Kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép hoặc lừa dối – căn cứ xác định và đường lối xử lý - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình – tế bào của xã hội. Hôn nhân là
liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, liên kết đó phải được
Nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý, đó là đăng kí
kết hôn. Như vậy, đăng kí kết hôn làm xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở
để hình thành gia đình. Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào
của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Vì
vậy, Nhà nước luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện
pháp nhằm ổn định quan hệ này. Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ
chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn.
Trong thực tế hiện nay, có rất nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật như
thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên hoặc hai bên nam nữ khi kết hôn.
Nhằm góp phần làm rõ hơn và đem lại những hiểu biết sâu sắc hơn về trường
hợp kết hôn do bị cưỡng ép, lừa dối, chúng em xin lựa chọn đề tài: “Kết hôn
trái pháp luật do bị cưỡng ép hoặc lừa dối – căn cứ xác định và đường lối
xử lý”. Bài làm của chúng em gồm hai phần lớn:
Phần I Căn cứ xác định kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép hoặc lừa
dối.
Phần II Đường lối xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật do bị
cưỡng ép hoặc lừa dối.
Rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô và các bạn để giúp chúng
em hoàn thiện đề tài tốt hơn. Chúng em xin cảm ơn!
1
BÀI LÀM
I. Căn cứ xác định kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép hoặc lừa
dối.
Hôn nhân trong thời đại ngày nay được hình thành dựa trên tình cảm
lứa đôi, hai bên nam nữ yêu thương lẫn nhau và muốn gắn kết bên nhau trọn
đời mà tiến đến hôn nhân. Tự nguyện hoàn toàn trong kết hôn là việc một
nam một nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí mong muốn trở
thành vợ chồng của nhau. Kết hôn trước hết là một quyền chứ không phải một

phải kết hôn với mình hoặc một trong hai bên nam, nữ hay cả hai bị người
khác ép phải kết hôn với nhau. Theo hướng dẫn của Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/10/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì
hành vi cưỡng ép kết hôn được xác định như sau:
ﻫ Một bên dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp về mặt tinh
thần, dùng vật chất, sử dụng thủ đoạn… để ép buộc bên kia đồng ý kết hôn.
Hành vi dùng vũ lực có thể hiểu là hành hạ, đối xử tàn tệ, gây đau đớn
về thể xác cho một người hoặc thân nhân của họ khiến họ phải chấp nhận kết
hôn; việc bắt cóc một người rồi ép họ kết hôn với mình cũng được tính vào
trường hợp này. Một người đe dọa dùng vũ lực hay uy hiếp về tinh thần là có
hành vi ép buộc đối phương phải kết hôn với mình nếu không sẽ gây tổn hại
lớn về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự… cho người đó, cho thân
nhân của họ hoặc thậm chí có trường hợp dọa sẽ tự tử để ép kết hôn. Dùng vật
chất để cưỡng ép ví dụ như cho vay với lãi suất cao rồi tìm mọi cách để bắt họ
kết hôn để trừ nợ; lừa đảo chiếm đoạt tài sản rồi dùng nó để làm điều kiện
trao đổi hôn nhân… Sử dụng thủ đoạn như dùng mọi cách để khiến đối
3
phương khiến mình mang thai rồi lấy đó như cái “cớ” để ép người đó phải
“chịu trách nhiệm”…
ﻫ Một bên hoặc cả hai bên nam nữ bị người khác cưỡng ép, buộc người
bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng của họ.
Cha mẹ buộc con phải kết hôn để trừ nợ - đây là trường hợp khá phổ
biến ở đồng bào các dân tộc thiểu số, các gia đình nghèo (mặc dù hiện nay
giảm đáng kể). Đây không chỉ là đơn thuần là việc ép buộc trong hôn nhân
mà còn là hành vi đáng lên án vì con người bị đem ra trao đổi như một món
hàng, bị tước đoạt đi mọi quyền tự do dân chủ. Nạn nhân của những cuộc gả
bán như thế này thường là phụ nữ và không ít người trong số họ đã tìm đến
cái chết vì không thể tự giải thoát khỏi cuộc hôn nhân không hạnh phúc.
Cha mẹ hai bên đã từng có hứa hẹn nên ép con cái của họ kết hôn với
nhau. Việc đính ước từ trước này thường là giữa hai gia đình có mối giao hảo

che dấu…
Hành vi lừa dối khác với sự nhầm lẫn nên cần phân biệt rõ hai trường
hợp này. Khác với luật của nhiều nước trên thế giới, luật Việt Nam hiện hành
không coi sự nhầm lẫn như là một trong những lí do để yêu cầu tuyên bố hôn
nhân vô hiệu. Nếu một người chỉ nhầm lẫn về một số yếu tố về người kia như:
nhầm lẫn về nghề nghiệp, về địa vị công tác, về hoàn cảnh gia đình, v.v.., thì
không coi là thiếu tự nguyện khi kết hôn. Ví dụ như một người vì lầm tưởng
đối tượng của mình là một người giàu có hay có địa vị cao trong xã hội mà
quyết định đi tới hôn nhân nhưng sau khi kết hôn mới phát hiện ra sự thật
hoàn toàn trái ngược với những gì đã tưởng tượng, cho rằng mình bị lừa dối
thì điều này không được pháp luật công nhận. Nếu một người do nhầm lẫn mà
chấp nhận kết hôn, thì người đó có quyền xin ly hôn.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status