i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VŨ THÀNH NAM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
CẤP HUYỆN CỦA TỈNH HƢNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Hà Nội – 2014 ii
Danh mục các biểu………………………………………………………… iv
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH…….… 7
1.1. Ngân sách cấp huyện và quản lý ngân sách cấp huyện ………………. 7
1.1.1. Ngân sách nhà nƣớc, ngân sách cấp huyện …………………… 7
1.1.2. Quản lý ngân sách cấp huyện ………………………………… 14
1.2. Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nƣớc, ngân sách cấp huyện trên
thế giới và ở Việt Nam ……………………………………………………… 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
CẤP HUYỆN CỦA TỈNH HƢNG YÊN…………………………………. 42
2.1. Đặc điểm của tỉnh Hƣng Yên và thành phố Hƣng Yên, huyện Khoái
Châu…………………………………………………………………………. 42
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Hƣng
Yên………………………………………………………………………… 42
2.1.2. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố
Hƣng Yên và huyện Khoái Châu…………………………………………… 47
2.2. Thực trạng công tác quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hƣng Yên …. 48
2.2.1. Công tác thu, chi, lập dự toán, quyết toán ngân sách cấp huyện
của tỉnh Hƣng Yên……………………………………………………………. 48
iv
2.2.2. Thực trạng công tác quản lý ngân sách ở các huyện chọn điển
hình nghiên cứu …………………………………………………………… 57
2.3. Một số kết quả đạt đƣợc và những tồn tại trong công tác quản lý ngân
sách cấp huyện trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên ………………………………… 82
2.3.1. Kết quả đạt đƣợc ……………………………………………… 82
2.3.2. Những hạn chế …………………………………………………. 86
2.3.3. Nguyên nhân hạn chế ………………………………………… 90
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Stt
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CTN
Công thƣơng nghiệp
2
DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
3
DNTN
Doanh nghiệp tƣ nhân
4
HĐND
Hội đồng nhân dân
5
KBNN
Kho bạc Nhà nƣớc
6
NSNN
Ngân sách Nhà nƣớc
7
NSTW
Ngân sách Trung ƣơng
8
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Đơn vị hành chính, diện tích và dân số tỉnh Hƣng Yên
thời điểm 31/12/2012
43
2
Bảng 2.2
Chỉ tiêu về tăng trƣởng kinh tế của tỉnh Hƣng Yên
45
3
Bảng 2.3
Chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế của tỉnh Hƣng Yên
46
4
Bảng 2.4
Thu ngân sách các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh
Hƣng Yên
50
5
Bảng 2.5
Tổng hợp thu ngân sách thành phố Hƣng Yên
47
2
Biểu đồ 2.2
Tổng hợp thu Ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
của tỉnh Hƣng Yên
51
3
Biểu đồ 2.3
Tổng hợp chi Ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên
53
4
Biểu đồ 2.4
Tổng thu ngân sách thành phố Hƣng Yên từ
năm 2009 đến năm 2012
59
5
Biểu đồ 2.5
Tổng hợp chi ngân sách thành phố Hƣng Yên từ
năm 2009 đến năm 2012.
68
6
Biểu đồ 2.6
Tổng thu ngân sách huyện Khoái Châu từ năm
2009 đến năm 2012.
71
7
Biểu đồ 2.7
Tổng chi ngân sách huyện Khoái Châu từ năm
2009 đến năm 2014
Ngân sách Nhà nƣớc là một nhân tố quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô.
Ngân sách Nhà nƣớc bao gồm Ngân sách Trung ƣơng và Ngân sách Địa phƣơng.
2
Ngân sách Trung ƣơng là ngân sách do Trung ƣơng quản lý, phân bổ cho các bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ƣơng; ngân
sách địa phƣơng bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng
Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân. Mỗi cấp ngân sách có mục tiêu và phạm vi hoạt động
khác nhau nhƣng có mối liên hệ khăng khít với ngân sách quốc gia; ngân sách cấp
huyện, thành phố là một bộ phận hữu cơ cấu thành của ngân sách tỉnh là công cụ để
chính quyền cấp huyện, thành phố thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
trong quá trình quản lý, điều hành kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Luật Ngân
sách Nhà nƣớc năm 2002 là cơ sở pháp lý cơ bản để tổ chức quản lý Ngân sách Nhà
nƣớc nói chung và ngân sách cấp huyện nói riêng nhằm phục vụ tốt hơn cho công
cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Song kể từ khi Luật Ngân sách đi vào thực
tiễn, những yếu tố, điều kiện chƣa đƣợc tạo lập đồng bộ, làm cho quá trình quản lý
ngân sách các cấp đạt hiệu quả thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu mà Luật Ngân
sách đặt ra.
Trong hoàn cảnh đó, tăng cƣờng quản lý Ngân sách Nhà nƣớc sẽ tạo điều kiện
tăng thu ngân sách và sử dụng Ngân sách Nhà nƣớc tiết kiệm, có hiệu quả hơn; giúp
nƣớc ta sớm đạt đƣợc mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng đƣợc yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn định an
ninh, quốc phòng.
Hƣng Yên là một tỉnh đƣợc tái lập năm 1997 (tách ra từ tỉnh Hải Hưng theo
Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX) có 10 huyện, thành phố nằm ở tả ngạn
Sông Hồng, trung tâm của Đồng Bằng Bắc Bộ với vị trí địa lý thuận lợi. Sau gần 20
năm tái lập, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hƣng Yên với quyết tâm và
những biện pháp phù hợp đã đạt đƣợc những thành tựu lớn trong phát triển kinh tế -
xã hội. Trong quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh, Ngân sách Nhà nƣớc của
Ngoại thƣơng-Hà Nội, năm 2013.
4
Hàng năm các địa phƣơng khi trình lên Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố
dự toán ngân sách địa phƣơng đều có bản giải trình, đây là những tài liệu rất cụ thể,
rất thời sự gợi ý nhiều ý tƣởng tốt.
Tuy nhiên, đối với công tác quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hƣng Yên
đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề này. Điều đó cho
thấy việc nghiên cứu đề tài này trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên là vấn đề mới đang đặt
ra, đòi hỏi phải nghiên cứu những điều kiện đặc thù để quản lý ngân sách cấp huyện
có hiệu quả hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản, đánh giá đúng thực trạng, tình hình
quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hƣng Yên, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu
nhằm hoàn thiện chính sách quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hƣng Yên trong
thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về Ngân sách cấp huyện
+ Khái niệm về Ngân sách Nhà nƣớc, ngân sách cấp huyện;
+ Quản lý ngân sách cấp huyện.
- Thực trạng công tác quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hƣng Yên hiện
nay.
- Luận văn đƣa ra các phƣơng án nhằm hoàn thiện quản lý ngân sách cấp
huyện trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5
động kinh tế phát sinh, các nét đặc trƣng nhất của công tác quản lý ngân sách cấp
huyện trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phƣơng pháp lý luận chung là phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, các khoản thu, chi Ngân sách Nhà
nƣớc đƣợc xem nhƣ một hệ thống luôn biến đổi, vận động và do đó cần đƣợc quan
tâm đổi mới. Đồng thời, đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành là
phƣơng pháp thu thập thông tin và phƣơng pháp thống kê, phân tích dựa trên lý
thuyết kinh tế học vĩ mô, kinh tế ngành nhƣ: Lý thuyết tài chính - tiền tệ, ngân hàng,
… nhằm phân tích, đánh giá công tác quản lý ngân sách cấp huyện trên cơ sở số
liệu, tài liệu do các cơ quan chuyên môn cung cấp để đƣa ra các giải pháp khắc
phục những hạn chế.
6. Đóng góp mới của luận văn
Với sự nỗ lực của bản thân, kết hợp những kinh nghiệm, những kiến thức đã
đƣợc học tập, nghiên cứu từ các tác giả khác nhau và đặc biệt là nhờ sự giúp đỡ của
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học, đề tài đƣa ra một số đóng góp nhƣ sau :
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về ngân sách cấp huyện và quản lý
Ngân sách Nhà nƣớc cấp huyện;
- Phân tích rõ thực trạng của công tác quản lý ngân sách cấp huyện, điển hình
là thành phố Hƣng Yên, huyện Khoái Châu;
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý NSNN cấp huyện
của tỉnh Hƣng Yên.
7. Kết cấu của luận văn (Nội dung chi tiết từng chƣơng)
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chƣơng.
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách cấp huyện.
7
Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý ngân sách cấp huyện của tỉnh Hƣng Yên.
Chƣơng 3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
- NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ
quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc[14, tr.1].
Tóm lại, NSNN là một phạm trù kinh tế tổng hợp và trừu tƣợng. Khái niệm
NSNN phải thể hiện đƣợc nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, phải đƣợc xem xét
trên các mặt hình thức, nội dung và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN.
Xét về hình thức: NSNN là một bản dự báo thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ
trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
Xét về nội dung: NSNN bao gồm những nguồn thu và những khoản chi cụ thể
đã đƣợc lƣợng hoá. Các nguồn thu đều đƣợc nộp vào một quỹ tài chính tập trung
của Nhà nƣớc; các khoản chi đều đƣợc xuất ra từ quỹ tài chính tập trung ấy.
Các khoản thu chi của NSNN đều phản ánh tổng hợp những mối quan hệ kinh
tế, chính trị, xã hội nhất định giữa Nhà nƣớc với các chủ thể hoạt động trên mọi lĩnh
vực, đƣợc thể hiện thông qua các quan hệ tài chính, bao gồm:
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với dân cƣ;
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các tổ chức tài chính, tín dụng và các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế;
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các đơn vị sự nghiệp công lập;
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các tổ chức chính trị - xã hội;
- Quan hệ tài chính giữa Nhà nƣớc với các quốc gia và các tổ chức quốc tế.[9,
tr.5]
Từ sự phân tích ở trên, chúng ta có thể thống nhất với khái niệm NSNN nhƣ
sau:
10
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo
đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước[14, tr.1].
Sơ đồ 1.1
* Phân cấp quản lý NSNN
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
NGÂN SÁCH
TRUNG ƢƠNG
NGÂN
SÁCH
TRUNG ƢƠNG
NGÂN SÁCH
ĐỊA PHƢƠNG
Ngân sách Đảng CSVN,
Chủ tịch nƣớc, QH, CP,
Toà án, Viện KSNDTC
Ngân sách các Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan
trực thuộc Chính phủ
Ngân sách cơ quan trực
thuộc các Bộ, ngành ở
Trung ƣơng
Ngân sách Tỉnh, TP
trực thuộc TW
Ngân sách Quận,
Ngân sách địa phƣơng đƣợc phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện
những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã
hội trong phạm vi quản lý;
13
+ Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền
địa phƣơng do Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp
này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phƣơng; cấp xã đƣợc tăng
cƣờng nguồn thu, phƣơng tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách để quản lý
tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn đƣợc phân cấp;
+ Kết thúc mỗi kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn thu và
nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định của Luật Ngân sách Nhà
nƣớc, Quốc hội, Hội đồng Nhân dân điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dƣới; Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội, Hội đồng Nhân dân
cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu
giữa ngân sách các cấp.[9, tr.20-21]
Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN ở nƣớc ta hiện nay đƣợc cụ thể tại Điều
6-Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ Quy định
chi tiết và hƣớng dẫn thi hành Luật NSNN. Theo đó, ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp này phải
phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phƣơng.[6, tr.4]
1.1.1.2. Ngân sách cấp huyện.
* Khái niệm: Ngân sách Nhà nƣớc bao gồm ngân sách Trung ƣơng và ngân
sách các cấp chính quyền địa phƣơng (ngân sách địa phƣơng). Ngân sách địa
phƣơng bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân
và Uỷ ban Nhân dân. Theo đó, NSĐP bao gồm:
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi chung là ngân sách
tỉnh).
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách
Nhiệm vụ chi ngân sách
15
- Chi đầu tƣ phát triển: Đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội không có khả năng thu hồi vốn do địa phƣơng quản lý; Đầu tƣ và hỗ trợ cho
các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nƣớc theo quy
định của pháp luật; Phần chi đầu tƣ phát triển trong các công trình quốc gia do các
cơ quan địa phƣơng thực hiện; Các khoản chi đầu tƣ phát triển khác theo quy định
của pháp luật[6];
- Chi thƣờng xuyên:
+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hoá
thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trƣờng,
các sự nghiệp khác do địa phƣơng quản lý: Giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá, nhà
trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác; Đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức
đào tạo bồi dƣỡng khác; Phòng bệnh, chữa bệnh và các hoạt động y tế khác; Các
trại xã hội, cứu tế xã hội, cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động
xã hội khác; Bảo tồn, bảo tàng, thƣ viện, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động văn hoá
khác; Phát thanh, truyền hình và các hoạt động thông tin khác; Bồi dƣỡng, huấn
luyện huấn luyện viên, vận động viên các đội tuyển cấp tỉnh, quản lý cơ sở thi đấu
thể dục, thể thao và các hoạt động thể dục thể thao khác; Nghiên cứu khoa học, phát
triển công nghệ; Các sự nghiệp khác do địa phƣơng quản lý.
+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phƣơng quản lý: Sự nghiệp giao
thông: Duy tu, bảo dƣỡng, và sửa chữa cầu đƣờng và các công trình giao thông
khác, lập biển báo và các biện pháp bảo đảm an toan giao thông trên các tuyến
đƣờng; Sự nghiệp nông nghiệp, thuỷ lợi, diêm nghiệp và lâm nghiệp: Duy tu, bảo
dƣỡng các tuyến đê, các công trình thuỷ lợi, các trạm trại nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngƣ nghiệp, các công tác khuyến lâm, khuyến nông, khuyến ngƣ, chi khoanh nuôi,
bảo vệ, phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; Sự nghiệp thị chính:
Quản lý nói chung đƣợc quan niệm nhƣ một quy trình công nghệ mà chủ thể
quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phƣơng pháp thích hợp
nhằm tác động và điều khiển đối tƣợng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với
quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định. Trong hoạt động quản lý, các
vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý, công cụ và phƣơng pháp quản lý,
mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng đắn.
Chủ thể quản lý NSNN là Nhà nƣớc hoặc các cơ quan nhà nƣớc đƣợc nhà
nƣớc giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN.
Chủ thể trực tiếp quản lý NSNN là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà
nƣớc.
Đối tƣợng của quản lý NSNN là các hoạt động của NSNN. Nói cụ thể hơn đó
là các hoạt động thu, chi bằng tiền của NSNN.
Trong quản lý NSNN, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phƣơng pháp
quản lý khác nhau nhƣ:
- Phƣơng pháp tổ chức: đƣợc sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý
trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của NSNN theo những khuôn mẫu đã
định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của quản lý
NSNN.
- Phƣơng pháp hành chính: đƣợc sử dụng khi các chủ thể quản lý NSNN muốn
các đòi hỏi của mình phải đƣợc các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều
kiện. Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính.
- Phƣơng pháp kinh tế: đƣợc sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy kinh tế
để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức
và cá nhân đang tổ chức các hoạt động quản lý NSNN.