1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
______________
ĐÀO MỘNG ĐIỆP
PHÁP LUẬT
VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2014
2
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận án là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đào Mộng Điệp
4
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ
ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG 13
2.2 Pháp luật về đại diện lao động 65
2.2.1 Khái niệm pháp luật về đại diện lao động 65
2.2.2 Các nguyên tắc pháp luật về đại diện lao động 72
5
2.2.3 Nội dung pháp luật về đại diện lao động 74
2.2.4 Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động trong nền kinh
tế thị trường 90
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 94
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG 96
3.1 Thành lập và tổ chức đại diện lao động 96
3.1.1 Quy định về nguyên tắc thành lập tổ chức đại diện lao động 96
3.1.2 Quy định về đối tượng thành lập tổ chức đại diện lao động 98
3.1.3 Quy định về thành lập tổ chức đại diện lao động 100
3.1.4 Quy định về cơ cấu tổ chức đại diện lao động 105
3.2 Quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện lao động 109
3.2.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn cơ sở 110
4.3.2 Hoàn thiện các quy định về quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện lao
động 178
4.3.3 Hoàn thiện các quy định về đảm bảo pháp lý cho hoạt động của tổ chức
đại diện lao động 190
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 193
KẾT LUẬN 195
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 198
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 198
TÀI LIỆU THAM KHẢO 199
PHỤ LỤC 2147
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đại diện lao động là một thuật ngữ được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau, được quy định trong các công ước quốc tế cũng như trong hệ thống pháp luật
quốc gia. Ở Việt Nam, trong Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 và Nghị định
số18/CP ngày 26/12/1992 đều đã quy định về đại diện lao động trong đó xác định
đại diện lao động là tổ chức công đoàn được thành lập để đại diện và bảo vệ quyền
lợi của tập thể lao động hoặc là người do tập thể lao động cử ra đại diện cho tập thể
lao động ở nơi chưa có tổ chức công đoàn.
Trong quá trình hình thành và phát triển, tổ chức công đoàn đã luôn hoạt động
theo đường lối chủ trương của Đảng và phát huy được chức năng, sứ mạng của
mình. Nội dung và phương pháp hoạt động của tổ chức công đoàn đã có những
bước tiến đáng kể. Cơ cấu của tổ chức công đoàn cũng ngày càng được hoàn thiện
theo hướng đơn giản cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường hiện nay.
Đặc biệt là pháp luật đã quy định cho công đoàn nhiều quyền để thực hiện chức
năng đại diện và bảo vệ quyền lợi, lợi ích của người lao động như: tham gia thương
lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia xây dựng nội quy lao động; tham
gia giải quyết việc làm, giám sát việc bảo đảm việc làm và tiền lương cho người lao
động; tham gia xử lý kỷ luật lao động; đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp; tham gia giải quyết tranh chấp lao động và lãnh đạo tập thể lao động đình
công. Bên cạnh đó, công đoàn còn được tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động với
người sử dụng lao động góp phần duy trì quan hệ lao động hài hòa, ổn định, ngăn
ngừa và hạn chế các tranh chấp lao động phát sinh, khẳng định vị thế bình đẳng của
người lao động với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Hoạt động của
tổ chức công đoàn cũng góp phần vào ổn định chính trị, thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Mặc dù đã có nhiều giải pháp nhằm nâng cao vị thế đại diện trong quan hệ lao
động nhưng tổ chức công đoàn vẫn gặp phải những khó khăn, vướng mắc và hạn
chế trong quá trình hoạt động. Việc thành lập và hoạt động của tổ chức công đoàn
trong các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn
9
chế.Hoạt động của tổ chức công đoàn tại nhiều địa phương, doanh nghiệp còn mang
tính phong trào và hình thức là chủ yếu. Trong khối doanh nghiệp, tổ chức công
đoàn chưa thu hút được sự hưởng ứng, tham gia của người lao động, còn có nhiều
công đoàn viên chưa gắn bó với tổ chức công đoàn. Tổ chức công đoàn chưa phát
huy tốt vai trò tập hợp người lao động; vai trò đại diện cho người lao động trong
doanh nghiệp còn mờ nhạt. Chính vì vậy, một cách tự nhiên, tại một số nơi không
có tổ chức công đoàn (hoặc có tổ chức công đoàn nhưng hoạt động không hiệu quả)
đã xuất hiện tổ chức đại diện của người lao động. Tư cách đại diện này mặc dù đã
động từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá cần thiết nhằm tạo cơ sở cho quá trình
hoàn thiện pháp luật.
Ba là, đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật và kiến nghị hoàn thiện những quy
định cụ thể khả thi trong điều kiện kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đại diện lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau như kinh tế học, xã hội học, triết học, luật học Phù hợp với chuyên ngành
đào tạo, đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về đại diện lao động ở Việt
Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề đại diện lao động trên phương diện
pháp lý, chủ yếu thuộc lĩnh vực pháp luật lao động và công đoàn, chủ yếu ở cấp cơ
sở và cấp trên trực tiếp cơ sở. Cụ thể, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn của chế định đại diện lao động trong quan hệ làm công hưởng
lương ở Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện quy định về dung lượng của luận án, đồng thời, đảm bảo độ sâu
sắc cần thiết, luận án không nghiên cứu các vấn đề sau đây:
- Vấn đề đại diện cho người lao động nói chung bao gồm cả các công chức,
lao động tự do, xã viên hợp tác xã…
- Vấn đề đại diện lao động khi họ không thuộc quan hệ lao động làm công (ví
dụ trong quan hệ dịch vụ việc làm, quan hệ bảo hiểm hưu trí, thất nghiệp) hoặc
thuộc quan hệ lao động làm công nhưng không do luật lao động Việt Nam điều
chỉnh (khi đi làm việc cho người sử dụng lao động nước ngoài)…
- Vấn đề đại diện lao động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (vì phạm vi
11
hoạt động đại diện của tổ chức này khá rộng lớn, không chỉ đại diện cho lao động
làm công trong mối quan hệ với người sử dụng lao động);
- Mối quan hệ của các loại đại diện lao động với nhau và quan hệ của tổ chức
đại diện lao động trong cơ chế ba bên;
- Vấn đề xử phạt vi phạm, giải quyết tranh chấp về đại diện lao động;
- Pháp luật về đại diện lao động của Việt Nam ở giai đoạn trước…
kiến thức hữu ích cho những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực lao động,
công đoàn để áp dụng pháp luật về đại diện lao động phù hợp với hoàn cảnh Việt
Nam nhưng không tách rời trào lưu chung của thế giới.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho một số cơ quan khi
xây dựng, hoạch định các chính sách và pháp luật về đại diện lao động. Kết quả
nghiên cứu cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy tại các trường đào tạo về luật hoặc về công tác xã hội, lao động xã hội,
công đoàn… và cho các tổ chức, cá nhân muốn tìm hiểu, quan tâm đến lĩnh vực đại
diện lao động.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết
cấu bốn Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về đại diện lao động
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện
lao động
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện lao động
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động ở Việt Nam
13
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT
VỀ ĐẠI DIỆN LAO ĐỘNG
1.1 Tình hình nghiên cứu và các vấn đề đã được nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao
động
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về đại diện lao động
Nghiên cứu quan niệm về đại diện lao động
Trong cuốn “Quan hệ lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế”của TS.Lê
Thanh Hà[36]; trong bài viết “Công đoàn Việt Nam và pháp luật điều chỉnh hoạt
động công đoàn trong quan hệ lao động”của TS. Nguyễn Hữu Chí[17] và trong luận
Nghiên cứu của tác giả Robert E. Baldwin trong “The decline of US Labor
Unions and the role of Trade”[113]; nghiên cứu của tác giả Roger Blapain trong
“Systems of employee representation at the enterprise”[115] và nghiên cứu
“Decentralizing industrial relations and the role of labour unions and employee
representatives”của Roger Blanpain[114], các tác giả đều đề cập đến hình thức đại
diện lao động là tổ chức công đoàn và hình thức đại diện không thuộc tổ chức công
đoàn tại nơi làm việc qua khảo sát tại một số quốc gia như Úc, Pháp, Đức, Nhật
Bản, Mỹ, Canada. Đồng thời, các nghiên cứu này cũng đề cập đến các yếu tố tác
động làm suy giảm thành viên của tổ chức đại diện lao động và đề xuất giải pháp
xây dựng một hệ thống đại diện lao động hiệu quả trong giai đoạn lực lượng lao
động phong phú, đa dạng của quá trình toàn cầu hóa.
Trong nghiên cứu “Đại diện quyền lợi người lao động tại Cộng hòa Liên Bang
Đức” của GS.TS. Wolfgang Werner Daeubler[27], tác giả đã phân tích các hình
thức đại diện lao động tại Cộng hòa Liên Bang Đức, phân tích hình thức đại diện
lao động là tổ chức công đoàn thông qua ký kết thỏa ước lao động tập thể, đại diện
quyền lợi người lao động thông qua Hội đồng xí nghiệp, đại diện quyền lợi người
lao động trong các thủ tục tố tụng tại Tòa lao động. Trong đó, tác giả đã đánh giá sự
khác nhau cơ bản giữa các hình thức thực hiện đại diện lao động tại Cộng hòa Liên
Bang Đức và mối liên hệ giữa các hình thức này.
15
Trong bài báo “Hình thức thực hiện quyền đại diện lao động của Cộng hòa
Liên bang Đức và Việt Nam dưới góc nhìn luật so sánh” của tác giả ThS. Đào
Mộng Điệp[34] mới chỉ tiếp cận việc phân loại đại diện lao động dưới góc độ chủ
thể thực hiện quyền đại diện lao động tại Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam.
Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu chưa tiếp cận một cách có hệ
thống việc phân loại đại diện lao động dưới nhiều góc độ về chủ thể đại diện lao
động, tính chất của đại diện lao động, phạm vi của đại diện lao động.
Nghiên cứu vai trò của đại diện lao động trong nền kinh tế thị trường
Một trong những nghiên cứu mang tính tiên phong và nòng cốt phản ánh
những vấn đề cốt lõi nhất về quyền lao động và thương mại quốc tế phải kể đến
quyền tại nơi làm việc cần phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Nó được xem
là chìa khoá của toàn cầu hoá và phát triển bền vững. Đồng thời chỉ rõ tuyên bố của
Tổ chức lao động quốc tế về nguyên tắc cơ bản và quyền tại nơi làm việc góp phần
quan trọng trong việc bảo vệ quyền công dân ở Indonexia, cải cách điều kiện về
kinh tế xã hội, góp phần trong việc xây dựng khả năng hợp tác mối quan hệ ba bên
(Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động) trong quan hệ lao động, thúc
đẩy quan hệ công nghiệp và đối thoại xã hội tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tuyên bố
của Tổ chức lao động quốc tế cũng có ý nghĩa cơ bản trong việc tăng khả năng bảo
vệ quyền con người, chống phân biệt đối xử và cải thiện tình trạng lao động của
Brazil.
Trong nghiên cứu “Decentralizing industrial relations and the role of labour
unions and employee representatives”của Roger Blanpain[114] tác giả đã đề cập
đến phân quyền trong quan hệ công nghiệp, mối quan hệ giữa công đoàn với tổ
chức đại diện người lao động, vai trò của tổ chức công đoàn và đại diện người lao
động trong quan hệ lao động tại các nước như Nhật Bản, Đức, Ý, Anh, đánh giá
quyền của tổ chức công đoàn cũng như vai trò của tổ chức công đoàn và đại diện
người lao động trong bảo vệ quyền lợi của tập thể lao động.
Trong nghiên cứu “Trade Unions and the Betrayal of the Employed: Labor
conflicts during the 1990’s”, của Immanuel Ness[118], tác giả đã phản ánh tầm
quan trọng của tổ chức công đoàn đối với vấn đề thất nghiệp, mối quan hệ của tổ
chức công đoàn và những người lao động thất nghiệp, thái độ, hành động của tổ
17
chức công đoàn đối với những người thất nghiệp tại New York. Đồng thời, tác giả
phản ánh vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn trong hệ thống tư bản chủ nghĩa cũng
như mối quan hệ giữa tổ chức công đoàn với các Đảng chính trị.
Tác giả Jeannette Wicks-limtrong “Creating decent jobs in the United
states.The role of labour unions and collective bargaining”[120] cũng đã chỉ ra
rằng thách thức tạo việc làm trong cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế tại nước Mỹ
có mối liên hệ với tổ chức công đoàn. Tác giả đã đề cập đến sự tác động của hệ
thống chính sách cũng như sự tham gia của tổ chức công đoàn sẽ bảo đảm tăng
Trên cơ sở kết quả khảo sát các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận
về đại diện lao động, nghiên cứu sinh đã kế thừa các kết quả nghiên cứu của các
tác giả và làm rõ một số vấn đề còn bỏ ngỏ sau:
- Nghiên cứu quan niệm về đại diện lao động dưới các góc độ khác nhau để
làm rõ hơn khái niệm này ở phương diện pháp lý.
- Nghiên cứu về các loại đại diện lao động dựa theo tiêu chí chủ thể đại diện
lao động (đại diện lao động được phân thành hai loại: tổ chức công đoàn và tổ
chức đại diện không thuộc hệ thống công đoàn); dựa theo tính chất của đại diện lao
động (đại diện lao động được phân thành đại diện lao động trực tiếp và đại diện
lao động gián tiếp); dựa vào cấp độ (đại diện lao động được phân thành: đại diện
lao động cấp quốc tế, đại diện lao động cấp quốc gia; đại diện lao động cấp vùng,
ngành; đại diện lao động cấp đơn vị sử dụng lao động).
- Nghiên cứu tổng thể vai trò của tổ chức đại diện lao động đối với quan hệ
lao động ở giai đoạn hiện nay và xu hướng trong thời gian tới: hợp tác, phát triển
và cùng có lợi, trong điều kiện kinh tế thị trường.
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu lý luận pháp luật về đại diện lao động
Dưới góc độ ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động trong
nền kinh tế thị trường, pháp luật về đại diện lao động và các nguyên tắc pháp luật
về đại diện lao động.
Qua khảo sát của nghiên cứu sinh, đến nay, chỉ có luận án “Pháp luật công
đoàn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam” của TS. Trần Thị Thanh Hà[40] nêu khái niệm pháp luật về tổ chức công
đoàn (một hình thức đại diện cho tập thể lao động), chưa có công trình nghiên cứu
19
nào đề cập đến ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật về đại diện lao động, khái
niệm pháp luật về đại diện lao động và các nguyên tắc pháp luật về đại diện lao
động.
Dưới góc độ nội dung pháp luật về đại diện lao động
Các nghiên cứu đã tiếp cận một cách sơ lược nội dung pháp luật của tổ chức
công đoàn như: Luận án “Pháp luật về công đoàn trong điều kiện phát triển kinh tế
đại diện lao động
Trong cuốn “Hoạt động công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp khu vực
kinh tế ngoài nhà nước”[93], các tác giả đã tập trung làm rõ quy trình người lao
động gia nhập và tham gia hoạt động công đoàn, việc thực hiện quy chế dân chủ và
thương lượng tập thể ở Việt Nam. Vấn đề này cũng được đề cập đến trong nghiên
cứu “Phát triển tổ chức công đoàn thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh” do PTS. Nguyễn Viết Vượng[108]. Các tác giả đã bàn luận đến các bước
tiến hành thành lập tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và
thực tiễn công tác tổ chức thành lập công đoàn trong khu vực này. Ngoài ra, TS. Vũ
Đạt trong “Hệ thống tổ chức công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới”[30] cũng đã tập
trung đánh giá cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam, thực trạng về cơ
cấu đội ngũ cán bộ công đoàn, thực trạng về sự biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ
thống công đoàn Việt Nam.
Cùng quan điểm với TS.Vũ Đạt, PGS.TS. Nguyễn Viết Vượng trong nghiên
cứu “Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị
trường định hướng Xã hội chủ nghĩa”[109] cũng đã đánh giá về cơ cấu tổ chức
công đoàn Việt Nam, sự chuyển biến về tổ chức và hoạt động của công đoàn Việt
Nam.
Trong Luận án“Pháp luật về công đoàn trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của TS. Trần Thị Thanh Hà[40],
tác giả cũng đã đánh giá khái quát thực trạng tổ chức và hoạt động của công đoàn
Việt Nam.
Trong bài báo “Áp dụng pháp luật lao động trong việc tạo điều kiện cho tổ
chức đại diện người lao động được thành lập và hoạt động tại doanh nghiệp” của
TS. Nguyễn Xuân Thu, Đại học Luật Hà Nội[145] cũng bàn về tổ chức công đoàn
21
tại doanh nghiệp, sự tác động của doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện cho tổ chức
công đoàn được thành lập và hoạt động cũng như đề cập đến một số lưu ý đối với
doanh nghiệp trong áp dụng pháp luật lao động nhằm đảm bảo cho tổ chức công
đoàn hoạt động. Qua khảo sát các công trình nghiên cứu, có thể khẳng định, các
diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong quan hệ lao động”
của ThS. Nguyễn Ngọc Việt[107]và luận văn “Vai trò của tổ chức công đoàn trong
hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” của ThS. Vũ Thị Hải Yến[111], các tác giả
đã phân tích vai trò của tổ chức công đoàn trong tham gia xây dựng chính sách, đại
diện cho tập thể lao động xây dựng các quy định, văn bản trong đơn vị sử dụng lao
động, chăm lo bảo vệ quyền lợi cho người lao động, đại diện và tham gia giải quyết
khiếu nại, tố cáo.
Trong cuốn “Người lao động và hoạt động công đoàn Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”[100], các tác giả cũng đã nhấn mạnh đến hoạt động
của tổ chức công đoàn tham gia trong lĩnh vực việc làm, tiền lương, trong công tác
tuyên truyền giáo dục, nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát của tổ chức
công đoàn.
Trong cuốn “Quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam và vai trò của công đoàn”[37], các tác giả cũng đề cập đến tầm quan
trọng của tổ chức công đoàn trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định,
tiến bộ ở Việt Nam và đặc biệt chú trọng đến vai trò của tổ chức công đoàn tại các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong quá trình tham gia giải quyết tranh
chấp lao động và đình công. Cùng với cách tiếp cận về vấn đề này, trong đề tài
“Nghiên cứu về đình công ở Việt Nam và đề xuất giải pháp công đoàn” của tác giả
Dương Văn Sao[64], tác giả cũng đã đánh giá thực trạng đình công ở Việt Nam và
vai trò của tổ chức công đoàn trong xây dựng quan hệ lao động, giải quyết tranh
chấp lao động và đình công trong giai đoạn hiện nay. Cũng đề cập đến vấn đề này,
tác giả Vũ Hữu Tuyên trong bài báo “Hiện đại hóa quan hệ lao động trong quá
trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế”[146] nhấn mạnh đình công và nguyên
nhân của đình công, trong đó đánh giá vai trò của tổ chức công đoàn đối với đình
công.
Tác giả luận án, ThS. Đào Mộng Điệp cũng đã nghiên cứu một cách khái quát
23
thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện lao động trong bài
báo “Đại diện lao động trong Bộ luật Lao động”[33].
người lao động trong một số lĩnh vực cụ thể và một số bảo đảm về mặt pháp lý cho
tổ chức công đoàn cơ sở hoạt động có hiệu quả trên thực tế. Tuy nhiên, chưa có một
công trình nào đánh giá một cách tổng thể, có hệ thống về pháp luật đại diện lao
động và thực trạng pháp luật về đại diện lao động. Luận án sẽ giải quyết các vấn đề
này một cách tổng thể, cập nhật hơn ở phương diện điều chỉnh pháp luật cũng như
thực tế thực hiện, đánh giá những hạn chế tồn tại của hệ thống pháp luật về vấn đề
này.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động
Nghiên cứu sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động
Cho đến thời điểm này, chưa có một công trình nào đề cập đến việc hoàn
thiện pháp luật về đại diện lao động nhằm khắc phục những bất cập của pháp luật
hiện hành về tổ chức đại diện lao động và đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu
hóa.
Nghiên cứu hướng hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động
Nghiên cứu của TS. Trần Thị Thanh Hà trong luận án “Pháp luật về công
đoàn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam”[40] và nghiên cứu “Công đoàn - tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người lao động trong quan hệ lao động”, luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Ngọc Việt[107] đã đề xuất một số giải pháp liên quan đến việc sửa đổi, bổ
sung Luật Công đoàn năm 1990, xác định đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Luật
Công đoàn, đề xuất một số giải pháp mang tính khái quát về quyền thành lập, gia
nhập tổ chức công đoàn, điều kiện đảm bảo cho hoạt động của tổ chức công đoàn,
sửa đổi bổ sung pháp luật về lao động, việc làm, đề xuất các giải pháp về bảo đảm
thực hiện pháp luật công đoàn dưới các góc độ như tuyên truyền phổ biến, giáo dục
pháp luật công đoàn, đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn.
Trong nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của đại diện lao
động” của tác giả luận án - ThS. Đào Mộng Điệp[31] cũng đề xuất các nhóm giải
pháp chung hoàn thiện pháp luật về đại diện lao động như nhóm giải pháp hoàn
25
thiện Luật Công đoàn 1990, nhóm giải pháp hoàn thiện các chế định điều chỉnh