.
WHO/CDS/CSR/EDC/99.1 Kế hoạch phòng chống đại dịch cúm - Vai trò
của WHO và Hớng dẫn lập kế hoạch quốc gia
và khu vực
Gieneva, Thuỵ Sỹ
Tháng T năm 1999
Tổ chức Y tế Thế giới
Bộ phận Giám sát và Phòng chống bệnh truyền nhiễm
Tài liệu này đợc tải về từ trang web của WHO/CSR, không bao gồm các
trang bìa gốc và danh sách ngời tham gia. Xem trang web
/> để biết thêm thông tin. 1
Tổ chức Y tế Thế giới
Tài liệu này không phải là ấn phẩm chính thức của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO); và WHO đã đăng ký tất cả mọi bản quyền đối với tài liệu. Tuy nhiên,
có thể tự do xem xét, trích lục, sao chép, dịch thuật một phần hay toàn bộ tài
liệu nhng không đợc bán hay sử dụng cho những mục đích thơng mại.
Quan điểm nêu trong những bài viết có tên tác giả chỉ thể hiện quan điểm của
chính tác giả đó. Việc nhắc đến tên của những công ty hay sản phẩm của nhà
sản xuất nào đó không hàm ý WHO quảng cáo cho họ hay đánh giá họ cao
3
4.6. Đạt sự nhất trí về khoa học và y học
4.7. Đảm bảo hậu cần và nguồn cung cấp thuốc men
4.8. Khung pháp lý - chính trị - kinh tế cho hành động
4.9. Truyền thông
5. Những vấn đề cần đến quyết định chính sách ở cấp
quốc gia
5.1. Những vấn đề về quản lý
5.2. Những vấn đề về giám sát
5.3. Những vấn đề về khoa học và y tế
5.4. Những vấn đề về hậu cần và nguồn cung thuốc men
5.5. hững vấn đề về pháp lý - chính trị - kinh tế
5.6. Những vấn đề về truyền thông
6. Kết luận
7. Phụ lục A: Bệnh cúm và các biến chứng
8. Phụ lục B: Nền tảng lịch sử
9. Phụ lục C: Nguồn gốc của đại dịch
10. Phụ lục D: Vắc xin cúm
11. Phụ lục E: Thuốc kháng vi rút
12. Phụ lục F: Danh mục địa chỉ
13. Phụ lục G: Kế hoạch phòng chống đại dịch quốc gia 4
ngăn chặn sự phát tán của vi rút có tiềm năng gây đại dịch đợc coi là không
khả thi, chúng ta vẫn có thể hạn chế ở mức tối thiểu những hậu quả của nó
bằng cách chuẩn bị sẵn sàng để đơng đầu với thách thức trong tơng lai.
Ngay cả khi không có đại dịch, nh trờng hợp của Hoa Kỳ năm 1976 và Đặc
khu Hồng Công cuối năm 1997, công chúng cũng sẽ nhanh chóng trở nên
hoảng sợ trớc khả năng xảy ra đại dịch khi có một số bệnh nhân nhiễm một
phân nhóm (tuýp) mới của vi rút. Nỗi sợ hãi về sự hiện diện của một dạng vi
rút cúm mới và nguy hiểm đặt ra cho các nhà chức trách y tế và các vị lãnh
đạo quốc gia những thách thức to lớn, kể cả khi quy mô dịch bệnh do loại vi
rút mới gây ra còn cha đợc kiểm chứng. Để có thể đối phó tốt hơn với tình
trạng báo động giả xuất phát từ việc giám sát cao độ, các chuyên gia đã đa
ra định nghĩa về một chuỗi các cấp độ chuẩn bị cần áp dụng trớc khi công
5
bố bắt đầu đại dịch. Nhờ đó WHO có thể đa ra thông báo về những ca nhiễm
loại vi rút mới ở ngời và khởi xớng các hoạt động phòng chống mà không
gây ra sự hoảng loạn không cần thiết. Nhu cầu này đặc biệt quan trọng trong
một kỷ nguyên mà thông tin đợc truyền đi nhanh chóng nhờ các phơng tiện
điện tử. Cần tiếp tục thực hiện những nỗ lực đặc biệt để mở rộng khả năng sử
dụng công cụ truyền thông điện tử của những ngời đảm nhiệm trọng trách
giám sát hay đánh giá và quản lý đáp ứng với những vi rút cúm mới, và để phổ
biến các báo cáo tình hình một cách có trật tự.
Có thể truy cập tài liệu này trên trang web của Tổ chức Y tế Thế giới
/> 6
2. Giới thiệu
Những vi rút cúm lu hành trong khoảng thời gian giữa các đại dịch có liên
quan đến những vi rút gây ra các vụ dịch trớc đó. Vi rút lan truyền ở ngời
1977 có quy mô nhỏ hơn (Bảng 3, Phụ lục B). Đại dịch 1918/1919 là đại dịch
trầm trọng nhất; ớc tính có tới 20 triệu ngời chết trên toàn thế giới.
Ngoài ra, cũng có những báo động giả (Bảng 3, Phụ lục B). Ví dụ, ở Hoa Kỳ
năm 1976 đã xảy ra một vụ dịch địa phơng có ca bệnh đầu tiên tử vong trong
số tân binh. Ca tử vong này do một loại vi rút cúm tơng tự nh vi rút tìm thấy
trên lợn ở Hoa Kỳ gây ra, chúng có liên quan đến vi rút gây đại dịch 1918.
7
Phản ứng của Hoa kỳ bao gồm việc sản xuất vắc xin hàng loạt theo hợp đồng
với chính phủ, và chiến dịch tiêm chủng rộng khắp. Tuy nhiên, vi rút đã không
vợt ra khỏi giới hạn của trại huấn luyện. Hoa Kỳ cũng phát hiện đợc một số
trờng hợp với các ca tản phát ngời nhiễm vi rút cúm lợn (ví dụ ở Wisconsin
năm 1988). Những ví dụ khác đợc nêu ở cuối Bảng 1 chỉ phản ánh phần nổi
của tảng băng. Việc cảnh báo sớm các trờng hợp bất thờng hay khác lạ phụ
thuộc vào chất lợng của hệ thống giám sát bệnh cúm ở ngời và ở động vật.
Một lần nữa, vào năm 1997, mối lo ngại về khả năng xảy ra đại dịch lại dấy
lên khi Đặc khu Hồng Công phát hiện ra các bệnh nhân mắc phân nhóm vi rút
H5N1. Vi rút H5N1 tìm thấy ở ngời có liên quan đến những vi rút phân lập
đợc từ gà bệnh ở Đặc khu Hồng Công. Tuy nhiên, các cuộc khảo sát chuyên
sâu đã không khẳng định đợc là có sự lây truyền vi rút đáng kể từ ngời sang
ngời, và hiện tợng nhiễm khuẩn ở ngời đã ngừng lại khi các quan chức y tế
công cộng và thú y tổ chức tiêu huỷ hàng loạt số gà bán ở chợ và nuôi ở các
trại chăn nuôi.
Điều chế các tái tổ hợp gien có khả năng sinh trởng cao cho sản xuất vắc xin
H5N1 là việc làm khó khăn và đòi hỏi nhiều thời gian, vì những vấn đề kỹ
thuật gặp phải trong quá trình chọn lọc (ví dụ độc tính với trứng gà có phôi).
Kể từ khi ca bệnh đầu tiên xuất hiện vào tháng 5 năm 1997, phải mất hơn 12
tháng ngời ta mới đa ra đợc các chế phẩm nh vậy để sản xuất vắc xin
thực nghiệm. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng sản xuất nhanh loại vắc xin phù
hợp có hiệu quả với chủng vi rút có tiềm năng gây đại dịch cúm không phải là
ra thông cáo báo chí
3.1. Đánh giá mức báo động liên quan đến các vi rút cúm mới trong
khoảng thời gian giữa các đại dịch
Loại vi rút mới có tiềm năng gây đại dịch đầu tiên có thể đợc phát hiện từ
các vụ dịch lớn và lan nhanh, ví dụ trong các năm 1957 và 1968. Tuy nhiên,
để có thể lập kế hoạch một cách hiệu quả, điều quan trọng là có đợc một quy
trình để xác định phơng án đáp ứng với những tình huống khác, ví dụ nh
nhận biết khả năng không lan rộng và gây đại dịch của loại vi rút mới, và phát
hiện sớm sự lây lan ở mức độ thấp của một vi rút có tiềm năng gây đại dịch
thực thụ.
Định nghĩa về mức báo động đợc mô tả ở đây là cơ sở để WHO xác định
phản ứng của mình trớc những tình huống nh vậy.
Báo động cấp 1, 2 và 3 tơng ứng với những sự kiện có thể xảy ra trong
khoảng thời gian giữa các đại dịch (cũng có thể coi là tơng ứng với Giai đoạn
0 của đại dịch). Do đó WHO sẽ duy trì Đội đặc nhiệm giám sát đại dịch trong
khoảng thời gian giữa các đại dịch để có thể khởi xớng những biện pháp
thích hợp khi có báo cáo về loại vi rút có tiềm năng gây dịch, và để chỉ rõ mức
báo động cần thiết (xem phần dới đây và xem Bảng 1).
9
Nếu loại vi rút mới có lây lan ở ngời, WHO sẽ ra tuyên bố - với sự trợ giúp
của đội đặc nhiệm và sau khi đã hội đàm ở cấp quốc tế - về đại dịch cúm mới.
3.2. Giai đoạn 0: Hoạt động trong khoảng thời gian giữa các đại dịch
Trong giai đoạn này, không có dấu hiệu về bất cứ tuýp vi rút mới nào. Nh đã
nói ở trên, khoảng thời gian giữa các đại dịch - khi có thể xuất hiện các phân
tuýp có kháng nguyên bề mặt mới của vi rút cúm A có tiềm năng gây đại dịch
- đợc coi là giai đoạn 0 của đại dịch. Dựa trên các báo cáo gửi đến WHO về
những loại vi rút mới nh vậy, sau khi Đội đặc nhiệm giám sát đại dịch và các
chuyên gia có liên quan đã xem xét, WHO sẽ ra thông báo về những giai đoạn
năng chẩn đoán nhanh bằng các phơng pháp phát hiện
kháng nguyên (ví dụ nh soi kính hiển vi huỳnh quang
trên bệnh phẩm dịch hầu), và xác định hiệu giá kháng
thể trong huyết thanh ngời. WHO hiện đang cung cấp
cho mỗi phòng thí nghiệm quốc gia này một bộ chất thử
do Trung tâm cộng tác của WHO ở Atlanta bào chế ra
để định loại các phân lập vi rút. Kết quả đợc báo cáo
cho WHO, đồng thời với việc gửi mẫu phân lập đến các
Trung tâm cộng tác để đối chiếu kỹ với nhau và với các
chủng cũ. Bằng cách này, có thể khẳng định đợc sự
xuất hiện và lây lan của các biến thể mới, và đánh giá
tầm quan trọng của chúng. 10
Trong trờng hợp cần thiết, các Trung tâm cộng tác và Cơ quan kiểm định
quốc gia của úc và châu Đại dơng, châu Âu, châu á và Hoa Kỳ sẽ ra quyết
định chọn các chủng giống dự tuyển để sản xuất vắc xin khi có khuyến cáo về
công thức vắc xin. Những khuyến cáo này đợc các chuyên gia có trách
nhiệm đa ra qua hai cuộc họp thờng niên: tháng Hai đối với Bán cầu bắc và
tháng Chín đối với Bán cầu nam. Phụ lục D sẽ cung cấp thêm thông tin về quá
trình ra khuyến cáo và sản xuất vắc xin cúm.
WHO cũng đã phân công một Trung tâm cộng tác nghiên cứu các vi rút gây
bệnh cúm ở động vật; Trung tâm này - có trụ sở đặt tại Memphis, bang
Tennessee, Hoa Kỳ - giúp WHO định loại vi rút phân lập từ các loài động vật
khác nhau, và nghiên cứu mối quan hệ giữa các chủng vi rút ở ngời và động
vật.
3.2.1. Giai đoạn 0, báo động cấp 1, chủng vi rút cúm mới ở một bệnh nhân
Mức báo động này đợc đặt ra sau khi có báo cáo đầu tiên về việc phân lập
đợc một phân tuýp vi rút mới từ một bệnh nhân duy nhất, nhng không có
nếu cần;
Thúc đẩy việc phát triển và lập kế hoạch phân phối các chất phản ứng
đến mọi phòng thí nghiệm cúm quốc gia để định loại chủng vi rút mới.
3.2.2. Giai đoạn 0, báo động cấp 2, khẳng định tình trạng nhiễm khuẩn ở
ngời
Mức báo động này đợc đặt ra khi khẳng định đợc rằng có từ hai ngời trở
lên nhiễm phân tuýp vi rút mới, nhng còn nghi ngờ về khả năng lây lan từ
ngời sang ngời và khả năng gây ra nhiều vụ dịch dẫn đến các đợt dịch của
vi rút.
Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc
tế, WHO sẽ ra thông báo Báo động cấp 2.
WHO sẽ khuyến khích và giúp quốc gia nơi đã phát hiện ra những ca đầu
tiên đẩy mạnh công tác giám sát và chẩn đoán, và tổ chức những đợt khảo
sát đặc biệt để nâng cao kiến thức về sự lây truyền có thể xảy ra và tác
động của vi rút mới.
WHO sẽ đa ra định nghĩa ca bệnh để sử dụng trong việc giám sát phân
tuýp vi rút mới, đặc biệt là khi vi rút mới bắt đầu lây lan.
Nếu cần, WHO sẽ đề nghị một nhóm các nớc tham gia xác định tỷ lệ
ngời có kháng thể với vi rút mới trong quần thể dân c nói chung. Để đảm
bảo tính tơng thích của kết quả, sẽ chỉ định một phòng thí nghiệm chuẩn
thức thực hiện các xét nghiệm huyết thanh học.
WHO sẽ thúc đẩy việc tăng cờng hoạt động giám sát trên quy mô khu vực
hay quốc tế. Các phòng thí nghiệm quốc gia, đặc biệt là ở những nớc mà
dân c thờng hay qua lại nơi đầu tiên phát hiện ra vi rút mới, sẽ đợc
khuyến khích tăng tần số báo cáo về những cụm hay vụ dịch giống cúm, và
bố trí chẩn đoán xét nghiệm kịp thời, bất kể lúc đó có phải là mùa cúm
thông thờng hay không.
WHO sẽ khuyến cáo các nhà chức trách y tế cấp quốc gia tiến hành những
bớc chuẩn bị để khởi động kế hoạch phòng chống đại dịch của nớc mình
nếu điều đó là cần thiết.
3.2.3. Giai đoạn 0, báo động cấp 3, khẳng định sự lây lan ở ngời
Mức báo động này đợc đặt ra khi đã có bằng chứng rõ ràng để khẳng định
rằng phân tuýp vi rút mới lây lan từ ngời sang ngời trong quần thể dân c
chung, ví dụ các ca thứ phát mắc bệnh qua tiếp xúc với một ca đầu tiên, tạo
nên ít nhất một vụ dịch kéo dài tối thiểu hai tuần ở một nớc. Việc phân lập
đợc phân tuýp vi rút mới ở một vài nớc và không có lời giải thích nào ngoài
sự tiếp xúc giữa những ngời nhiễm cũng có thể đợc coi nh bằng chứng về
sự lây lan quan trọng ở ngời.
Trớc khi WHO công bố mức báo động này, đội đặc nhiệm của WHO sẽ thực
hiện những việc làm cần thiết cho việc tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế: thứ
13
nhất, để đảm bảo việc đánh giá tiềm năng gây đại dịch của vi rút mới không
bỏ qua bất cứ lời giải thích nào, kể cả sự phơi nhiễm nhân tạo của con ngời ở
một số nơi với vi rút cúm (ví dụ nh hành động khủng bố), hay tình huống
sinh thái khác thờng trong đó có một loại động vật trung gian truyền vi rút
sang cho ngời ở những địa điểm khác nhau; và thứ hai, để đảm bảo có đủ
bằng chứng về tiềm năng gây bệnh viêm đờng hô hấp dới hay các biến
chứng khác của vi rút.
Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc
tế, WHO sẽ ra thông báo Báo động cấp 3.
WHO sẽ đa ra định nghĩa ca bệnh để sử dụng trong việc giám sát phân
tuýp vi rút mới.
Một phần trong các hoạt động ở mức báo động cấp 2 là WHO sẽ tạo thuận
lợi cho việc phân phối vi rút vắc xin dự tuyển đến các nhà sản xuất vắc xin
có quan tâm.
WHO sẽ mời các chuyên gia về thành phần vắc xin cúm họp bàn để phát
triển, phổ biến và khuyến khích phối hợp thử nghiệm lâm sàng vắc xin
phòng chống chủng vi rút mới.
WHO sẽ mời các chuyên gia về thành phần vắc xin cúm họp bàn để phát
phát là thời điểm mà WHO đã khẳng định đợc rằng vi rút có kháng nguyên
bề mặt phân tuýp khác với các chủng gây dịch gần đây đã bắt đầu lan ra từ
một hay nhiều ổ dịch ban đầu. Tuỳ theo mức độ cảnh báo sớm, giai đoạn này
có thể, hay có thể không, diễn ra sau chuỗi các mức báo động tăng dần đã nêu
ở trên.
Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc
tế, WHO sẽ ra thông báo về sự khởi phát Giai đoạn 1 của đại dịch cúm.
WHO sẽ ra khuyến cáo về thành phần và cách sử dụng vắc xin (liều lợng
và lịch tiêm chủng), và tổ chức các cuộc hội đàm nhằm tạo thuận lợi cho
việc sản xuất và phân phối vắc xin một cách công bằng nhất. WHO cũng
sẽ cân nhắc tình huống không có sự thay thế những chủng lu hành trớc
đây bằng phân tuýp vi rút mới.
WHO sẽ ra hớng dẫn về cách sử dụng tốt nhất những loại thuốc kháng vi
rút sẵn có để điều trị vi rút mới.
Cần khởi xớng càng nhanh càng tốt các biện pháp xử lý của quốc gia theo
kế hoạch phòng chống đại dịch đợc đa ra từ trớc, đợc cập nhật theo
những đặc điểm cụ thể của phân tuýp mới và tính sẵn có của vắc xin.
WHO sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác theo dõi giám sát và báo cáo tình hình
lây lan cũng nh tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu.
WHO sẽ tìm cách hỗ trợ các nớc có năng lực hạn chế huy động nguồn lực
thông qua quan hệ hợp tác với những tổ chức nh UNICEF, Hiệp hội Chữ
thập đỏ và Trăng lỡi liềm đỏ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và các cơ quan
cứu trợ quốc tế.
15
WHO sẽ làm việc cụ thể với các văn phòng khu vực để khuyến khích các
hoạt động chung giữa những quốc gia cùng phải đơng đầu với những
thách thức giống nhau của đại dịch.
3.4. Giai đoạn 2: Các đợt dịch trên phạm vi khu vực và đa khu vực
nguồn lực.
3.6. Giai đoạn 4: Làn sóng thứ hai hay các làn sóng tiếp theo của đại
dịch
Kinh nghiệm trớc đây cho thấy ở nhiều nớc, trong vòng 3 đến 9 tháng sau
đợt dịch đầu tiên, có thể xảy ra thêm ít nhất một làn sóng các vụ dịch do vi rút
mới gây ra.
Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc
tế, WHO sẽ ra thông báo về sự khởi phát Giai đoạn 4 của đại dịch cúm.
WHO sẽ tiếp tục thực hiện công tác theo dõi giám sát và báo cáo tình hình
lây lan cũng nh tác động của vi rút trên phạm vi toàn cầu.
WHO sẽ đánh giá nhu cầu còn lại đối với vắc xin.
WHO sẽ đánh giá tính sẵn có của các loại thuốc kháng vi rút.
WHO sẽ tìm cách tiếp tục hỗ trợ các nớc có năng lực hạn chế huy động
nguồn lực.
3.7. Giai đoạn 5: Kết thúc đại dịch (trở lại Giai đoạn 0)
WHO sẽ ra thông báo lúc kết thúc Giai đoạn đại dịch, thờng là sau 2 - 3
năm. Biểu thị của sự kết thúc này là các chỉ số liên quan đến bệnh cúm cơ bản
đã trở về mức bình thờng của khoảng thời gian giữa các đại dịch, và khả
năng miễn dịch với phân tuýp vi rút mới đã mang tính phổ biến trong quần thể
dân c nói chung. Những đợt dịch lớn sẽ không xảy ra cho đến khi các biến
thể kháng nguyên lại bắt đầu xuất hiện từ chủng gây đại dịch nguyên mẫu.
Với sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc
tế, WHO sẽ ra thông báo về sự kết thúc của đại dịch cúm, và sự khởi đầu
của một giai đoạn mới giữa các đại dịch: Giai đoạn 0.
Các phơng pháp đợc WHO sử dụng để thu thập thông tin về bệnh cúm,
thông báo về sự lây lan của vi rút, và thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp
phòng chống đặc biệt nói chung sẽ trở về những mức độ trớc đại dịch. Nếu
thuận tiện, trên cơ sở của kinh nghiệm thu đợc qua giai đoạn đại dịch, và nếu
Xuất hiện
chủng vi rút
cúm mới ở
một ngời
bệnh
Mức báo động này
đợc đặt ra sau khi
có (những) báo cáo
đầu tiên về việc
phân lập đợc một
phân tuýp vi rút
mới, nhng không
có bằng chứng rõ
ràng về sự lây lan
của nó hay về bệnh
dịch do nó gây ra.
Ra thông báo Báo động cấp 1 với
sự trợ giúp của đội đặc nhiệm, và
sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc
tế.
Điều phối nỗ lực quốc tế để giúp
các nhà chức trách quốc gia và địa
phơng báo cáo về vi rút có tiềm
năng gây đại dịch qua việc khẳng
định sự nhiễm khuẩn ở ngời là do
chủng vi rút mới gây ra.
Đẩy mạnh hoạt động của mạng
lới các phòng thí nghiệm giám sát.
18
đặc biệt để nâng cao kiến thức về sự
lây truyền có thể xảy ra và tác động
của vi rút mới.
Đa ra định nghĩa ca bệnh để sử
dụng trong việc giám sát phân tuýp
vi rút mới.
Đề nghị một nhóm các nớc tham
gia xác định tỷ lệ ngời có kháng
thể với vi rút mới trong quần thể
dân c nói chung.
Thúc đẩy việc tăng cờng hoạt
động giám sát trên quy mô khu vực
hay quốc tế.
Thúc đẩy việc phát triển và đánh
giá các chủng giống dự tuyển để
sản xuất vắc xin phòng chống
chủng vi rút cúm mới.
Thúc đẩy việc phát triển các chất
phản ứng cần thiết để xác định nhận
dạng và hiệu lực của vắc xin sản
xuất từ chủng mới.
Thúc đẩy việc lập kế hoạch thử
nghiệm vắc xin tiền lâm sàng và
lâm sàng.
Thúc đẩy việc phát triển các chiến
lợc sử dụng những vắc xin mới sản
xuất gần đây một cách hiệu quả
nhất.
Khuyến cáo các nhà chức trách y
tế cấp quốc gia tiến hành những
sau khi tổ chức hội đàm ở cấp quốc
tế.
Đa ra định nghĩa ca bệnh để sử
dụng trong việc giám sát phân tuýp
vi rút mới.
Tạo thuận lợi cho việc phân phối vi
rút vắc xin dự tuyển đến các nhà
sản xuất vắc xin có quan tâm, nh
một phần hoạt động ở mức báo
động cấp 2.
Mời các chuyên gia về thành phần
vắc xin cúm họp bàn để phát triển,
phổ biến và khuyến khích phối hợp
thử nghiệm lâm sàng vắc xin phòng
chống chủng vi rút mới.
Mời các chuyên gia về thành phần
vắc xin cúm họp bàn để phát triển
các biện pháp giúp đa vắc xin đến
mọi nơi trên thế giới.
Đẩy mạnh công tác phổ biến thông
tin để kịp thời cung cấp báo cáo về
tình hình điều tra nghiên cứu loại vi
rút mới, mức độ lây lan của nó,
cũng nh về những đáp ứng với nó.
Trao đổi với các nhà sản xuất vắc
xin và chính phủ các nớc về năng
lực và kế hoạch sản xuất vắc xin
phòng chống vi rút mới, cũng nh
về việc phân bổ vắc xin trên quy mô
quốc tế.
phận dân c.
Ra thông báo về sự khởi phát Giai
đoạn 1 của đại dịch cúm với sự trợ
giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi
tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế.
Khuyến cáo về thành phần và cách
sử dụng vắc xin (liều lợng và lịch
tiêm chủng), và tổ chức các cuộc
hội đàm nhằm tạo thuận lợi cho
việc sản xuất và phân phối vắc xin
một cách công bằng nhất.
Hớng dẫn về cách sử dụng tốt
nhất những loại thuốc kháng vi rút
sẵn có để điều trị vi rút mới.
Khởi xớng càng nhanh càng tốt
các biện pháp đáp ứng của quốc gia
theo kế hoạch phòng chống đại dịch
đợc đa ra từ trớc, đợc cập nhật
theo những đặc điểm cụ thể của
phân tuýp mới và tính sẵn có của
vắc xin.
Đẩy mạnh công tác theo dõi giám
sát và báo cáo tình hình lây lan
cũng nh tác động của vi rút trên
phạm vi toàn cầu.
Tìm cách hỗ trợ các nớc có năng
lực hạn chế huy động nguồn lực
thông qua quan hệ hợp tác với
những tổ chức và cơ quan cứu trợ
quốc tế.
21
lây lan cũng nh tác động của vi rút
trên phạm vi toàn cầu.
Tiếp tục tổ chức việc phân phối vắc
xin một cách công bằng nhất.
Cập nhật hớng dẫn về cách sử
dụng tốt nhất những loại thuốc
kháng vi rút sẵn có để điều trị vi rút
mới.
Tìm cách tiếp tục hỗ trợ các nớc
có năng lực hạn chế huy động
nguồn lực.
Giai đoạn 3
Kết thúc làn
sóng đầu tiên
của đại dịch
Hiện tợng lan
rộng của dịch ở
những nớc hay
khu vực bị ảnh
hởng đầu tiên đã
ngừng lại, hay dịch
đã bị đẩy lùi,
nhng các vụ dịch
hay đợt dịch do vi
rút mới gây ra vẫn
tồn tại ở một nơi
nào khác.
nhiều nớc, trong
vòng 3 đến 9 tháng
sau đợt dịch đầu
tiên, có thể xảy ra
thêm ít nhất một
làn sóng các vụ
dịch do vi rút mới
gây ra.
Ra thông báo về sự khởi phát Giai
đoạn 4 của đại dịch cúm với sự trợ
giúp của đội đặc nhiệm, và sau khi
tổ chức hội đàm ở cấp quốc tế.
Tiếp tục thực hiện công tác theo
dõi giám sát và báo cáo tình hình
lây lan cũng nh tác động của vi rút
trên phạm vi toàn cầu.
Đánh giá nhu cầu còn lại đối với
22
vắc xin.
Đánh giá tính sẵn có của các loại
thuốc kháng vi rút.
Tìm cách tiếp tục hỗ trợ các nớc
có năng lực hạn chế huy động
nguồn lực.
Giai đoạn 5
Kết thúc đại
dịch (trở lại
Giai đoạn 0)
Thành phần và chức năng của UBQG không mang tính cứng nhắc, mà có thể
thay đổi theo cơ cấu chính trị và thể chế của từng nớc. Dới đây là danh sách
các loại tổ chức và chuyên gia có thể đa vào UBQG hay t vấn cho UBQG.
Để UBQG có quy mô dễ quản lý, có thể chọn ra một nhóm hạt nhân làm
Uỷ viên thờng trực, những tổ chức/cá nhân khác tham gia khi cần đến tài
chuyên môn hay sự đóng góp của họ, hay đóng góp ý kiến mà không cần dự
họp.
Các nhà chức trách y tế công cộng ở cấp độ quốc gia và khu vực, bao gồm
các khối y tế dự phòng, điều trị và chẩn đoán, cơ quan quản lý dợc, và
(các) Trung tâm cúm quốc gia
Đại diện các đoàn thể của các bác sỹ (nh Hội thầy thuốc đa khoa, Hội bác
sỹ hô hấp, v.v...), điều dỡng, dợc sỹ
Các nhà vi rút học và dịch tễ học quan trọng của quốc gia; đại diện các
viện khoa học và trờng đại học
Các nhà chức trách về công tác thú y và các chuyên gia về vi rút cúm ở
động vật
Đại diện các tổ chức công cộng hay cá nhân làm công tác theo dõi các chỉ
số y tế, việc sử dụng cơ sở y tế và thuốc men
Đại diện các nhà sản xuất hay nhà phân phối thuốc
Đại diện các cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội
24
Đại diện quân đội hay các tổ chức hoặc nhóm có trách nhiệm đối phó với
tình trạng khẩn cấp của chính quyền
Đại diện các tổ chức phi chính phủ và tình nguyện, ví dụ Hội Chữ thập đỏ
và Trăng lỡi liềm đỏ quốc gia
Đại diện ngành bu chính - viễn thông và các chuyên gia có quan hệ với
báo giới
Các chuyên gia bệnh nghề nghiệp, chuyên gia tâm lý, chuyên gia y đức, các
chức sắc của những tôn giáo chính cũng có thể đóng góp cho quá trình lập kế
25