và kết thúc của mỗi đơn vị viết (chữ, từ v.v), cỡ chữ, số dòng cần hoàn thành v.v.
- Quan sát sản phẩm: Công việc này chủ yếu giúp học sinh rèn luyện kỹ năng

Đây là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong quy trình dạy tập viết cho học
sinh lớp 1 và được thực hiện trên vở tập viết.
Để hoạt động này đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần lưu ý:


- Tổ chức cho học sinh viết thử 1 chữ mẫu trong vở tập viết: Giáo viên cần yêu
cầu học sinh viết xong 1 chữ thì tạm dừng lại để thầy, cô giáo kiểm tra xem đã viết
đúng, viết đẹp chưa; từ đó sẽ có các hướng dẫn phù hợp từng học sinh trước khi
viết hết dòng đầu tiên.
- Yêu cầu học sinh khi viết xong mỗi dòng cần có ký hiệu thông báo cho giáo
viên biết (giơ bút lên 1 chút).
Thao tác này giúp giáo viên đo được tốc độ viết của từng học sinh trong lớp để
có biện pháp giúp đỡ tất cả học sinh hoàn thành nhiệm vụ bài viết.
2.4 Coi trọng hiệu quả khâu chấm, chữa bài.
Đây là khâu cuối cùng trong tiến trình giờ dạy tập viết và có vai trò quan trọng
trong việc đánh giá kỹ năng viết của học sinh trong mỗi giờ học.
Để hoạt động này đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần lưu ý:
- Tranh thủ chấm một số bài (khoảng 1/3 số học sinh trong lớp) của các đối
tượng học sinh khác nhau trong lớp (Yếu – Trung bình – Khá – Giỏi).
- Nhận xét công khai, ưu, khuyết điểm của từng bài và chỉ ra cách khắc phục
hạn chế, khuyết điểm (Không nêu tên học sinh có bài điểm yếu, kém).
- Tổ chức tuyên dương các bài viết đúng, đẹp.
2.5 Các yếu tố bổ trợ khác:
- Rèn luyện tư thế ngồi viết và cách cầm bút cho học sinh.
Tư thế ngồi viết và cách cầm bút cho học sinh có ảnh hưởng khá nhiều đến
chất lượng viết chữ và sức khỏe của học sinh. Việc rèn luyện cho học sinh tư thế
ngồi viết và cách cầm bút đúng quy định sẽ giúp các em dễ quan sát hướng đi của
nét chữ, dễ dàng điều khiển ngọn bút, do đó nét chữ sẽ mềm mại hơn; lâu mỏi tay
và tránh được các bệnh học đường: cong vẹo cột sống, cận thị v.v.
- Các yếu tố về cơ sở vật chất.

%

Loại C

%

35

11

31,4

20

57,2

4

11,4

35

17

48,6

18

51,4


...................................................
...................................................
...................................................
...................................................

Người báo cáo

Trịnh Nguyễn Hoàng Uyển


6
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
Phường8, ngày 20 tháng 2 năm
2013

BÁO CÁO
TÓM TẮT NỘI DUNG HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ Tập viết lớp 2
- Tên cá nhân thực hiện: Trịnh Nguyễn Hoàng Uyển
- Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày 15/9/2011 đến ngày đến ngày
30/5/2012.

1.Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
a. Tầm quan trọng của việc dạy tập viết cho học sinh lớp 2:
b. Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 2:
2.Phạm vi triển khai thực hiện:
- Thực hiện ở lớp 2
- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 2
- Thực hiện toàn trường


%

HKI

35

11

31,4

20

57,2

4

11,4

HKII

35

17

48,6

18

51,4

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
Phường 8, ngày 20 tháng 2 năm 2013

ĐỀ NGHỊ
CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng xét, công nhận sáng kiến Thành phố Cà Mau.
- Họ và tên: Trịnh Nguyễn Hoàng Uyển
- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Nguyễn Đình Chiểu.
Đề nghị Hội đồng sáng kiến công nhận sáng kiến năm 2013 như sau:
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong giờ Tập viết lớp 2
2. Sự cần thiết:
a. Tầm quan trọng của việc dạy tập viết cho học sinh lớp 2:
b. Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 2:
3. Nội dung cơ bản của sáng kiến:
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc dạy tập viết cho học sinh tiểu học:
a) Lý thuyết hoạt động:
b) Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:
c) Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:
2. Một số kinh nghiệm cần lưu ý khi dạy tập viết lớp 2.
2.1 Chuẩn bị chu đáo khi lên lớp
2.2 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh quan sát mẫu chữ và quy
trình, kỹ thuật viết chữ.
2.3 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh viết thử chữ mẫu.


2.4 Coi trọng hiệu quả khâu tổ chức cho học sinh thực hành luyện viết.
2.5 Các yếu tố bổ trợ khác:
4. Phạm vi áp dụng:
- Thực hiện ở lớp 2
- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 2

20

57,2

4

11,4

HKII

35

17

48,6

18

51,4

/

/

Ngày 20 tháng 2 năm
2013
Người đề nghị

Trịnh Nguyễn Hoàng
Uyển

- Thực hiện toàn trường
5.Hiệu quả đạt được:
Sau khi áp dụng một số biện pháp dạy học giải toán có lời văn đã đạt được kết
quả cụ thể sau:
Chất lượng học lực môn toán lớp 1C học kì I:
Số HS
GIỎI
KHÁ
TRUNG BÌNH
YẾU
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
10
25
10
25
12
30
8
20
Chất lượng học lực môn toán lớp 1C cuối năm :
Số HS
GIỎI
KHÁ


SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: Biện pháp nâng cao hiệu quả trong công tácchủ nhiệm lớp 1.
Họ và tên người thực hiện: Trần Thị Hồng Thảo
Chức vụ, nhiệm vụ đang phụ trách: P.Hiệu trưởng, phụ trách Chuyên môn
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Văn Lang

Năm 2013


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
Tân Thành 1, ngày 15 tháng 5 năm
2013

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
-Tên sáng kiến:

Một số biện pháp
RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2.


-Tên cá nhân thực hiện: Mạc Thúy Liễu
-Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ ngày 15/9/2011 đến ngày đến ngày
30/5/2012.

1.Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
GIÁO
& ĐÀO TẠO TP CÀ MAU

- Cường độ đọc chưa phù hợp, đọc quá to hoặc còn lí nhí.
- Đọc không rành mạch các đoạn đối thoại theo quy định của chương trình.
- Đọc không đúng theo thể loại văn bản hành chính, văn bản nhật dụng và các
văn bản nghệ thuật.
b) Đọc nhanh:
- Tốc độ đọc chậm so với quy định tối thiểu theo từng giai đoạn trong năm học
(60 tiếng/ phút, thời điểm cuối năm học).
- Chưa biết cách đọc thầm bằng mắt.
- Hình thức tổ chức đọc thầm chưa phù hợp.
c) Đọc hiểu:
- Sau khi đọc thầm HS chưa hiểu nội dung của bài.
- Khi đọc thầm bằng mắt một số còn mấp máy môi.
- Chưa hiểu được nghĩa của một số từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc) đặc biệt là
những từ xa lạ mang tính địa phương ; chưa nắm được nội dung các câu, đoạn và ý
nghĩa
bài.“ Tổ chức trò chơi học tập trong giờ dạy học đạo đức ở lớp 5”.
Tên
sángcủa
kiến:
Họ và tên người thực hiện: Nguyễn Thị Trúc Ly
Đọcnhiệm
xongvụ
không
được ýGiáo
chính
củachủ
đoạn,
không
Chức-vụ,
đanghiểu

các em đọc tốt hơn, qua nghiên cứu và kinh nghiệm của bản thân tôi xin chia sẽ “
Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 2”
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
- Thực hiện ở lớp 2
- Áp dụng ở tổ chuyên môn khối 2
- Thực hiện toàn trường
3.Mô tả sáng kiến:
a.
Luyện đọc đúng:
Học sinh thường gặp trong các trường hợp sau:
- Đọc sai phụ âm đầu: v / r / g ví dụ: rừng đọc thành “gừng”
- Đọc sai vần trong một số trường hợp: oa / ao (bông hoa đọc thành bông hao),
ươn / ương ( con lươn đọc thành con lương), ai / ay ( tay đọc thành tai)…
- Đọc sai âm cuối: uôn / uông (luôn luôn đọc thành luông luông)…
• Nguyên nhân: Do đặc điểm vùng miền nơi các em sinh sống dẫn đến các
em hay phát âm sai.
• Biện pháp: (Hướng dẫn học sinh luyện đọc lại từ đúng)
- Trong quá trình diễn ra hoạt động đọc giáo viên theo dõi học sinh đọc, nếu em
nào đọc sai, phát âm sai ở tiếng, từ giáo viên có thể yêu cầu các em đọc và sửa chữa
ngay ở tiếng đó, có như vậy thì hiệu quả rèn luyện học sinh đọc đúng mới tốt và kịp
thời.
Trước hết chúng ta còn bồi dưỡng cho học sinh có ý thức nói, đọc đúng chính
âm. Tiếp đó cần nắm những biện pháp bao gồm biện pháp luyện đọc mẫu, biện
pháp cấu âm và biện pháp đọc mẫu âm, đúng qua âm trung gian. Tuỳ thuộc vào âm,
thanh sai lệch, tuỳ thuộc vào học sinh mà giáo viên lựa chọn biện pháp luyện tập
thích hợp. Chữa lỗi phát âm bằng một biện pháp luyện theo mẫu. Bằng phát âm
mẫu của mình, giáo viên đưa ra trước cách phát âm chuẩn các từ cần luyện, yêu cầu
học sinh phát âm theo.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ngày hội đua voi ở Tây Nguyên” : học sinh đọc câu “ Các
chị mặc những chiếc váy thêu rực rỡ ” trong câu này học sinh có thể đọc sai tiếng

Đối với việc hướng dẫn học sinh đọc ngắt, nghỉ hơi đúng sau các dấu câu và
giữa các cụm từ, hoạt động này là trọng tâm. Giáo viên cần hướng dẫn các em nhận
biết các dấu hiệu thay thế cho từ ngắt, nghỉ hơi: / (ngắt hơi), // (nghỉ hơi).
• Ngắt, nghỉ hơi đúng các cụm từ, câu trong đoạn.
- Đối với nhũng học sinh chưa ngắt nghỉ đúng theo các dấu câu giữa các cụm
từ thì giáo viên cần cho các em xác định được các ký hiệu của việc ngắt nghỉ nhịp: /
(ngắt hơi), // (nghỉ hơi) hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ đúng sau các dấu câu và giữa
các cụm từ và nắm được ý nghĩa của các cụm từ hoặc các câu trong đoạn đọc.
Ví dụ:
Cảnh đẹp non sông
Đồng Đăng/ có phố Kì Lừa//
Có nàng Tô Thị / có chùa Tam Thanh.//
Hải Vân / bát ngát nghìn trùng//
Hòn Hồng sừng sững / đứng trong vịnh Hàn.//
- Đọc đúng theo thể loại văn bản chính, văn bản nhật dụng và văn bản nghệ
thuật:
Đây là một nội dung mới với giáo viên và học sinh vì so với chương trình trước đây
thường biên soạn SGK theo quan điểm dạy văn là dạy người cho nên hạn chế đến
tính tổng thể của môn Tiếng Việt và yêu cầu của xã hội nên chương trình mới đưa
vào SGK những văn bản hành chính, văn bản nhật dụng đan xen văn bản nghệ thuật
làm nên tính đa dạng và phong phú của SGK Tiếng Việt. Cho nên từng loại văn bản
khác nhau có các cách đọc khác nhau. Đối với văn bản hành chính và văn bản nhật
dụng cần đọc rõ ràng, rõ nội dung thông báo, đối với văn bản nghệ thuật (thơ, văn,
kịch, truyện vui…) nội dung này chú ý cách đọc của từng thể loại nhưng cần chú ý
đến mức độ đọc đúng – hiểu đúng, giọng đọc phù hợp với nội dung từng nhân vật.
1. Luyện đọc nhanh:
- Tốc độ đọc chậm so với quy định tối thiểu theo từng giai đoạn trong năm học
(60 tiếng/ phút, thời điểm cuối năm học).
- Chưa biết cách đọc thầm bằng mắt.
- Hình thức tổ chức đọc thầm chưa phù hợp.

Đọc diễn cảm:
Sau khi học sinh đã nắm được cơ bản nội dung bài học, giáo viên hướng dẫn
học sinh đọc diễn cảm gắn liền với ngữ điệu và các yếu tố phi ngôn ngữ như: nét
mặt, cử chỉ, điệu bộ làm bộc lộ được cảm xúc khi các em đọc bài. Khi hướng dẫn
đọc diễn cảm giáo viên không thể không lưu ý cho học sinh những từ ngữ có trong
bài cần được nhấn giọng khi đọc.
Muốn đạt được hiệu quả cao trong việc hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm thì
giáo viên phải thường xuyên khuyến khích các em có một tâm lí thoải mái và mạnh
dạn thể hiện ngữ điệu cũng như các yếu tố phi ngôn ngữ một cách tự nhiên dí dỏm,
tạo cho không khí lớp học sôi nổi và phong phú. Tuyệt đối không ngắt ngang khi
HS đang đọc vì chưa thể hiện đúng theo ý giáo viên, sẽ làm ức chế tâm lí đối với
các em, từ đó các em không dám tham gia vào các hoạt động này. Cái đích cần
phấn đấu là học sinh có thể đọc diễn cảm một cách tự nhiên.
Phương pháp tiến hành:
Sau khi nhận lớp, tôi đã cho lớp ổn định chung về cách tổ chức lớp. Qua tìm
hiểu điều tra để nắm chắc đối tượng học sinh về lựa chọn đặc biệt là về kỹ năng đọc
và phân loại học sinh theo ba đối tượng:
Đối tượng 1 : Học sinh biết đọc hiểu và đọc diễn cảm
Đối tượng 2 : Học sinh mới chỉ biết đọc to, rõ, lưu loát.
Đối tượng 3 : Học sinh đọc nhỏ, lí nhí, ấp úng, ngọng.
Dựa vào đó, tôi đã sắp xếp chỗ cho học sinh những em đọc yếu ngồi cạnh
những em đọc khá, đọc tốt để đôi bạn cùng tiến. Tôi tiến hành công việc tiếp theo là
giới thiệu cấu tạo chương trình môn Tập đọc để các em nắm được các chủ đề chính
trong từng học kỳ và cả năm học. Đồng thời nêu tầm quan trọng yêu cầu cơ bản về
việc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và đọc diễn cảm giúp các em cảm thụ bài văn, bài
thơ của từng chủ để hướng dẫn mỗi em đóng một quyển sổ để ghi những câu,
những đoạn, bài văn, bài thơ hay có giá trị nội dung về nghệ thuật.


Sau khi tiến hành như vậy và giảng dạy cho các em theo các bước sau:

đề thuộc tầm sâu hơn như ý nghĩa, nội dung bài đọc, thái độ của tác giả, tính cách
của nhân vật.
Quá trình tìm hiểu bài, giáo viên cũng cần rèn luyện cho học sinh cách trả lời
câu hỏi, diễn đạt ý bằng câu văn ngắn gọn, rõ ràng bằng ngôn ngữ của mình, không
trình bày bằng nguyên vẹn câu văn, câu thơ trong sách, sau khi học sinh nêu ý kiến,
học sinh khác bổ sung nhận xét. Giáo viên nên sơ kết để khắc sâu, nhấn mạnh ý
chính và ghi bảng nếu cần thiết.
Qua lớp 1, học sinh lớp 2 đã có điều kiện và kỹ năng để đọc hiểu và diễn cảm
tốt. Đọc diễn cảm chính là nghệ thuật đọc thơ văn được tiến hành trong những điều
kiện của nhà trường.
Đối với học sinh:
Trước khi học bài tập đọc, GV dặn học sinh đọc nhiều lần ở nhà cho trôi chảy
và chuẩn bị trước phần câu hỏi tìm hiểu nội dung bài trong SGK đề ra các yêu cầu
phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Ví dụ: Bài Mưa bóng mây Tiếng Việt 2 tập 2
Cần đọc với giọng nhẹ nhàng, ngắt đúng, nhấn giọng ở từ gạch dưới.


Ví dụ: Khi hướng dẫn các em đọc bài “Bé nhìn biển” thì giáo viên cần hướng
dẫn học sinh đọc với giọng vui tươi, sắc mặt phấn khởi và nhấn giọng một số từ
biểu thị tính chất như to, trẻ con hay chỉ hoạt động như phì phò…
Đối với bài “Chú ở bên Bác HồChiếc rễ đa tròn” cần hướng dẫn học sinh đọc
với giọng trầm pha chút trang nghiêm kết hợp với cách ngắt nhịp, nhấn giọng, kéo
dài ở một số từ và cao giọng ở cuối câu hỏi.
Thường thì các bài thơ được sáng tác theo thể thơ lục bát mang một âm điệu
mượt mà, tình cảm của thể thơ truyền thống dân tộc. Tuy vậy, phải dựa vào các
dòng cụ thể để ngắt giọng cho đúng. Chỉ có ngắt nhịp đúng câu thơ tìm ý nghĩa của
đoạn thơ mới bộc lộ cho người nghe thấy được vẻ đẹp của đất nước Việt Nam
Các biện pháp khác:
- Sau khi nhận lớp tôi đã tiến hành phân loại các đối tượng học sinh theo khả

Thời
Đọc nhỏ, sai
Đọc to, rõ ràng
Sĩ số
cảm
điểm
SL
%
SL
%
SL
%
27
Đầu năm
7
25,9
17
63
3
11,1
27
GHKI
2
7.4
19
70.4
6
22.2



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status