Hớng dẫn học sinh lớp 7 làm bài tập văn học
I) Đặt vấn đề:
Môn văn tiếng việt nói chung và phần văn học nói riêng có vị trí đặc biệt
trong việc thực hiện mục tiêu chung của trờng THCS, góp phần hình thành những
con ngời có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ ra đời hoặc tiếp
tục học lên bậc học cao hơn. Đó là những con ngời có ý thức tu dỡng, biết yêu
thơng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hớng tới tình
cảm cao đẹp nh: Lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng
căm ghét cái xấu, cái ác.
Đó là những con ngời biết rèn luyện để có tính độc lập, có t duy sáng tạo, bớc
đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân - thiện - mỹ trong nghệ thuật, trớc hết là
trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng việt nh công cụ để t
duy và giao tiếp. Đó cũng là những ngời có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến
cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Bản thân tôi là một giáo viên đứng lớp trực tiếp dạy môn văn tiếng việt lớp
7, tôi thấm nhuần t tởng nói trên để vận dụng vào bài giảng của mình và vận
dụng vào cách: "hớng dẫn học sinh thực hành bằng cách làm bài tập văn học".
Để các em hiểu sâu hơn, rộng hơn và thể hiện nhận thức, thể hiện sự tởng đa
dạng và phong phú.
II) Thực trạng chung
1. Khó khăn.
Trong chơng trình văn học lớp 7, cuối mỗi bài học chỉ có những câu hỏi
bình thờng và những câu hỏi này lại đợc giải đáp ngay tại lớp. Do đó về nhà các
em hoặc không có bài tập để làm, hoặc có thể học thuộc lòng đối với những bài
thơ. Hoặc khi thể hiện thành bài viết thì chỉ có 5 bài đối với môn tập làm văn, 4
bài viết đối với văn học.
Vì vậy so với 9 tháng học mà phải viết có 9 bài tự luận là quá ít. Do đó khi
yêu cầu các em viết một đoạn văn, hay một bài văn, các em viết quá sơ sài hoặc
có nội dung nhng ý tứ diễn đạt cha có sự liên kết chặt chẽ, nội dung nghèo nàn.
Hoặc lên lớp 8 muốn dẫn chứng cho một bài. Chứng minh thì các em tìm đợc
quá ít, hoặc có tìm cũng không đúng chủ đề.
- ma tháng ba hoa đất, ma tháng t h đất.
- Gió giông là chồng lúa chiêm, giò bấc là duyên lúa mùa.
- Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
- Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
b) Tìm những câu tục ngữ bắt đầu bằng chữ "cha" có nội dung phê
phán những thói h tật xấu: Học hành không đến nơi đến chốn, hoặc làm không
đến nơi đến chốn mà cứ ngỡ là mình đã tốt đã đẹp.
Ví dụ: - Cha học bò, chớ lo học chạy
- Cha vỡ bọng mà đòi bay bổng.
- Cha đẻ ông nghè đã đe hàng tổng.
- Cha đi câu đã đòi xách giỏ.
- Chồng cha đi hỏi đã về làm dâu.
c) Tìm thêm những câu tục ngữ, hoặc ca dao trong đó có từ "mẹ" hoặc
từ "Các" cũng là chỉ ngời mẹ.
Ví dụ - Sẩy cha còn chú, sảy mẹ bú gì (dì)
- Công cha nh núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ nh nớc trong nguồn chảy ra.
- Ngồi buồn ta nhớ mẹ ta xa
Miệng nhai cơm búng, lỡi lè cá xơng
- Ai làm cho mẹ tôi già
Lng cong, vú dắt cho thầy tôi chê
- Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
- Chiều chiều xách giỏ kiém rau
Nhìn lên mề mẹ ruột đau chín chiều
- Cơm cha áo mẹ chữ thầy
- Mẹ già trong túp lều tranh
Sớm thăm, tối viếng, mới là đạo con
- Mẹ cù kỳ, đẻ con cua gạch.
- Mẹ nào con nấy
"Con ơi ! món tiền mà bố bán con cho hai ngời khách lạ vẫn còn đây, hay là ta
đến Việt Nam chu du một chuyến và xem có giúp gì đợc không nhé". Chú đồng
ý và cha con lập tức lên đờng. Tình cờ em gặp đợc Chú bé Tý Hon giữa những
đứa trẻ lang thang trên đờng phố. Chẳng biết Chú bé Tý Hon đã nói gì, chỉ thấy
các em nhỏ đang cuống cuồng chuẩn bị nào xoong chậu, xô, vải xanh, vải đỏ. à!
hoá ra các em đang chuẩn bị trò trớc những đám đông mà nhân vật chính lại là
chú bé ấy.
Mới mẻ và vụng về các em cũng chẳng biết diễn gì ngoài vài bài hát thân
quen trên đờng phố. Chỉ có khác trên đôi vai của một bạn nhỏ nhất, Tý Hon
trong sắc phục nhiều mầu cũng nhún nhảy.
Khách đến xem ngày một đông, ngời ta xúm lại gần, kiểng chân cho cao
để mong đợc nhìn thấy Tý Hon.
Âm thanh đang rộn rã, náo nhiệt bổng trầm xuống và một giọng thiết tha
vang lên.
"Ai ơi nên nổi nông này
Sinh ra một kiếp làm ngời kém ai ?
Bây giờ bố mẹ ở đâu ?
Sinh mà không dỡng để con ngoài đờng
Cơm thừa canh cặn, mẫu xơng
Mảnh chăn, góc chiếu nằm sơng dải giầu
Hởi ai có thấu cho lòng
Yêu thơng che chở, giúp nghề làm ăn
Kẻo rồi cạm bẩy rập rình
Sa cơ thì dễ, lánh mình thì không !
Không khí xung quanh dờng nh chùng hẳn lại.
Khuôn mặt những ngời đứng xung quanh lúc đầu rạng rỡ, hồ hởi bao nhiêu
thì bây giờ đổi thay bấy nhiêu .
Có những ngời đầu cúi lảng ra xa, có những ngời mặt dần đỏ tía. Còn
những ngời đàn bà thân thiện họ mở hầu bao mặt những đồng tiền tơi rói đa tận
tay các em
cả hai tác phẩm, phải so sánh để tìm ra cái chung và từ đó thể hiện tình cảm của
cá nhân mình.
Xác định yêu cầu nh trên, học sinh đã về nhà tự làm. Có một học sinh đã
viết một số bài nh sau:
Học xong hai tác phẩm "Ông lão đánh cá và con cá vàng" của nhà văn
PuSkin và " "ông GiốcĐanh muốn trở thành nàh bác học" của Mô Lye. Em thấy
nhân vật mụ vợ và ông ông GiốcĐanh đều có đặc điểm giống nhau là rất ham
muốn, ớc vọng nhng lại không chịu làm đợc việc gì để thực hiện ham muốn ấy.
Ví dụ nh mụ vợ ông lão đánh cá, mụ có ham muốn về vật chất: Máng lợn,
nhà và ham muốn về địa vị trong xã Hội: Nhất phẩm phu nhân, nữ hoàng, long
vơng. Còn ông GiốcĐanh ham muốn trở thành nhà bác học, mà nhà bác học là
ngời có khả năng phát minh sáng chế làm lợi cho triệu, triệu ngời, nh vậy với
ham muốn trên, họ muốn mình là ngời có ích trong xã Hội, có địa vị trong xã
hội, chỉ huy mọi ngời theo ý mình.
Nhng hãy xem mình thực hiện những việc làm để đạt đợc tham vọng ớc
muốn đó bằng những cách nào.
Với ông GiốcĐanh, thầy dạy môn học nào ông cũng cho rằng đó là lắm
canh thập cẩm, lắm tiếng vàng óc, hoặc không có thứ luận lý nào có thể kìm hảm
đợc tôi, tôi phải đợc tha hồn nổi nóng, tha hồ tức giận.
Học chính là lao động mà là đã lao động thì phải bỏ sức lực, trí tuệ, phải
biết hy sinh, phải biết kìm chế những cá tính thờng tình nh: Hay ăn, hay ngủ, hay
chơi để tất cả dành cho học, học mọi nơi, mọi lúc, nhng với ông GiốcĐanh, ông
rất muốn học, và chỉ muốn học trong ý tởng, học trong nơi đầu môi, chót lỡi thì
sao có thế gọi là học. Hơn nữa ông là ngời dốt nát nhng lại giấu dốt, nhng càng
dấu dốt lại thấy ông càng dốt.
Còn với mụ vợ ông lão đánh cá, chỉ cần nghe ông lão nói con cá vàng
muốn trả ơn là mụ vợ đòi ngay cái máng lợn, đòi ngay ngôi nhà. Những đòi hỏi
này là chính đánh vì mụ cần có một nghề để làm ăn. Đòi một ngôi nhà để che m-
a, che nắng vì tuổi mụ đã cao, sức mụ đã yếu.
Nhng chỉ vì thấy đòi quá dễ mà cứ đòi là đợc, cho nên sau khi có vật chất,
văn học lớp 7 tôi thấy nh sau:
1) Rèn cho các em tinh thần học tập, không những học trong tác phẩm,
trong sách vở mà còn phải học ở ngoài đời sống, nh muốn tìm hiểu các câu ca
dao tục ngữ, các em phải cần tới ngời già, ngời từng trải để các em hiểu thêm giá
trị của câu "ngời già là pho sử sống"
2) Rèn luyện cho các em thói quen viết bài tự luận, thể hiện cách hiểu,
cách nhận thức của mình về tác phẩm, về nhân vật trong tác phẩm.
3) Hớng tới sự tởng tợng đa dạng và phong phú của mỗi em và tìm hiểu đ-
ợc các em đang quan tâm tới những vấn đề gì xảy ra ở xung quanh.
4) Rèn luyện cho các em tính căm ghét, tính khinh bỉ, những thói xấu nh
ăn cắp, chỉ biết hởng thụ mà không biết lao động.
5) Qua cách viết bài phê phán, mỗi em sẽ nhận ra rằng mỗi ớc mơ sẽ chỉ trở
thành hiện thực khi đi kèm với nó là một quá trình lao động nghiêm túc.
6) Rèn luyện thói quen tự học, rèn luyện về chữ viết.
7) Kết quả cụ thể sau một năm học 2005 - 2006
Xếp loại Đầu năm Cuối năm học
Giỏi 0 em 0 em
Khá 6 em 12 em
Trung bình 25 em 29 em
Yếu 14 em 4 em
Kém 0 em 0 em
V: Kết luận
Để làm đợc nh trên và có kết quả tôI nhận thấy những vấn đề sau:
1) Giáo viên phải chịu khó chấm, chữa bài cho học sinh ngày sau khi các
em hoàn thành bài tập cô giao.
2) Giáo viên phải tạo hứng thú học tập cho học sinh ngày ở lớp, để từ đó
về nhà các em say sa tìm hiểu.
3) Nhận đợc sự đồng tình ủng hộ của các em học sinh, của phụ huynh học
sinh.
4) Giáo viên phải có định hớng về bài tập để hớng dẫn các em tổng hợp, t-