Quan niệm và bản chất của chênh lệch vùng - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................3
CƠ SỞ LÝ LUẬN............................................................................................4
1. Quan niệm và bản chất của chênh lệch vùng........................................4
1.1 Khái niệm và phân loại.....................................................................4
1.2. Bản chất và nguyên nhân................................................................4
2. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng để phân tích chênh lệch vùng....................7
2.1 Nhóm chỉ tiêu về kinh tế- xã hội .....................................................7
2.2 Các công cụ đánh giá sự chênh lệch ...............................................7
3. Sự cần thiết của việc nghiên cứu vấn đề chênh lệch vùng...................9
HIỆN TRẠNG CHÊNH LỆCH VÙNG Ở VIỆT NAM.............................11
1. Chênh lệch vùng giữa đô thị và nông thôn..........................................11
1.1 Chênh lệch vùng giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi cả nước
.................................................................................................................11
1.1.1. Chênh lệch về GDP và GDP/ người.........................................11
1.1.2. Chênh lệch về thu nhập và chi tiêu bình quân tháng...............13
1.1.3. Chênh lệch về tỷ lệ thất nghiệp thành thị.................................15
1.1.4. Chênh lệch giữa các vùng về tỷ lệ nghèo.................................16
1.2 Chênh lệch giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi 6 vùng..........16
1.2.1 Chênh lệch về GDP/người........................................................16
1.2.2. Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn trong mỗi
vùng...................................................................................................18
2. Chênh lệch giữa vùng phát triển và vùng khó khăn..........................19
2.1 Chênh lệch giữa vùng phát triển và vùng khó khăn trên phạm vi cả
nước...................................................................................................19
2.1.1 Chênh lệch về GDP và GDP/người...........................................19
2.1.2 Chênh lệch giữa các vùng về thu nhập và chi tiêu...................22
2.1.3 Chênh lệch giữa các vùng về tỷ lệ nghèo..................................23
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

cả nước. Chênh lệch thu nhập giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn tới 9,6
lần, giữa vùng phát triển và vùng chậm phát triển( vùng khó khăn) tới 1,8-2 lần.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trưong chính sách
nhằm giảm thiểu sự chênh lệch giữa các vùng, nhất là giữa vùng phát triển và vùng
khó khăn, giữa khu vực đô thị và khu vực nông thôn nhằm phát triển nền kinh tế theo
hướng hài hòa, hợp lý và bền vững.
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và kinh nghiệm giải quyết chênh lệch vùng của
một số quốc gia trên thế giới, phân tích đánh giá thực trạng chênh lệch vùng, từ đó
chúng tôi đề xuất các giải pháp nhằm từng bước giảm thiểu chênh lệch về kinh tế
giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa vùng phát triển và vùng khó khăn
ở nước ta.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Quan niệm và bản chất của chênh lệch vùng.
1.1 Khái niệm và phân loại.
a. Quan niệm .
Chênh lệch vùng là sự chênh lệch về trình độ phát triển, mức sống dân cư, giữa
các vùng được so sánh với nhau tại một thời điểm nhất định. Sự chênh lệch này được
phản ánh cả về mặt lượng và chất của sự hơn kém. Đơn vị đo bằng lần hoặc %.
b. Phân loại.
Xét về khía cạnh kinh tế có hai loại hình mất cân bằng( chênh lệch vùng):
- Sự chênh lệch về thu nhập và mức sống.
- Sự mất cân bằng về phân bố dân cư và phân bố các hoạt động kinh tế.
1.2. Bản chất và nguyên nhân.
a. Bản chất
Bản chất của chênh lệch vùng là chênh lệch về trình độ phát triển và chênh lệch
về mức sống. Sự chênh lệch này có thể diễn ra ngay trong nội bộ từng tỉnh, chênh
lệch giữa các tỉnh và giữa các vùng. Chênh lệch giữa các vùng xảy ra giữa vùng phát
triển và vùng chậm phát triển, giữa vùng duyên hải và vùng nội địa, giữa đô thị và

cấu dân số, trình độ lao động, về đặc điểm văn hóa , phong tục tập quán sinh họat và
sản xuất, xã hội. Tỷ lệ lao động nam và nữ, cơ cấu lao động theo lứa tuổi khác nhau
cũng ảnh hưởng nhiều tới chi phí lao động. Thêm vào đó là những chênh lệch về
trình độ phát triển kinh tế. Tất cả những điều đó đều là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến
sự chênh lệch năng suất lao động và mức sống giữa các vùng. Đối với những vùng đồ
thị hoặc đồng bằng có lịch sử phát triển kinh tế lâu đời, nơi tập trung nhiều lao động
có tay nghề cao là điều kiện để phân bố những ngành đòi hỏi lao động có kỹ năng, kỹ
xảo và ở đó tạo ranhững sản phẩm đóng góp nhiều cho quốc gia và thu nhập cao hơn.
Ngược lại, ở những vùng trung du miền núi là nơi khó khăn, tập trung ít lực lượng
lao động có kỹ thuật nên năng suất lao động, thu nhập, hiệu quả kinh tế trong nhiều
trừơng hợp thương thấp hơn so với các vùng phát triển và đô thị.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tóm lại có thể khái quát lại những nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch
phát triển vùng ở những nội dung sau:
- Thứ nhất, sự phân bố các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực nhân đạo: những tài
nguyên thiên nhiên như dầu lửa, than đá, đất đai, nguồn nước,… là những nhân tố
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Sự phân bố các tài nguyên này không đồng đều. Ở
những khu vực được thiên nhiên ưu đãi thì kinh tế và đời sống của người dân tốt hơn
rất nhiều. Tuy nhiên, cần nhận thức một vấn đề là nguồn lực tài nguyên sẽ cạn dần và
không tái tạo được. Sự phân bố nguồn lực nhân tạo có vai trò hơn trong việc hoạch
định chính sách phát triển kinh tế vùng.
- Thứ hai, những khó khăn trong việc điều chỉnh lao động: sự phát triển kinh tế
không thể tách rời nhân tố lao động. Có thể nói lao động là yếu tố quan trọng nhất
của quá trình hoạt động kinh tế. Muốn có sự phát triển đồng đều giữa các vùng lãnh
thổ thì phải có sự phân bố đồng đều lực lượng lao động. trong nền kinh tế thị trường
thị nền kinh tế lao động cũng được điều tiết theo cơ chế thị trường. Xét về mặt lý
thuyết, để lấy lại sự cân bằng về lao động, thu nhập sự phát triển kinh tế giữa các
vùng thì có thể điều chỉnh lực lượng lao động bằng cách di dân. Nhưng trong thực tế,
vấn đề di dân lại vấp phải các rào cản về: yếu tố khoảng cách, yếu tố tâm lý, yếu tố

Nhóm chỉ tiêu về kinh tế:
- Chênh lệch về tốc độ tăng trưởng GDP.
- Chênh lệch về GDP/người.
- Chênh lệch về thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người.
Nhóm chỉ tiêu về xã hội:
- Chênh lệch về giáo dục, chăm sóc sức khỏe.
- Chênh lệch về cơ hội việc làm(thông qua chỉ tiêu về tỷ lệ thất nghiệp ở thành
thị và tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở khu vực nông thôn).
2.2 Các công cụ đánh giá sự chênh lệch
a. Dùng bảng biểu và bản đồ
Qua công tác thống kê sẽ nắm được các số liệu về thu nhập, việc làm, mức
sống…ở từng khu vực. Các số liệu này được trình bày trong các bảng biểu hoặc
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chuyển tải vào các bản đồ và sẽ là công cụ tốt để phân tích mức độ mất cân bằng giữa
các vùng.
b. Sử dụng đường cong Lorenzt.
Đường cong Lorenzt được dùng phổ biến để đánh giá tình trạng mất cân bằng.
Ví dụ để đánh giá mức độ mất cân bằng trong thu nhập của một quốc gia người ta vẽ
đường cong lũy tích của thu nhập với dân số. Nếu không có sự mất cân bằng thì đồ
thị thu nhập lũy tích sẽ là đường thẳng chéo 45*. Tuy nhiên, đường đồ thị này thường
cong lõm xuống, và độ cong càng lớn thì chứng tỏ mức độ mất cân bằng càng cao.
c. Sử dụng phương pháp chỉ số
- Chỉ số Gini:
Việc sử dụng đường cong Lorenzt cho phép quan sát được độ mất cân bằng chỉ
số Gini bằng cách chia diện tích của vùng lõm so với đường chéo cho diện tích tam
giác. Ở nước nào chỉ số này càng lớn thì mức độ mất cân bằng càng cao.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chỉ số mức tập trung của ngành: chỉ số này đánh giá mức độ tập trung của một

hút lẫn sức đẩy lớn) và không gian thụ động( không gian bị hút là chủ yếu). Điều đó
dẫn đến sực chênh lệch về kinh tế, đời sống xã hội giữa các cộng đồng, tầng lớp dân
cư giữa các vùng và có thể tạo ra sự xung đột gây hậu quả xã hội khó có thể đo lường
được.
Về mặt tích cực: xét theo khía cạnh khác, các quốc gia căn cứ vào thựuc trạng
chênh lệch vùng để tìm cách khắc phục cũng như kích thích phát triển kinh tế của các
chậm phát triển và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn cho toàn bộ lãnh thổ
quốc gia. Các vùng phát triển kích thích quá trình đô thị hóa nhanh hơn và lan tỏa
kinh tế đến các vùng chậm phát triển. Đồng thời tạo cơ hội cho người dântự điều tiết
việc làm và thu nhập.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
HIỆN TRẠNG CHÊNH LỆCH VÙNG Ở VIỆT NAM
1. Chênh lệch vùng giữa đô thị và nông thôn.
1.1 Chênh lệch vùng giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi cả nước
Xét trên phạm vi cả nước, giữa khu vực đô thị và khu vực nông thôn có sự
chênh lệch đáng kể về GDP và GDP/ người, về thu nhập và chi tiêu cũng như một số
chỉ tiêu xã hội khác.
1.1.1. Chênh lệch về GDP và GDP/ người
Do có sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng biểu hiện qua
các thông số về mức độ tập trung các sơ sở sản xuất, mức tăng trưởng kinh tế cũng
như về mức độ tập trung kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội giữa đô thị và nông thôn. Ở
đô thị, tập trung nhiều đầu mối giao thông, có sẵn các điều kiện phát triển sản xuất,
do đó các hoạt động kinh tế sôi động hơn, các hoạt động văn hóa- nghệ thuật cũng ở
trình độ cao hơn so với khu vực nông thôn , đặc biệt là nông thôn miền núi, khó khăn,
nơi có trình độ phát triển thấp hơn nên đãtạo ra những chênh lệch nhất đinh về kinh
tế.
Sự phát triển của khu vực nông thôn nói chung vẫn dựa vào cơ cấu sản xuất
truyền thống, chưa tạo được tiềm lực cho phát triển lâu dài. Cơ cấu ngành nghề ở
nông thôn mang nặng tính thuần nông nên không sử dụng hết lực lượng lao động sẵn

ứng của vùng Tây Bắc là 93% và 7%; vùng Đông Bắc là 88,4% và 11,6%; vùng Tây
Nguyên là 91% và 91% và 9%; vùng Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long là
78,8% và 21,2%
Tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam đã tăng từ 20,7% năm 1995 lên 24,2% năm 2000
và 25,8% năm 2003. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị ( theo GDP ) khoảng 8,2%
giai đoạn 1996-2003, gấp khoảng 1,4 lần mức tăng trưởng của khu vực nông thôn.
Năm 2003, khu vực đô thị hóa với 25,8% dân số làm ra 77,2% GDP cả nước. GDP
bình quân đầu người đạt khoảng 22,4 triệu đồng, trong khi đó, khu vực nông thôn tập
trung tới 74,2% dân số, chỉ làm ra 22,8% GDP và GDP bình quân đầu người mới đạt
khoảng 2,3 triệu đồng, bằng 31% mức bình quân cả nước và bằng khoảng hơn 10%
mức bình quân của khu vực đô thị. Mức tăng trưởng kinh tế khu vực nông thôn tính
theo GDP giai đoạn 1996-2003 chỉ đạt khoảng 5,8%.
Như vậy, đến năm 2003, chênh lệch giữa khu vực đô thị và khu vực nông thôn
về dân số là 0,35 lần, chênh lệch về mật độ dân số là 3,2 lần. Từ năm1995 đến năm
2003, mức chênh lệch về GDP giữa hai khu vực này ngày càng dãn ra nhưng
GDP/người đã có sự thu hẹp. Năm 1995, mức chênh lệch về GDP (giá thực tế) là 2,7
lần, GDP/người là 10,32 lần thì đến năm 2003 hai chỉ tiêu trên là 3,39 lần và 9,74 lần.
Mức chênh lệch trên cho thấy trong vòng gần 10 năm chỉ tăng thêm 0,25% đối với
GDP và về GDP/người đã giảm được 0,06%.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 2. Một số chỉ tiêu về dân số, GDP và GDP/người
của khu vực đô thị và nông thôn
Chỉ tiêu
Dân số
(1.000 người)
GDP
(tỷ đồng,
giá thực tế)
GDP/người

hơn nhiều ở nông thôn.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng3: Thu nhập bình quân đầu người một tháng
phân theo thành thị, nông thôn
Năm 1996 Năm 1999 Năm 2002
Cả nước 226,7 295,0 365,2
1. Thành thị 509,4 516,7 622,0
2. Nông thôn 187,9 225,0 275,1
Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn (lần) 2,71 2,30 2,26
1. Thu nhập cao nhất 519,58 741,6 877,1
2. Thu nhập thấp nhất 74,33 97,0 107,7
Chênh lệch giữa hai nhóm thu nhập 6,99 7,65 8,14
Nguồn: Tổng cục thống kê: Niên giám thống kê 2003, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2004.
Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, nếu chia các hộ điều tra thành 10 nhóm
thu nhập, mỗi nhóm 10% số hộ theo độ dốc đi lên của thu nhập bình quân đầu người,
thì thu nhập giữa nhóm có thu nhập cao nhất và có thu nhập thấp nhất có khoảng cách
lớn và tăng theo các năm. Năm 2000, thu nhập bình quân của nhóm hộ giàu nhất
( nhóm 10 ) lớn gấp 12 lần nhóm hộ nghèo nhất ( nhóm 1 ). Năm 2002, tỷ lệ này tăng
lên 13,75 lần.
Tính chung trên cả nước, chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu
nhập thấp nhất ngày càng dãn ra, năm 996 là 6,33 lần đến năm 2002 là 8,1 lần; ở khu
vực thành thị là 7,7 và 8 lần; ở khu vực nông thôn là 5,8 và 6 lần. Theo chỉ tiêu này
cho thấy khu vực thành thị có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn khu vực nông thôn và
cũng là nơi có sự chênh lệch về thu nhập lớn hơn ở nông thôn.
Về chỉ tiêu này, cũng theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, tính chung
cả nước mức chi tiêu cho đời sống năm 2002 bình quân đầu người một tháng ( theo
giá hiện hành ) đạt 269 nghìn đồng, tăng 21,7% so với năm 2000, bình quân mỗi năm
tăng 8,6%, cao hơn giai đoạn 1996-2000 (6,6%). Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu
người một tháng ở khu vực nông thôn đạt 211 nghìn đồng, khu vực thành thị đạt 461


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status