Luận văn tốt nghiệp 1 Khoa Kế toán - Kiểm toán
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Tính cấp thiết.
Dệt may vốn là một ngành kinh tế lớn của Việt Nam, một ngành có vị trí
quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước. Với mục tiêu chung của chiến
lược phát triển ngành dệt may đến năm 2020 là đưa ngành dệt may trở thành một
trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, thoả mãn
ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiều việc làm cho xã hội, nâng
cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy
để nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu hội
nhập đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thật
sự hiệu quả. Điều đó có thể thực hiện được phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của
việc hạch toán kinh tế hay cụ thể là việc hạch toán chi phí sản xuất.
Trong thời gian gần đây, chế độ kế toán có nhiều thay đổi đó là việc áp dụng
chế độ kế toán mới do Bộ tài Chính ban hành trong cả nước. Kế toán chi phí sản
xuất cũng phải thay đổi cho phù hợp với chế độ kế toán mới. Trước tình hình
mới đòi hỏi doanh nghiệp cũng phải thay đổi cách hạch toán chi phí sản xuất để
thích ứng, phù hợp với những qui định mới. Nhưng hiện nay nhiều doanh nghiệp
hạch toán chi phí sản xuất còn chưa chính xác, từ việc xác định đối tương tập
hợp chi phí không phù hợp, phương pháp phân bổ chi phí sản xuất mà cụ thể hơn
là việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chưa phù hợp… đến việc vận
dụng sổ sách kế toán tập hợp chi phí sản xuất không đồng bộ. Do đó dẫn đến
việc số liệu kế toán cung cấp chưa chính xác
Hơn nữa qua quá trình khảo sát, điều tra thực tế ngành dệt may nói chung và
tại công ty cổ phần Sơn Chinh nói riêng thấy vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 2 Khoa Kế toán - Kiểm toán
Việc nghiên cứu lý luận cơ bản về chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
là vấn đề nền tảng để nghiên cứu thực tế chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp
sản xuất. Bởi vì, khi nắm vững được vấn đề lý luận về chi phí sản xuất thì ta dễ
dàng nghiên cứu thực tế chi phí sản xuất tai các doanh nghiệp hơn, thông qua lí
luận về chi phí sản xuất ta biết được việc hạch toán chi phí sản xuất trong thực tế
thực hiện tính đúng, tính đủ hay chưa, có hợp lý với các quy định trong chế độ
hiện hành, có đáp ứng được các vấn đề cần giải quyết của doanh nghiệp. Vì vậy
chỉ khi nắm vững lý luận mới có thể nghiên cứu thực tế một cách chính xác nhất.
Sau khi đã nắm được những lý luận cơ bản về chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp thì ta tiến hành kháo sát thực tế.Do đó:
Muc tiêu thực tiễn là: Nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất gia công
tại công ty cổ phấn Sơn Chinh, Phát hiện những ưu điểm, nhược điểm trong công
tác kế toán chi phí sản xuất gia công. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khắc
phục những tồn tại trong công tác kế toán nhằm giúp cho kế toán của công ty trở
thành công cụ quản lý đắc lực.
Khảo sát thực trạng kế toán chi phí sản xuất tại công ty là việc đi tìm hiểu
thực tế công tác tổ chức kế toán chi phí sản xuất tại công ty. Thực tế thì khác rất
nhiều so với lý luận nhưng cái cơ bản vẫn dựa trên cơ sở nền tảng lý luận. Khi
xem xét mục tiêu này ta phải gắn nó với lý luận đã nghiên cứu. Trong thực tế thì
các loại chi phí phát sinh rất là đa dạng và phong phú vì vậy ta phải xem xét
nghiên cứu cách hạch toán chi phí sản xuất tại công ty, và không chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu xem xét ở một công đoạn nào của thực tế kế toán chi phí sản
xuất tại công ty mà phải xem xét toàn bộ quá trình để có cái nhìn tổng quan nhất
về kế toán chi phí sản xuất tại công ty. Qua đó, phát hiện ra được những mặt đã
thực hiện được và những mặt còn hạn chế. Đối với những mặt đã thực hiện được
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 4 Khoa Kế toán - Kiểm toán
thì phải phát huy và thực hiện tốt hơn nữa, đối với những mặt còn tồn tại, còn
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm và lý thuyết về kế toán CPSX trong DNSX.
* Một số khái niệm, định nghĩa.
Hiện nay có rất nhiều khái niêm, định nghĩa khác nhau về chi phí.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam_ Chuẩn mực số 01 thì “Chi phí là tổng
giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các
khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn
đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông
hoặc chủ sở hữu”.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường do mọi yếu tố của quá trình sản
xuất kinh doanh đều được biểu hiện thông qua chỉ tiêu giá trị nên có thể hiểu
“Chi phí của DN là biểu hiện bằng tiền của các phí tổn về vật chất, về lao động
và tiền vốn liên quan, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của DN trong một thời kỳ nhất định” _Giáo Trình Tài Chính Doanh
Nghiệp Thương Mại. Tác giả PGS. TS. ĐINH VĂN SƠN, Nhà xuất bản thống
kê_2005.
Quá trình sản xuất sản phẩm ở các DNSX công nghiệp chính là quá trình
doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí sản xuất. Đó là các chi phí về đối tương lao
động, tư liệu lao động và lao động. Như vậy “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng
tiền của các hao về phí lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết
khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một
thời kỳ nhất định”. _ Giáo Trình Kế toán Sản Xuất. Tác giả TS. Đặng Thị Hoà,
Nhà xuất bản thống kê _ 2003
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 6 Khoa Kế toán - Kiểm toán
2.2 Một số lý thuyết về kế toán chi phí sản xuất trong DNSX
Các doanh nghiệp trong các hoạt động đều phải tuân theo các văn bản pháp quy
của nhà nước và các quy định liên quan đến kế toán CPSX trong các doanh
nghiệp sản xuất nói chung là các chuẩn mực kế toán. Cụ thể kế toán CPSX tuân
hiện tại.
Chi phí liên quan đến giá gốc hàng tồn kho trong DNSX cần xem xét:
Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường
không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí
bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí quản lý hành chính ở các phân
xưởng sản xuất.
Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay
đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chí phí
nguyên liệu, vật liệu gián tiếp,chi phí nhân công gián tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị
sản phẩm dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Công suất bình
thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản
xuất bình thường.
* Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường
thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo
chi phí thực tế phát sinh.
* Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường
thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 8 Khoa Kế toán - Kiểm toán
đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí sản xuất chung
không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kì.
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
Một trong những yếu tố để tiến hành hoạt động sản xuất là tư liệu lao
động và TSCĐ là những tư liệu lao động có trong các doanh nghiệp sản xuất, do
đó phản ánh chi phí về TSCĐ phải tuân theo chuẩn mực kế toán số 03 - Tài
sản cố định hữu hình.
đã lần lượt đưa ra các giải pháp như hạch toán chi phí NVL trực tiếp phải tính
đến khoản thu hồi phế liệu để hạch toán đúng chi phí NVL trực tiếp, về chi phí
dịch vụ mua ngoài và CPSXC phải lựa chon tiêu thức phân bổ phù hợp.
Bên cạnh đó việc giải quyết vấn đề về CPSXC, hay tiêu thức để phân bổ chi
phí nhân công trực tiếp, CPSXC…thì còn phụ thuộc rất nhiều vào cách tổ chức
sản xuất, cũng như cách hạch toán CPSX của công ty. Vì vậy chỉ mang tính chất
tương đối
2.4 Nội dung kế toán sản xuất trong DNSX
2.4.1 Đặc điểm kế toán CPSX
2.4.1.1 Phân loại CPSX.
* Phân loại CPSX theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí gồm:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên liệu, vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuất.
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 10 Khoa Kế toán - Kiểm toán
- Chi phí nhân công: Gồm toàn bộ số tiền công phải trả cho công nhân sản xuất,
tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sản xuất.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số trích khấu hao của những tài
sản cố định dùng cho sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như tiền điện ,nước…
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí khác dùng cho hoạt động sản
xuất ngoài 4 yếu tố chi phí trên.
* Phân loại CPSX theo mục đích, công dụng của chi phí gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ các chi phí nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, vật liệu khác…được sử dụng trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là các chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất sản phẩm như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản BHXH, BHYT,
Để tập hợp CPSX chính xác chúng ta có thể sử dụng một trong hai phương pháp:
- Phương pháp trực tiếp: là phương pháp áp dụng khi CPSX có quan hệ trực tiếp
với từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt. Phương pháp này đòi hỏi phải tổ
chức việc ghi chép ban đầu theo đúng đối tượng, trên cơ sở đó kế toán tập hợp số
liệu theo từng đối tượng liên quan và ghi trực tiếp vào sổ kế toán theo đúng đối
tượng.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: Là phương pháp áp dụng khi CPSX có liên
quan với nhiều đối tượng tập hợp CPSX mà không thể tổ chức việc ghi chép ban
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 12 Khoa Kế toán - Kiểm toán
đầu riêng rẽ theo từng đối tượng được. Theo phương pháp này doanh nghiệp
phải tổ chức ghi chép ban đầu cho các CPSX theo địa điểm phát sinh chi phí để
kế toán tập hợp chi phí. Sau đó phải chon tiêu chuẩn phân bổ để tính toán, phân
bổ CPSX đã tập hợp cho các đối tượng có liên quan một cách hợp lý nhất và đơn
giản thủ tục tính toán phân bổ:
* Quá trình phân bổ gồm 2 bước:
- Xác định hệ số phân bổ (H).
∑
=
=
n
i
Ti
C
H
1
trách bộ phận ký vào bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan như giấy
chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH… Về bộ phận kế toán để tính lương và
BHXH.
- Bảng thanh toán tiền lương (02-LĐTL)- Cuối tháng căn cứ vào chứng từ liên
quan, kế toán tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương, chuyển cho kế toán
trưởng soát xét xong trình cho giám đốc duyệt, chuyển cho kế toán chi và phát
lương. Bảng này được lưu tại phòng kế toán.
- Bảng phân bổ tiền lương và BHXH (11-LĐTL)
- Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ (06-TSCĐ)- Phản ánh số khấu hao
TSCĐ phải trích và phân bổ số khấu hao đó cho các đối tượng sử dụng TSCĐ
hàng tháng
- Phiếu thu (01-TT), Phiếu chi (02-TT), Báo nợ, báo có
- Hoá đơn GTGT (01GTKL-3LL).
2.4.2.2 Tài khoản sử dụng.
* TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng để phản ánh những chi phí
nguyên liệu, vật liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch
vụ trong kỳ sản xuất kinh doanh
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621 là Bên nợ: Phản ánh trị giá thực tế
NVL xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch
vụ trong kỳ hạch toán. Bên có: Phản ánh việc kết chuyển trị giá NVL thực tế sử
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 14 Khoa Kế toán - Kiểm toán
dụng cho sản xuất, kinh doanh trong kỳ vào TK 154 “ Chi phí sản xuất, kinh
doanh dở dang” hoặc TK 631 “ Giá thành sản xuất” và chi tiết cho các đối tượng
để tính giá thành sản phẩm dịch vụ. Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp trên mức
bình thường vào TK 632. Trị giá NVL trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại
kho.
TK 621 không có số dư cuối kỳ.
* TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 154 là Bên nợ: phản ánh chi phí NVL trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, CPXSC kết chuyển cuối kỳ. Bên có: Phản ánh
trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được. Giá thành
thực tế của sản phẩm đã chế tạo xong chuyển bán hoặc nhập kho
Số dư bên nợ: Phản ánh chi phí sản xuất, kinh doanh còn dở dang cuối kỳ.
* TK 631- Giá thành sản xuất
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK631 là Bên nợ: Phản ánh giá trị của sản
phẩm dở dang đầu kỳ. Chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ. Bên có: Phản
ánh giá trị của sản phẩm dở dang cuối kỳ kết chuyển vào TK 154. Giá thành sản
phẩm hoàn thành kết chuyển vào TK 632
TK 631 không có số dư cuối kỳ.
2.4.2.3 Trình tự hạch toán.
Trong doanh nghiệp hạch toán HTK theo một trong hai phương pháp sau:
* Doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp KKTX.(Khái quát sơ đ ồ
2.1)
Khi xuất kho NVL sử dụng trực tiếp cho sản xuất căn cứ vào phiếu xuất kho
ghi Nợ TK621, đồng thời ghi Có TK152. Đối với NVL mua ngoài đưa thẳng vào
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 16 Khoa Kế toán - Kiểm toán
bộ phận sản xuất căn cứ vào HĐBH, HĐGTGT kế toán ghi Nợ TK 621, Nợ TK
133, đồng thời ghi Có TK 111,112... Nếu NVL sử dụng không hết nhập lại kho
hoặc giá trị phế liệu thu hồi căn cứ vào Phiếu nhập kho kế toán ghi NợTK152,
NợTK111, đồng thời ghi Có T621.Cuối kỳ kết chuyển chi phí NVL lãng phí,
vượt định mức kế toán ghi Nợ TK632 đồng thời ghi có TK621. Cuối kỳ kết
chuyển chi phí NVLTT thực tế dùng vào sản xuất cho từng đối tượng sử dụng kế
toán ghi Nợ TK154 đồng thời ghi Có TK621
Hàng tháng,Căn cứ vào Bảng phân bổ tiền lương và BHXH ghi nhận tiền
Cuối kỳ phân bổ CPSXC biến đổi và CPSXC cố định theo mức công suất bình
thường kế toán ghi Nợ TK154, đồng thời ghi Có Tk627.Phần chi phí sản xuất
chung không được tính vào giá thành kế toán ghi Nợ TK632, đồng thời ghi Có
TK627.
* Doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp KKĐK.(Khái quát sơ đồ
2.2)
Đầu kỳ kết chuyển trị giá hàng tồn kho ghi Nợ TK621,có TK152, Kết chuyển chi
phí SXKD dở dang ghi Nợ TK631, đồng thời ghi có TK154
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ:Khi mua hàng Căn Cứ HĐ, chứng từ
mua hàng kế toán ghi Nợ TK611, đồng thời ghi có TK111,112…, TK 331; Khi
ghi nhận tiền lương và các khoản trích theo lương Căn cứ Bảng phân bổ tiền
lương và bảo hiểm xã hội ghi Nợ TK622,627, Có Tk334 (TK335,338…); trích
khấu hao máy móc thiết bị do phân xưởng sản xuất quản lý và sử dụng căn Cứ
Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ ghi Nợ TK627, Có Tk214;..
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 18 Khoa Kế toán - Kiểm toán
Cuối kỳ căn cứ Biên bản kiểm kê vật tư khi xác định NVL xuất trong kỳ ghi Nợ
TK621, Ghi nhận NVL dùng chung cho toàn phân xưởng căn cứ Bảng phân bổ
nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ ghi NơTK627 đồng thời ghi có TK611.
Tổng hợp chi phí sản xuất ghi Nơ TK621,622,627 đồng thời ghi Có TK631…
kết chuyển trị giá NVL tồn cuối kỳ ghi Nợ Tk152, Có TK611..
2.4.2.4. Sổ kế toán.
Căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý,
trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang bị kỹ thuật tính toán.
Doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các hình thức kế toán sau:
* Hình thức nhật ký chung.
Đặc trưng cơ bản của hình thức này: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính
phát sinh đều phải được ghi vào sổ nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung,
theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm kế toán
được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp
các hình thức kế toán quy định trên đây. Phần mềm kế toán không hiển thị đầy
đủ quy trình ghi sổ nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính
Các trình tự ghi sổ khái quát theo sơ đồ (Phụ lục 2.3)
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 20 Khoa Kế toán - Kiểm toán
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG KẾ
TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT GIA CÔNG MẶT HÀNG ÁO SƠ MI TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN CHINH.
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu.
3.1.1 Phương pháp điều tra.
Sử dụng phương pháp này vì đây là phương pháp cho phép thu thập những
thông tin cần thiết trực tiếp từ người nhận phiếu điều tra. Mẫu phiếu điều tra
được thiết kế (như phụ lục số 3) nên rất tiết kiệm thời gian cho người cung cấp
thông tin.
Những phiếu điều tra đó được gửi đến cho các bộ phận cần thu thập thông tin
như phòng kế toán, phòng kế hoạch, phòng kinh doanh….Phát đi 5 phiếu cho
năm người trong các phòng kể trên để tìm hiểu thông tin về công ty.
Phương pháp này cung cấp thông tin một cách chính xác vì đó là những
thông tin được lấy trực tiếp từ những người trong công ty mà không phải qua bất
kỳ trung gian nào.
3.1.2 Sử dụng phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu.
Sử dụng phương pháp này vì đây là phương pháp cho phép thu thập những
thông tin sâu hơn, rộng hơn từ nhiều mặt, nhiều khía cạnh.Nghiên cứu tài liệu lý
luận như chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp, giáo trình kế toán chi
phí sản xuất, các bài giảng về kế toán chi phí sản xuất của các thầy cô Trường
Đại học Thương Mại và một số tạp chí như tạp chí kế toán, tạp chí thương mại…
Fax: 04 38615636.
Email: [email protected].
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 22 Khoa Kế toán - Kiểm toán
Website: www.vnetmart.
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Số 0103024860.
Ngành nghề kinh doanh theo giấy phép đăng ký kinh doanh:
- Sản suất hàng may mặc xuất khẩu.
- Sản xuất bao bì, giấy carton.
Tiền thân của Công ty cổ phần Sơn Chinh là công ty trách nhiệm hữu hạn Sơn
Chinh, thành lập ngày 24/04/1996, theo giấy phép số 2393/GP-UB do UBND
thành phố Hà Nội cấp. Công ty mở tài khoản tại ngân hàng Techcombank. Xuất
phát từ một xưởng sản xuất chỉ có 30 máy với 50 công nhân và công việc chủ
yếu là làm hàng gia công. Do việc mở rộng sản xuất không ngừng, tháng 3 năm
2006 công ty mở thêm nhà máy may 2 tại Số 2 - Trần Hưng Đạo - Hàm Rồng -
Thanh Hoá với 5 chuyền may và 200 lao động. Năm 1997 đánh dấu bước ngoặt
quan trọng trong quá trình phát triển của công ty. Đó là việc công ty đấu thầu
thành công lô đất nhà xưởng của xí nghiệp dâu tơ tằm TW. Trước yêu cầu mới
công ty đã đầu tư thêm 200 máy may đồng thời thành lập thêm xưởng bao bì
carton nhằm phục vụ việc xuất khẩu hàng hoá của công ty và cung cấp cho các
doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu khác. Sản xuất ngày càng mở rộng số máy
may của công ty đã lên tới 1003 máy, đồng thời công ty đã mở thêm nhà máy
may nữa ở Điểm công nghiệp Đan Phượng - Cầu giáo - Đan Phượng - Hà Nội.
Với những kết quả đó ngày 27/05/2008 công ty trách nhiêm hữu hạn Sơn Chinh
đã chuyển thành công ty cổ phần Sơn Chinh do Phòng đăng ký kinh doanh của
Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp theo số: 0103024860 với số vốn
điều lệ là 35 tỷ đồng.Công ty cổ phần Sơn Chinh có tư cách pháp nhân, hạch
toán kinh tế độc lập, tự chủ về mặt tài chính.
Luận văn tốt nghiệp 24 Khoa Kế toán - Kiểm toán
Phòng kinh doanh có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường đầu vào, đầu ra, giá cả,
sản phẩm.. để xây dựng những chiến lược kinh doanh phù hợp đồng thời đảm
bảo việc thực hiện kế hoạch sản xuất.
Phòng kĩ thuật chịu trách nhiệm thiết kế sản phẩm sao cho đúng với yêu cầu
của hợp đồng. Trên cơ sở nguồn lực mà phòng kế hoạch đã cân đối, xây dựng
các thông số kỹ thuât, định mức nguyên vật liệu…phục vụ sản xuất và quản lý.
Phòng quản lý chất lượng chịu trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện qui trình
công nghệ, kiểm tra chất lượng của nguyên vật liệu đầu vào cũng như sản phẩm
đầu ra
Các phân xưởng sản xuất có nhiệm vụ thực hiện sản xuất theo lệnh sản xuất
của phòng kế hoạch.
Bộ máy quản lý của công ty cổ phần Sơn Chinh có thể khái quát bằng sơ đồ
(phụ lục 3.2)
c. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty.
Công ty tiến hành nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng sản xuất kinh
doanh thuộc lĩnh vực may mặc là chủ yếu. Trong đó có phương thức nhận gia
công, công ty nhận nguyên vật liệu của khách hàng gia công thành sản phẩm
hoàn chỉnh rồi giao lại cho khách hàng. Do đó bộ phận sản xuất chính của công
ty là các phân xưởng may, Trong các phân xưởng may được tổ chức thành các tổ
: tổ cắt, tổ may, tổ hoàn thiện, tổ là, tổ đóng gói trực tiếp sản xuất và hoàn chỉnh
sản phẩm.
Bên cạnh đó công ty còn có những bộ phận sản xuất phụ phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh chính cũng như phục vụ cho việc xuất khẩu hàng hoá và
cung cấp cho các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu khác như phân xưởng bao bì,
SV: Nguyễn Thị Thuỷ Lớp K41D4
Luận văn tốt nghiệp 25 Khoa Kế toán - Kiểm toán