MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I – Một số khái niệm:
1. Văn bản pháp luật: (VBPL)
2. Văn bản pháp luật khiếm khuyết
3. Xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết:
II - Những biểu hiện của văn bản pháp luật khiếm khuyết:
1. Các VBPL không đáp ứng được yêu cầu về chính trị:
2. Các VBPL không đáp ứng yêu cầu về pháp lí:
3. Các VBPL không đáp ứng được yêu cầu về khoa học:
III – Các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết:
1. Biện pháp hủy bỏ:
2. Biện pháp bãi bỏ:
3. Biện pháp thay thế:
4. Biện pháp đình chỉ thi hành:
5. Biện pháp tạm đình chỉ thi hành:
6. Biện pháp sửa đổi, bổ sung
KẾT LUẬN
MỞ ĐẦU
Văn bản pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý Nhà
nước và xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu quản lí xã hội bằng pháp luật
ngày càng cao thì việc phải xử lý những văn bản pháp luật khiếm khuyết ngày càng
trở nên quan trọng và mang tính cấp thiết hiện nay. Do đó, em chọn đề “Phân tích và
bình luận những biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết” làm đề tài cho bài
tập lớn của mình, hy vọng sẽ giúp ích phần nào trong công tác hoàn thiện pháp luật.
NỘI DUNG
I – Một số khái niệm:
1. Văn bản pháp luật: (VBPL)
VBPL là những văn bản được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền do
pháp luật quy định, chứa đựng ý chí của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu quản lí
- Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của cấp dưới trái với nội dung văn
bản quy phạm pháp luật của cấp trên; văn bản hành chính có các quy định mang tính
quy phạm trái với các quy phạm pháp luật hiện hành.
- Các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các văn bản hành chính có nội dung trái
với quy định của văn bản quy phạm pháp luật.
- Các mệnh lệnh trong văn bản hành chính không đúng với những mệnh lệnh
trong văn bản áp dụng pháp luật mà nó tổ chức thực hiện.
c. VBPL có nội dung không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam
tham gia hoặc ký kết: Văn bản quy phạm pháp luật nào chưa phù hợp với các điều
ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết là lí do để cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiến hành xử lí bằng biện pháp sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ và ban hành
mới những văn bản có liên quan đến điều ước quốc tế đó.
d. Văn bản pháp luật có sự vi phạm các quy định về thể thức và thủ tục ban
hành biểu hiện:
- VBPL thiếu những đề mục cần thiết hoặc được trình bày các đề mục không
đúng quy định của pháp luật.
- VBPL có thể có sự vi phạm về thủ tục trong việc ban hành văn bản quy
phạm pháp luật hoặc không thực hiện những thủ tục là cơ sở để xác định tính hợp
pháp cho văn bản áp dụng pháp luật.
3. Các VBPL không đáp ứng được yêu cầu về khoa học:
a. VBPL có nội dung không phù hợp với thực trạng và quy luật vận động của
đời sống xã hội: không có tính khả thi và thực hiện trong thực tế
b. VBPL có sự khiếm khuyết về kĩ thuật pháp lí: vi phạm tính logic, chặt chẽ
về nội dung, đúng quy tắc về ngôn ngữ, phân chia, sắp xếp hợp lí.
III – Các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết:
Dựa vào tính chất, mức độ khiếm khuyết của VBPL cùng quy định tại điều 27
nghị định 40/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 và Điều 9 luật ban hành VBQPPL năm
2008 thì các biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết bao gồm: biện pháp hủy bỏ, biện
pháp bãi bỏ, thay thế, đình chỉ thi hành, tạm đình chỉ thi hành, sửa đổi, bổ sung.
1. Biện pháp hủy bỏ:
với cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính.
2. Biện pháp bãi bỏ:
a) Khái niệm
Bãi bỏ VBPL là hình thức xử lí nhằm chấm dứt hiệu lực pháp lí của một
VBPL đang được thi hành trên thực tế từ thời điểm văn bản đó bị bãi bỏ.
b) Đối tượng áp dụng và trường hợp áp dụng:
Đối tượng áp dụng biện pháp bãi bỏ: là một phần hoặc toàn bộ nội dung văn
bản quy phạm pháp luật có một trong các dấu hiệu khiếm khuyết.
Hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong
trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản làm căn cứ ban hành văn bản được kiểm
tra đã được thay thế bằng văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn
đến nội dung của văn bản không còn phù hợp với pháp luật hiện hành hoặc tình hình
kinh tế - xã hội.( khoản 2 điều 29 Nghị định Chính phủ 40/2010/NĐ-CP)
c) Hậu quả pháp lí của VBPL bị bãi bỏ:
Văn bản pháp luật bị bãi bỏ chỉ mất hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn
bản xử lí nó có hiệu lực pháp luật. Như vậy pháp luật vẫn thừa nhận giá trị pháp lí
của văn bản pháp luật bị bãi bỏ trước khi văn bản xử lí văn bản đó có hiệu lực pháp
lí. Do vậy VBPL bị bãi bỏ không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn
của chủ thể ban hành VBPL khiếm khuyết đó.
d) Nhận xét:
Các quy định của pháp luật về bãi bỏ VBPL khiếm khuyết được quy định
trong nhiều văn bản pháp luật tuy nhiên chưa có văn bản pháp luật nào quy định một
cách đầy đủ và rõ ràng và phân biêt giữa biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ VBPL. Chính
vì tình trạng pháp luật quy định chung chung dẫn tới các cơ quan nhà nước khi xử lí
VBPL tùy nghi lựa chọn một trong hai biện pháp này thậm chí còn sử dụng chưa
nhất quán. Mặc dù tại điều 29 nghị dịnh Chính phủ số 40/2010/NĐ-CP đã có sự tách
riêng giữa biện pháp bãi bỏ và hủy bỏ VBPL nhưng mới chỉ nêu được sự khác nhau
về trường hợp áp dụng. Chính vì vậy pháp luật nên quy định cụ thể và chi tiết hơn về
biện pháp bãi bỏ VBPL để phân biệt với biện pháp hủy bỏ VBPL.
3. Biện pháp thay thế: