Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 - Pdf 31

Lụứi noựi ủau
Trong chng trỡnh giỏo dc tiu hc, toỏn hc c coi l mt mụn hc
cụng c, l chỡa khúa gin d v quý bỏu m ca cho cỏc ngnh khoa hc
khỏc, gúp phn t nn múng cho vic hỡnh thnh v phỏt trin nhõn cỏch ca
hc sinh; giỳp hc sinh phỏt trin t duy logic, trớ tu, rốn luyn phng phỏp
suy lun, gii quyt vn mt cỏch khoa hc, chớnh xỏc, nhn thc ỳng n
v th gii xung quanh t ú hnh ng cú hiu qu trong thc tin. Nh vy
cú th núi, toỏn hc cú vai trũ rt quan trng.
bt nhp vi s phỏt trin ca xó hi, chng trỡnh giỏo dc tiu hc
núi chung, chng trỡnh mụn toỏn núi riờng cng cú nhiu thay i. C th, t
nm hc 2001 2002, cựng vi cỏc mụn hc khỏc, mụn Toỏn tiu hc c
xõy dng mi trờn quan im k tha chng trỡnh Ci cỏch Giỏo dc nm
1981; tng cng thc hnh, gim lớ lun, phự hp vi thc tin Vit Nam;
c trỡnh by di ỏnh sỏng ca toỏn hc hin i, tip cn vi trỡnh chung
ca cỏc nc phỏt trin trong khu vc v trờn th gii. Tuy nhiờn trong quỏ
trỡnh ging dy thc t, nhiu giỏo viờn v hc sinh vn gp khụng ớt khú khn
c bit l vi ni dung gii toỏn cú li vn mt dng toỏn khú i vi hc
sinh tiu hc. Vi hc sinh lp 4, nhn thc ca cỏc em ó cú tin b hn song
cỏc em vn rt lỳng tỳng vi dng toỏn ny dn n kt qu hc tp cha kh
quan.
Vi mong mun gúp phn nõng cao cht lng gii toỏn cú li vn cho
hc sinh tiu hc núi chung, hc sinh lp 4 núi riờng, tụi mnh dn a ra
nhng suy ngh, nhng bin phỏp ca mỡnh v vn ny mong gúp mt phn
no ú giỳp cho vic gii toỏn cú li vn ca hc sinh lp 4 thun li hn, t
kt qu cao hn. Nhng do thi gian, iu kin v kinh nghim cũn hn ch
nờn khụng trỏnh khi nhng thiu sút. Vỡ vy, tụi rt mong nhn c nhng ý
kin úng gúp ca cỏc nh chuyờn mụn cỏc cp sỏng kin ca tụi c hon
thin hn. Tụi xin trõn trng cm n !
1





học sinh; nhiều phụ huynh cũng đã quan tâm, kèm cặp con em mình trong việc
học toán song thực tế vẫn có không ít giáo viên, học sinh gặp khó khăn với nội
dung giải toán có lời văn này. Thậm chí có những học sinh không hiểu, bế tắc,
không biết cách giải dẫn đến chán nản, ngại học, ngại suy nghĩ, kết quả học tập
không cao. Vậy làm thế nào để học sinh hiểu và biết cách giải các bài toán có
lời văn ở tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng ? Làm thế nào để học sinh có
hứng thú học toán hơn và say mê giải toán hơn ? …
Là một giáo viên với nhiều năm đứng lớp bản thân tôi luôn trăn trở về
vấn đề này. Tôi nhận thấy cần phải suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc, tìm ra
biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh
lớp 4.
Xuất phát từ những suy nghĩ đó, năm học 2011 – 2012 tôi đã chọn đề tài
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh
lớp 4” để nghiên cứu với mong muốn góp một phần tiếng nói nho nhỏ của
mình vào việc giải quyết vấn đề không mấy đơn giản này.
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN:

1. Cơ sở lí luận:
Trong chương trình toán tiểu học, toán có lời văn là một dạng toán khó đối
với học sinh. Thực tế cho thấy nhiều học sinh giải và thực hiện tốt các kĩ năng
tính toán với các dạng toán khác nhưng khi giải toán có lời văn lại lúng túng và
giải sai. Bởi các bài toán có lời văn không như các bài toán thực hiện phép tính,
học sinh chỉ cần nhìn vào yêu cầu và thực hiện. Bài toán có lời văn là bài toán
chưa có phép tính, là dạng toán được diễn đạt bằng lời văn, bằng những câu
chữ, học sinh phải tư duy để tìm ra phép tính và giải. Mà mỗi đề toán, bài toán
có lời văn thường là sự kết hợp của 3 thứ ngôn ngữ: ngôn ngữ tự nhiên (ngôn
ngữ trong đời sống, ví dụ: “bay đi”, “chạy đến”,…), ngôn ngữ toán học và ngôn
ngữ kí hiệu (chữ số, các dấu phép tính, các dấu quan hệ, các loại dấu ngoặc,…).

tập của học sinh, …trên cơ sở nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học,
nhận thức rõ vai trò của mình trong quá trình dạy học. Từ đó đưa ra những
biện pháp giảng dạy phù hợp với các em.

2. Cơ sở thực tiễn:
4


Qua giảng dạy và quan sát thực tế (thăm lớp, dự giờ) các giờ học Toán
của các em học sinh lớp 4, tôi thấy việc tổ chức dạy và học môn Toán trong
trường Tiểu học Thống Nhất còn nhiều khó khăn như: Sự nhận thức của các
em học sinh không đồng đều, nhiều em chưa thấy được vai trò của môn toán
trong quá trình học tập, chưa thấy được giá trị, ý nghĩa của việc học toán trong
lao động và công tác sau này, ý thức tự giác trong học tập của các em chưa
cao. Điều kiện, hoàn cảnh gia đình của nhiều học sinh còn khó khăn, éo le.
Bên cạnh đó phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chưa linh hoạt, chưa
sáng tạo, cứng nhắc,…
Từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên đây tôi nhận thức được
rằng cần phải có biện pháp giúp học sinh nâng cao chất lượng giải toán có lời
văn góp phần đào tạo thế hệ học sinh tương lai có đủ các kỹ năng cần thiết để
tiến xa hơn trên con đường học tập của mình.
III. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
- Từ tháng 09 năm 2011 đến hết tháng 04 năm 2012.
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Giúp học sinh hiểu, biết cách giải và trình bày bài giải của dạng toán có lời
văn ở lớp 4 góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán lớp 4 trong
nhà trường.
- Giúp học sinh thuận lợi trong quá trình học toán, qua đó giúp các em học tốt
các môn học khác.
- Giúp các em phát triển một cách toàn diện. Đồng thời góp phần thực hiện

3. Phương pháp kiểm tra, đánh giá:
- Kiểm tra thực trạng việc học toán (phần toán có lời văn) của học sinh.
- Đánh giá, phân loại các bài giải toán có lời văn của học sinh theo từng giai
đoạn trong quá trình nghiên cứu.

PHẦN II: NỘI DUNG
6


I. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
CỦA HỌC SINH
Đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 56 học sinh các lớp 4A,
4B của trường Tiểu học Thống Nhất, cụ thể:
T.S
học sinh
4A

29

4B

27

9 – 10

7–8

Điểm
5–6


40,7 %

14,8%

3,7%

3-4

1-2
0

Từ bảng số liệu khảo sát cụ thể trên đây có thể nói số học sinh đạt điểm
khá giỏi chiếm tỉ lệ thấp, số học sinh đạt điểm trung bình và dưới trung bình
chiếm lỉ lệ khá cao. Qua giảng dạy từ những năm học trước, từ những bài làm
của học sinh khóa trước mà tôi thu thập được và từ bài kiểm tra khảo sát thực
tế tôi nhận thấy học sinh thường mắc các lỗi cơ bản như sau:
* Lời giải sai, không đầy đủ, không đúng với yêu cầu của bài toán, lời giải
không tương ứng với phép tính, danh số sai, ví dụ 1:
Bài toán 1 : Một cửa hàng bán vải, ngày thứ nhất cửa hàng bán được 230
mét vải, ngày thứ hai cửa hàng bán được 340 mét vải, ngày thứ ba cửa hàng
bán được số vải bằng

1
số vải của hai ngày đầu. Hỏi ngày thứ ba cửa hàng bán
3

được bao nhiêu mét vải ?

Bài giải 1
Ngày thứ ba bán được số mét vải là:


72513 : 9 = 8057 (lít)

72513 x 9 = 652607 (can)

Đáp số: 8057 lít dầu

Đáp số: 652607 can

Bài giải 3
Mỗi can đựng vào số lít dầu là:
54 : 6 = 9 (lít)
Số can đựng vào 72513 lít dầu là:
72513 : 9 = 8057 (lít)
Đáp số: 8057 lít dầu
* Phép tính không thích hợp hoặc đã chọn phép tính thích hợp với lời giải
nhưng kết quả của phép tính lại sai, ví dụ:
Bài toán 3: (Bài 4 –sgk Toán 4 trang 28) Có 9 ô tô chuyển thực phẩm vào
thành phố, trong đó 5 ô tô đi đầu, mỗi ô tô chuyển được 36 tạ và 4 ô tô đi sau,
mỗi ô tô chuyển được 45 tạ. Hỏi trung bình mỗi ô tô chuyển được bao nhiêu tấn
thực phẩm ? Một số học sinh giải như sau:
Bài giải 1

Bài giải 2

Số thực phẩm chuyển vào thành phố là:

4 ô tô đi đầu chở được là:

36 + 45 = 81 (tạ)

Đáp số: 20805 hộp (dư 2 cái áo)
 Nguyên nhân dẫn đến việc học sinh giải toán sai :
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh giải toán sai như
trên, có thể kể đến những nguyên nhân khách quan như:
Nhiều học sinh không nhận được sự quan tâm của người thân về việc học
của mình, hoặc có nhưng không thường xuyên. Điều này đã ảnh hưởng không
nhỏ tới tâm lý cũng như ý chí phấn đấu, vươn lên trong học tập của các em.
Các em dễ bằng lòng với những gì đã đạt được, ngại học, ngại rèn luyện,
không muốn phấn đấu.
Mặt khác do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nhiều em không có góc
học tập riêng ở nhà. Điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến kết quả học tập
của học sinh.

9


Bên cạnh đó, một số giáo viên còn chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, chưa tích
cực, chưa tâm huyết với việc giảng dạy. Một số giáo viên trẻ vốn kinh nghiệm,
phương pháp truyền đạt còn hạn chế. Phong trào học toán ở một số lớp chưa
thực sự sôi nổi, chưa thu hút được nhiều học sinh tham gia, chưa được các giáo
viên chủ nhiệm quan tâm sát sao.
Một số bài toán trong chương trình tương đối khó với những học sinh có
sức học trung bình, yếu. Ví dụ như bài toán 3 (SGK Toán 4 – trang 129): Tại
Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ VI năm 2004, số huy chương vàng của
đoàn học sinh tỉnh Đồng Tháp bằng

5
tổng số huy chương của đoàn đã giành
9


dụng trong giảng dạy với các lớp mà tôi đã điều tra. Qua thời gian thử nghiệm,
tôi nhận thấy những biện pháp mà tôi đã tiến hành dưới đây có hiệu quả đáng
kể.
1. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu:
Ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu và báo cáo
BGH để cùng phối hợp thực hiện.
2. Tổ chức gặp gỡ, trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp và các bậc phụ
huynh học sinh:
Trong quá trình học tập của học sinh thì giáo viên chủ nhiệm lớp và phụ
huynh học sinh là những người có vai trò rất quan trọng. Nhận thức rõ vai trò
ấy, tôi đã tiến hành gặp gỡ với các giáo viên chủ nhiệm, phổ biến kế hoạch;
gặp gỡ các phụ huynh học sinh lớp 4 ngay trong những ngày đầu năm học để
trao đổi với các phụ huynh cũng như giáo viên chủ nhiệm về vai trò của giải
toán có lời văn trong học toán nói riêng và trong học tập nói chung,… Chỉ ra
những hạn chế, những ảnh hưởng của giải toán có lời văn đối với việc học tập
của các em. Đưa ra thực trạng kết quả, chất lượng giải toán có lời văn của học
sinh, những đánh giá chung về thực trạng và những nguyên nhân dẫn đến thực
trạng đó. Đề xuất biện pháp cùng phối hợp thực hiện nhằm nâng cao chất
lượng giải toán có lời văn cho học sinh như: thống nhất với giáo viên chủ
nhiệm về phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức dạy học, … học sinh khi ở
trường, thống nhất với phụ huynh trong việc đôn đốc, kèm cặp các em khi ở
11


nhà,…Qua đó nhận thức về vai trò của việc cùng con học tập, giải toán trong
các phụ huynh sẽ được nâng cao hơn, từ đó họ sẽ quan tâm hơn đến việc học
tập của các em, tạo điều kiện cho các em học tập, rèn luyện kĩ năng giải toán
có lời văn.
3. Tổ chức cho giáo viên giao lưu, tọa đàm, dự chuyên đề về giải
toán và dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4:

một khả năng thỏa mãn điều kiện của đầu bài; lập và biến đổi bài toán theo
nhiều hình thức (đặt câu hỏi, đặt điều kiện cho bài toán, lập bài toán tương tự
với bài toán đã giải, lập bài toán ngược với bài toán đã giải, lập bài toán theo
tóm tắt hoặc sơ đồ minh họa)
Thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc, theo dõi và kiểm tra việc học tập của
học sinh, khích lệ học sinh học tập.
4. Kết hợp nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho các nhóm học sinh
trong các giờ học toán:
Sau khi điều tra, khảo sát, tôi tiến hành phân loại nhóm đối tượng học
sinh theo các lỗi như đã trình bày ở trên, tìm các biện pháp khắc phục cho từng
nhóm và tiến hành giúp đỡ học sinh các nhóm trong các giờ học toán, cụ thể:
* Nhóm học sinh đặt câu lời giải sai, câu lời giải không đầy đủ, không
đúng với yêu cầu của bài toán, không tương ứng với phép tính, danh số sai:
Trong giải toán, học sinh thường bị mắc vào lỗi: đặt câu lời giải sai, không
đầy đủ, không đúng với yêu cầu của bài toán, không tương ứng với phép tính
một phần là do học sinh chưa hiểu đúng các thuật ngữ toán học trong bài toán.
Vì vậy, trước tiên giáo viên cần giúp học sinh hiểu đúng các thuật ngữ toán học
có trong mỗi bài toán từ đó nhận thức được ý nghĩa toán học và chọn phép tính
đúng.
Khi giảng bài mới, giáo viên cần giảng tỉ mỉ, chi tiết, truyền đạt cho học
sinh bằng nhiều cách với ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Trong quá trình
giảng dạy các dạng bài toán có mẫu (những bài toán điển hình) giáo viên có thể
khái quát cách giải của mỗi dạng toán bằng các bước giải cụ thể và đặt tên cho
các bước giải đó bằng những từ ngữ ngắn gọn để học sinh nắm được bài. Ví dụ:
Với dạng bài Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó, sau khi hướng dẫn
13


cho học sinh tìm hiểu cách giải thông qua bài toán mẫu trong sách giáo khoa,
giáo viên cùng học sinh khái quát và lập ra các bước giải bài toán trên (Bước 1:

Để học sinh giải được các bài toán có lời văn, chọn đúng phép tính khi
giải, giáo viên cần xây dựng các mức độ dạy học ở từng giai đoạn phù hợp với
tư duy và kiến thức của học sinh, giúp học sinh nắm được các bước cần thiết
của quá trình giải toán gồm:
Bước 1: Tìm hiểu kĩ đề bài
Để hiểu nội dung của đề bài, học sinh cần hiểu cách diễn đạt bằng lời văn
của đề bài, nắm được ý nghĩa và nội dung của đề bài thông qua việc tóm tắt bài
toán bằng sơ đồ hoặc hình vẽ. Tuy nhiên, khi giải toán khó khăn đầu tiên của
học sinh chính là khó khăn về mặt ngôn ngữ. Vì thế giáo viên cần thường
xuyên bổ sung vốn từ thường dùng bằng các thuật ngữ toán học giúp các em
hiểu nghĩa của các thuật ngữ và kí hiệu để có thể sử dụng đúng các thuật ngữ.
Để hiểu đề bài, giáo viên cần cho học sinh đọc và nhắc lại đề bài theo cách diễn
đạt của mình (dựa vào tóm tắt hoặc dựa vào chính đề bài). Điều này giúp học
sinh nhớ được đề bài, tập trung suy nghĩ về nó và chỉ ra được đâu là dữ kiện
(cái đã cho, đã biết) trong bài toán, đâu là ẩn số (cái chưa biết, cái cần tìm),
quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số là gì ?...Trong mỗi bài toán ngoài các yếu tố
cơ bản còn có các yếu tố không cơ bản, thậm chí thừa. Để học sinh tập trung
vào các yếu tố cơ bản của bài toán, có kĩ năng nhận ra các yếu tố cơ bản của bài
toán, giáo viên cần dạy cho học sinh biết phân tích đề toán để loại bỏ những dữ
kiện thừa bằng cách đọc ngăt từng câu và dừng lại để suy nghĩ xem câu vừa
đọc cho ta biết điều gì, có thể suy ra được điều gì…rồi viết tóm tắt đề bài ra
giấy nháp dưới dạng ngắn gọn, cô đọng nhất có thể bằng sơ đồ lời, bằng sơ đồ
đoạn thẳng hay hình vẽ,…Sau đó đọc lại tóm tắt, đối chiếu tóm tắt vừa lập với
đề bài xem còn thiếu dữ kiện hay ẩn số nào không, nếu thiếu thì bổ sung vào
phần tóm tắt, không thiếu thì cũng là một lượt để đọc lại đề bài và nhớ đề bài
hơn.
Bước 2: Lập kế hoạch giải
Lập kế hoạch giải nghĩa là đi tìm hướng giải cho bài toán. Để tìm được
hướng giải cho bài toán, ta phải phân tích, sàng lọc loại bỏ các yếu tố thừa, các
15

kết hợp cùng phụ huynh kèm cặp, giúp đỡ học sinh. Mặt khác, khi giảng dạy
16


trên lớp, giáo viên chú ý chẻ nhỏ câu hỏi để hỏi những học sinh này và giảng
giải kĩ hơn, dành cơ hội cho các em được nhắc lại kiến thức cũ nhiều hơn;
thường xuyên nhắc nhở, đôn đốc, kiểm tra và động viên các em để các em thêm
tự tin và muốn “lấp đầy” các “lỗ hổng” nhanh hơn.
5. Kết hợp dạy giải toán có lời văn trong các giờ học toán theo cách
phân loại các bài toán:
Để giúp học sinh thuận lợi trong khi học và giải toán thì giáo viên cần
thống kê các bài toán có lời văn trong chương trình Toán lớp 4, phân loại các
bài toán này theo từng dạng và nghiên cứu cách giảng dạy từng dạng bài cho
học sinh trong các giờ học toán sao cho thuận tiện và đạt hiệu quả nhất.
Các bài toán có lời văn ở lớp 4 được phân chia thành các bài toán đơn và
các bài toán hợp. Các bài toán đơn là các bài toán được giải bằng một phép tính
(hay một bước tính - một câu lời giải và một phép tính tương ứng). Các bài toán
hợp là các bài toán được giải bằng hai phép tính trở lên (hay hai bước tính trở
lên - hai câu lời giải và hai phép tính tương ứng trở lên).
Các bài toán đơn trong sách giáo khoa Toán 4 được biên soạn rất ít và
thường ở dạng đơn giản chỉ để luyện tập các phép tính: phép cộng (Bài 3 - SGK
Toán 4 trang 39), phép nhân (nhân với số có hai chữ số: Bài 3 - SGK Toán 4
trang 69),...Với những bài toán này, đa phần học sinh đều biết cách giải, chọn
đúng phép tính và dễ dàng hoàn thành bài giải không có khó khăn gì, số học
sinh làm sai thường là những học sinh học yếu (số này không nhiều). Các em
thường sai ở việc thực hiện phép tính để tìm ra kết quả và đặt câu lời giải
không hoàn chỉnh. Với những học sinh này, giáo viên cần tập trung thời gian
giúp học sinh rèn kĩ năng tính toán, kĩ năng đặt câu, diễn đạt câu trong quá
trình giải toán và trong các giờ học Tiếng Việt, tạo cơ hội cho những học sinh
này được trả lời nhiều và khi học sinh trả lời giáo viên chú ý sửa cách diễn đạt

rồi mới giải được…Mức độ khó được tăng dần lên sau mỗi bài, giúp cho học
sinh chiếm lĩnh kiến thức một cách dần dần và tự nhiên, không gượng ép. Việc
làm này có hiệu quả hơn rất nhiều so với việc cho học sinh nhắc lại cách tính
trung bình cộng của nhiều số, tuy nhiên nó lại mất nhiều thời gian hơn. Vậy

18


nên giáo viên cần chủ động xây dựng kế hoạch dạy học, sắp xếp thời gian học
cho học sinh trong các buổi tự học sao cho hợp lí nhất.
Chúng ta đều hiểu rằng việc giải các bài toán hợp thực chất là giải hệ
thống các bài toán đơn. Vì vậy, việc dạy kĩ các bài toán đơn là một công việc
chuẩn bị tốt cho việc giải bài toán hợp, giúp cho học sinh giải toán được dễ
dàng hơn.
Bên cạnh đó, cách giảng dạy có sự kết hợp của nhiều hình thức, phương
pháp dạy học cũng góp phần tạo cho học sinh hứng thú học tập, dễ hiểu bài và
giải toán được tốt hơn. Đặc biệt “ưu tiên” phương pháp trực quan khi giảng dạy
vì đây là phương pháp có hiệu quả nhanh và hấp dẫn học sinh nhất. Ví dụ khi
hướng dẫn học sinh giải bài toán tìm số huy chương của đoàn học sinh tỉnh
Đồng Tháp (Bài 3, SGK Toán 4, trang 129 - đã nêu ở phần trước), giáo viên có
thể dùng phương pháp diễn đạt bằng lời, vẽ sơ đồ đoạn thẳng hoặc sử dụng
biểu đồ Ven để giúp học sinh hình dung, hiểu được đề bài. Tuy nhiên trong 3
cách này, tôi thấy cách dùng biểu đồ Ven là tối ưu hơn cả, học sinh hình dung
rất dễ và hiểu bài cũng nhanh hơn.
Giúp học sinh tổng hợp, khái quát cách giải của từng dạng bài bằng các
bước giải cụ thể; tạo điều kiện cho học sinh ôn tập, củng cố các cách giải đó để
các cách giải của các bài toán ấy trở thành những lối mòn, ăn sâu trong trí nhớ
của học sinh cũng là một việc làm có hiệu quả giúp nâng cao chất lượng giải
toán có lời văn cho học sinh.
Khi học sinh học, giải tốt các dạng bài toán cơ bản, giáo viên có thể dạy

mình để giảng dạy cho học sinh. Điều quan trọng hơn cả là người giáo viên
cần phải có “tâm” với nghề, tức là có tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công
việc, với học sinh, yêu nghề mến trẻ.
III. KẾT QUẢ
Qua một năm tiến hành thực hiện những biện pháp trên, tôi nhận thấy học
sinh học tập tốt hơn, giờ học sôi nổi hơn, bài giải (toán có lời văn) của học sinh
đúng hơn trước rất nhiều, kết quả học tập môn Toán của các em cũng cao hơn
đáng kể.
Kết quả khảo sát cuối học kì I:
20


T.S

4A

29

4B

27

Điểm
5–6

9 – 10

7–8

3-4


37%

3,7 %

0

Trong đợt khảo sát cuối tháng 4 năm 2012, chất lượng đã có sự thay đổi
rõ rệt, cụ thể:
T.S
học sinh
4A

29

4B

27

Điểm
5–6

9 – 10

7–8

20

8


0

Trong cuộc thi giải toán trên mạng Internet cấp trường, các lớp tôi tiến
hành dạy thử nghiệm có 11em tham gia thi và đạt giải, trong đó giải A: 6em,
giải B: 5 em. Trong cuộc thi giải toán trên mạng Internet cấp thành phố có 5
em tham gia và đạt giải, trong đó giải Nhì: 1em, giải Ba: 2 em, giải Khuyến
khích :2 em.

21


PHẦN III: KẾT LUẬN
Với mục tiêu được thể hiện rõ ngay trong nhan đề của sáng kiến “nâng
cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh”, với tính khoa học sáng tạo,
tính khả thi cao, sát với thực tế sáng kiến đã được sự đồng thuận ủng hộ, phối
kết hợp chặt chẽ của đông đảo đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh trong nhà
trường. Nhờ đó sáng kiến đã được thực hiện thuận lợi.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vị trí của giải toán có lời văn trong quá
trình học toán cũng như học tập nói chung của học sinh bậc tiểu học, bám sát
mục đích nghiên cứu, xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu, với thời
gian gần một năm học những biện pháp được áp dụng trong giảng dạy tại các
lớp học thử nghiệm đã thu được nhiều kết quả. Đáng kể nhất là chất lượng giải
toán có lời văn của học sinh được nâng cao hơn so với năm học trước. Phong
trào học tập đặc biệt là phong trào giải toán đã được nhân lên, phát triển sôi nổi
ở tất cả các lớp. Số học sinh đạt giải của các lớp trong các hội thi giải toán trên
mạng Internet các cấp cũng tăng hơn…
Song do ở mỗi lứa tuổi học sinh đều có những em nhận thức chậm nên
kết quả chỉ là sự “nâng cao” hơn so với thực tế chứ không phải là sự “phát
triển vượt bậc” như mong đợi của giáo viên ở các em.
 Bài học kinh nghiệm:

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã tham khảo một số tài liệu sau:
- Sách giáo khoa và Sách giáo viên Toán lớp 4 - NXB Giáo dục.
- Phương pháp dạy học Toán ở tiểu học - NXB Giáo dục & NXB ĐHSP.
- Giáo trình chuyên đề Rèn kĩ năng giải toán tiểu học – NXB ĐHSP.

24


KẾT QUẢ CHẤM ĐIỂM VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN CƠ SỞ

Điểm: …………………

Xếp loại: ………………..
Chủ tịch Hội đồng chấm SKKN
Hiệu trưởng

KẾT QUẢ CHẤM ĐIỂM VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN

PHÒNG GD& ĐT THÀNH PHỐ
Điểm: …………………

Xếp loại: ………………..
Người chấm
………………………………

KẾT QUẢ CHẤM ĐIỂM VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SKKN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
Điểm: …………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status