tuyển tập đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn 12 - Pdf 28

SỞ GD& ĐT NGHỆ AN KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12
NĂM HỌC 2009 - 2010

Môn thi: NGỮ VĂN - THPT BẢNG A
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (6,0 điểm).
Anh, chị hãy viết một bài văn nghị luận ngắn gọn bàn về ý kiến cho rằng:
Cuộc đời là biển cả, ai không bơi sẽ chìm.
Câu 2 (7,0 điểm).
“Chữ” trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là một yếu tố nghệ thuật góp phần
khắc họa vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao.
Ý kiến của anh, chị?
Câu 3 (7,0 điểm).
Khi đánh giá về thơ trữ tình, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay là thơ giản dị, xúc
động và ám ảnh.”
Anh, chị hãy giải thích và làm sáng tỏ ý kiến đó qua bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy./.

ĐÒ LÈN
Nguyễn Duy
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần(1)
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị(2)
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng(3)
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn(4) lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

thật sự có “chất văn” .
3. Điểm toàn bài 20, hướng dẫn chấm thi chỉ quy định một số mức cơ bản, các mức điểm khác
GK căn cứ thực tế vào bài làm của thí sinh để chấm và làm tròn điểm số đến 0,5.
II. Đáp án và thang điểm
Câu 1 (6,0 điểm)
a) Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội, có sự vận dụng kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác
nghị luận như: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt
lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Ưu tiên những bài viết thể hiện dẫn chứng
từ trải nghiệm của bản thân…
b) Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể nêu những ý kiến riêng và trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần
hợp lí, chặt chẽ, thuyết phục. Trên cơ sở xác định đúng vấn đề cần nghị luận là viết về một quan
niệm nhân sinh mang tính hai mặt, thí sinh phải có vốn kiến thức, hiểu biết đời sống xã hội sâu
rộng, nhằm thuyết phục thấu đáo những ý kiến của mình nêu ra. Sau đây là những gợi ý:
1. Giải thích ý kiến:
9 - 1983
- Cuộc sống vốn mênh mông, phức tạp, khi bình yên, khi sóng gió…(như biển cả)
- Con người muốn thành công, muốn đi tới đích phải luôn cố gắng bằng chính sức lực của
mình…(bơi)
2. Bàn luận:
- Cuộc sống vốn phức tạp, đầy khó khăn và thử thách…nên để đạt được thành công, con
người cần phải nỗ lực, cố gắng…
- Tuy nhiên, không phải khi nào sự cố gắng của mình cũng đều đem đến sự thành công, mà
còn phụ thuộc vào những yếu tố khách quan khác như cơ hội, sự may mắn… Và cũng có không
ít những trường hợp không “bơi” vẫn không “chìm” vì đã có “phao”…
- Nhưng nhìn chung, những thành công trong cuộc sống chủ yếu đều là kết quả của những nỗ
lực lớn lao…
3. Bài học bản thân
- Quan niệm trên có tác dụng động viên, cổ vũ con người luôn nỗ lực, cố gắng vươn lên trong

chữ rất nhanh và rất đẹp”, “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”…)
+ “Chữ” là nơi gửi gắm, chứa đựng cái Tâm ( “Chữ thì quý thật”, “ Đời ta cũng mới viết
có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân”…→ Yêu chữ là yêu nghệ
thuật thư pháp, yêu
cái Đẹp, chữ nối kết những tấm lòng đẹp…)
+ “Chữ” là nơi lộ diện cái Dũng ( “những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái
hoài bão tung hoành của một đời con người”…)
3. Đánh giá :
- “Chữ” là một yếu tố quan trọng, xuyên suốt tác phẩm, là tâm điểm “phát sáng” vẻ đẹp của
Huấn Cao. Chữ được xây dựng như một biểu tượng cho cái Đẹp trong quan niệm thẩm mỹ của
Nguyễn Tuân.
- Qua việc xây dựng yếu tố “chữ”, người đọc thấy được sự độc đáo, tài hoa trong việc lựa
chọn các chi tiết, yếu tố nghệ thuật của Nguyễn Tuân; thấy được quan niệm duy mỹ của Nguyễn
Tuân không chỉ ở hình thức tác phẩm mà còn ở nội dung tư tưởng tiến bộ tích cực.
c) Cách cho điểm:
- Điểm 7: Đáp ứng được các yêu cầu trên, có thể mắc vài lỗi nhỏ về diễn đạt.
- Điểm 5: Trình bày được hai phần ba yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày được một nửa yêu cầu trên, đôi chỗ còn sơ sài, mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 2: Trình bày quá sơ sài, diễn đạt kém.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
Câu 3 (7, 0 điểm)
a) Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận văn học, vận dụng các kĩ năng, các thao tác nghị luận để giải
thích ý kiến cũng như phân tích bài thơ trên cơ sở định hướng của ý kiến đã cho. Kết cấu chặt
chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b) Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về thơ, thí sinh hiểu được nội dung cơ bản ý kiến của nhà thơ
Trần Đăng Khoa: đề cao vai trò các yếu tố làm nên một bài thơ hay…từ đó phân tích bài thơ
“Đò Lèn” của Nguyễn Duy để chứng minh ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn… Có thể thí sinh
có những suy nghĩ riêng, theo nhiều cách khác nhau (giải thích xong rồi chứng minh, hoặc vừa

trở, dư ba trong lòng người đọc….(dẫn chứng)
3. Đánh giá chung:
- Ý kiến của Trần Đăng Khoa là hoàn toàn chính xác, điều đó cho thơ một khả năng tồn tại
vượt mọi thử thách của thời gian, không gian. “Đò Lèn” là một bài thơ như thế…
- Ba yếu tố của thơ hay góp phần làm nên phong cách nhà thơ - dấu ấn riêng không thể lẫn
giữa sự phong phú, đa dạng của muôn vàn tài năng thơ…
c) Cách cho điểm:
- Điểm 7: Đáp ứng được các yêu cầu trên, có thể mắc vài lỗi nhỏ về diễn đạt.
- Điểm 5: Trình bày được hai phần ba các yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày được gần một nửa các yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 2: Trình bày quá sơ sài, diễn đạt kém.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
HẾT
Họ và tên thí sinh: Số báo danh:
SỞ GD& ĐT NGHỆ AN KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12
NĂM HỌC 2009 - 2010

Môn thi: NGỮ VĂN - THPT BẢNG B
Thời gian: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Câu 1 (6,0 điểm).
Anh, chị hãy viết một bài văn nghị luận ngắn gọn bàn về ý kiến cho rằng:
Cuộc đời là biển cả, ai không bơi sẽ chìm.
Câu 2 (7,0 điểm).
Sức hấp dẫn của cảnh cho chữ trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân?
Câu 3 (7,0 điểm).
Khi đánh giá về thơ trữ tình, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay là thơ giản dị, xúc
động và ám ảnh.”
Anh, chị hiểu ý kiến trên như thế nào?
Phân tích một bài thơ thuộc giai đoạn văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế
kỉ XX trong chương trình Ngữ Văn 12 mà anh, chị cho là giản dị, xúc động và ám ảnh ./.

(bơi)
2. Bàn luận:
- Cuộc sống vốn phức tạp, đầy khó khăn và thử thách…nên để đạt được thành công, con người
cần phải nỗ lực, cố gắng…
- Tuy nhiên, không phải khi nào sự cố gắng của mình cũng đều đem đến sự thành công, mà còn
phụ thuộc vào những yếu tố khách quan khác như cơ hội, sự may mắn… Và cũng có không ít những
trường hợp không “bơi” vẫn không “chìm” vì đã có “phao”…
- Nhưng nhìn chung, những thành công trong cuộc sống chủ yếu đều là kết quả của những nỗ lực
lớn lao…
3. Liên hệ bản thân
- Quan niệm trên có tác dụng động viên, cổ vũ con người luôn nỗ lực, cố gắng vươn lên trong
cuộc sống…
- Phương hướng, hành động của bản thân…
c) Cách cho điểm:
- Điểm 6: Đáp ứng các yêu cầu trên, có thể mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày được một nửa các yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 1: Nội dung sơ sài, diễn đạt kém.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
Câu 2 (7, 0 điểm)
a) Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận văn học, vận dụng khả năng đọc hiểu, các kĩ năng, thao tác nghị luận
khác nhau để lí giải vấn đề. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ
pháp.
b) Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở nắm được những nét chính về tác giả Nguyễn Tuân, tác phẩm “Chữ người tử tù” ở các
phương diện phong cách, nội dung, nghệ thuật…thí sinh cần thấy được Huấn Cao cho chữ là một cảnh
đặc sắc trong tác phẩm tập trung tô đậm vẻ đẹp hình tượng nhân vật, làm rõ tư tưởng chủ đề tác phẩm
và thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà văn. Bài viết của thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách và
thể hiện những cảm nhận riêng của mình về sức hấp dẫn của cảnh cho chữ. Sau đây là một số gợi ý .
1. Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và tình huống dẫn đến cảnh cho chữ.

Trên cơ sở những hiểu biết về thơ, thí sinh hiểu được nội dung cơ bản ý kiến của nhà thơ Trần
Đăng Khoa: đề cao vai trò các yếu tố làm nên một bài thơ hay… từ đó phân tích bài thơ “Đò Lèn” của
Nguyễn Duy để chứng minh ý kiến trên là hoàn toàn đúng đắn… Có thể thí sinh có những suy nghĩ
riêng, theo nhiều cách khác nhau (giải thích xong rồi chứng minh, hoặc vừa giải thích vừa phân tích bài
thơ để chứng minh…) song cần hợp lí, chặt chẽ, thuyết phục… Sau đây là một số gợi ý:
1./ Giải thích ý kiến:
- Thơ giản dị là thơ không cầu kì về hình thức hoặc đã tinh lọc hình thức đến mức đơn giản, đây là
một yêu cầu, cũng là một phẩm chất quan trọng của thơ…
- Thơ là sự thể hiện thế giới nội tâm sâu sắc nhất của nhà thơ. Những cảm xúc chân thành, mãnh liệt,
sâu sắc đó sẽ tác động, sẽ làm rung động trái tim của người đọc nhiều thế hệ, nhiều thời đại…Nói thơ
hay là thơ xúc động là muốn nói tới sức truyền cảm chân thành, mãnh liệt trong thơ tác động đến thế
giới tâm hồn của người đọc…
- Ám ảnh trong thơ là những ấn tượng mạnh mẽ, những dư ba đọng lại trong lòng người đọc về cái
hay trong hình thức và nội dung thơ. Những ám ảnh đó không chỉ nhất thời mà còn làm thổn thức trái
tim người đọc bao thế hệ…
2./ Chọn và phân tích một bài thơ thuộc giai đoạn văn học sau Cách mạng tháng Tám trong chương
trình Ngữ văn 12
- Yêu cầu thí sinh phải biết chọn đúng, chọn “đắt” một tác phẩm thơ hay thật sự mà đặc biệt bài thơ
đó phải là giản dị, xúc động và ám ảnh…
- Trong quá trình nghị luận cần làm rõ bài thơ đó giản dị, xúc động, ám ảnh trên các phương diện nội
dung, nghệ thuật… như thế nào…
c) Cách cho điểm:
- Điểm 7: Đáp ứng được các yêu cầu trên, có thể mắc vài lỗi nhỏ về diễn đạt.
- Điểm 5: Trình bày được hơn một nửa các yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 3: Trình bày được gần một nửa các yêu cầu trên, còn mắc một số lỗi diễn đạt.
- Điểm 2: Trình bày quá sơ sài, diễn đạt kém.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề.
HẾT
SỞ GD& ĐT NGHỆ AN KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12
NĂM HỌC 2009 - 2010


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status