Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác than tại mỏ than Núi Hồng tỉnh Thái Nguyên - Pdf 33

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp khác
thì khai thác khoáng sản đang phát triển một cách mạnh mẽ do nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước và trong điều kiện mở cửa của kinh tế thị trường, các
hoạt động này đang được khai thác với quy mô ngày càng lớn. Hoạt động này đã
đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, sự phát triển của khai thác khoáng sản là tăng trưởng kinh tế - xã
hội, tạo ra những thị trường mạnh để thu hút đầu tư từ nước ngoài thì nó cũng đang
tạo ra những mặt tiêu cực gây ảnh hưởng xấu tới con người và hệ sinh thái xung
quanh khu vực khai thác. Các hoạt động khai thác than, quặng, phi quặng và vật liệu
xây dựng, như: tiến hành xây dựng mỏ, khai thác thu hồi khoáng sản, đổ thải, thoát
nước mỏ… đã làm phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng
chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường đất và ngày càng trở nên
vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng.
Thái Nguyên là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú,
đặc biệt là than. Trước cách mạng tháng Tám, các kỹ sư Pháp đã đề xuất phát triển
công nghiệp luyện kim đen trên cơ sở khai thác than Khánh Hòa, Phấn Mễ và sắt
Trại Cau. Hoạt động khai thác than tại nơi đây đã làm thay đổi cảnh quan địa hình,
thu hẹp diện tích đất trồng và đất rừng do diện tích khai trường và bãi thải ngày
càng phát triển, gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước, tích tụ các chất thải
và làm thay đổi tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái.
Mỏ than Núi Hồng nằm trên địa bàn huyện Đại từ, Tỉnh Thái Nguyên. Với
các sản phẩm chính là các loại than phục vụ cho sản xuất công nghiệp, đặc biệt là
công nghiệp nhiệt điện. Hằng năm, mỏ đã cung cấp một khối lượng than lớn, đáp
ứng nhu cầu sử dụng cho các tỉnh khu vực miền Bắc.
Nhìn chung, trong quá trình khai thác, ban quản lý mỏ đã chú trọng đến công
tác phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Các hoạt động phục vụ cho



3

3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan:
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện Đại Từ thực hiện công tác quản lý và bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.
- Ban lãnh đạo Mỏ than Núi Hồng thấy được hiện trạng môi trường từ đó có
những cải tiến về công nghệ, trang thiết bị… trong khai thác, chế biến và xử lý môi
trường, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường được tốt hơn.
- Làm tài liệu nghiên cứu cho các học viên cao học và sinh viên chuyên
ngành quản lý tài nguyên và môi trường.


4

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm về môi trường
- Khái niệm môi trường:
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2014, môi
trường được định nghĩa như sau: ―Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự
nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh
vật‖[14].
- Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trương Việt Nam 2014: ―Ô nhiễm
môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn
kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và

tạo nên sự đa dạng của thành phần và cấu trúc của các loại than [18].
Trong quá trình tạo thành than từ thực vật, dưới tác động của quá trình tự
nhiên, bị biến đổi dần theo hướng tăng hàm lượng cacbon. Cho nên gọi quá trình
tạo thành than là quá trình cacbon hoá. Sự tăng dần hàm lượng cacbon trong vật liệu
thực vật bị biến đổi xảy ra liên tục và tạo ra dãy khoáng sản cháy: than bùn - than
nâu - than đá - antraxit.
* Vỉa than:
Vỉa than là nơi tích tụ của than được giới hạn bằng hai mặt tương đối song
song nhau, một mặt được gọi là trụ, một mặt được gọi là mái (hay còn gọi là vách).
Vỉa than là một thành viên của trầm tích chứa than, ranh giới của vỉa than và đá vây
quanh thường là rõ ràng, chỉ đôi khi mới thấy chuyển tiếp dần qua các loại đá chứa
than như sét than, than chứa sét…[18]
Tuỳ theo sự có mặt hay không của các lớp đá kẹp trong vỉa than mà người ta
chia ra vỉa có cấu trúc phức tạp hay đơn giản. Trong một vỉa than đơn giản hoặc
trong một phân vỉa than có thể bao gồm nhiều lớp than thuộc những loại hình nguồn
gốc khác nhau.
Các bể than có bề dày rất khác nhau, từ vài milimét (mm) tới hàng chục mét
(m) thậm chí có khi tới 200 - 300m. Tuỳ theo bề dày người ta chia ra vỉa mỏng


6

(dưới 1,3m), vỉa dày trung bình (1,3 - 3,5m) và vỉa dày (trên 3,5m). Chiều dài của
vỉa than cũng rất khác nhau, từ vài mét, vài chục mét cho tới hàng trăm kilomet.
* Mỏ than:
Mỏ than là một khu vực của vỏ Trái Đất, ở đó có sự tích tụ tự nhiên của các
trầm tích chứa than và các vỉa than. [18]
Mỏ than thường có diện tích tương đối nhỏ, thay đổi trong phạm vi vài chục
kilomet vuông, ít khi tới vài trăm kilomet vuông. Mỏ có thể là mỏ công nghiệp hay
không công nghiệp, tuỳ theo việc khai thác mỏ có lợi về mặt kinh tế hay không.

- Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của chính phủ về việc quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2014
- Nghị định 15/2012/NĐ-CP ngày 09/03/2012 của Chính Phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản 2010.
- Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính Phủ quy định về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và môi
trường quy định về quản lý chất thải nguy hại.
- Thông tư 16/2012/TT-BTNMT ngày 29/11/2012 của Bộ Tài Nguyên và
Môi Trường quy định về đề án thăm dò khoáng sản, đóng cửa mỏ khoáng sản và
mẫu báo cáo kết quả hoạt động khoáng sản, mẫu văn bản trong hồ sơ cấp phép
hoạt động khoáng sản, hồ sơ phê duyệt trữ lượng khoáng sản, hồ sơ đóng cửa mỏ
khoáng sản.
- Thông tư 20/2009/TT-BCT ngày 07/07/2009 của Bộ Công Thương quy
định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong khai thác mỏ lộ thiên
- Nghị quyết của Bộ chính trị số 41 - NQ/TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ
môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
- Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/06/1998 của Bộ chính trị về tăng cường công
tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
- Quyết định 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/03/2013 của Thủ Tướng Chính Phủ
về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt
động khai thác khoáng sản.


8

- Quyết định số 185/QĐ-UBND ngày 24/01/2007 của UBND tỉnh Thái
Nguyên về việc ban hành ―Đề án bảo vệ môi trường thời kì đẩy mạnh công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2006 -2020 và những năm tiếp theo‖.
- Quyết định số 02/2014/QĐ-UBND ngày 24/01/2014 của UBND tỉnh Thái

một số nước châu Âu và cũng là các quốc gia có nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày
càng gia tăng [21].
Hàng năm có khoảng hơn 4,03 tỷ tấn than được khai thác, con số này đã tăng
38% trong vòng 20 năm qua. Sản lượng khai thác tăng nhanh nhất ở châu Á, trong
khi đó châu Âu khai thác với tốc độ giảm dần. Các nước khai thác than lớn nhất
hiện nay là: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nam Phi. Hầu hết các nước khai thác
than cho nhu cầu tiêu dùng nội địa, chỉ có khoảng 18% than dành cho thị trường
xuất khẩu.
Trong năm 2013, nhu cầu than tiếp tục tăng và vẫn là năng lượng hóa thạch
có tốc độ tăng trưởng cao nhất. Dù tốc độ tăng trưởng nhu cầu than năm 2013 là
2,4% tương đương 188 triệu tấn, tăng nhẹ so với 2012, tốc độ này vẫn thấp hơn mức
tăng trung bình 10 năm qua là 4,6%.
Trung Quốc vẫn là trung tâm của thị trường than thế giới và là động lực chính
của tốc độ tăng trưởng thị trường than thế giới, tiêu thụ hơn 50% lượng than tiêu thụ
toàn thế giới. Ngoài ra, nước này cũng là quốc gia khai thác và nhà nhập khẩu than
lớn nhất thế giới. Năm 2013, Trung Quốc nhập khẩu mức kỷ lục 341 triệu tấn.
Lượng than khai thác được dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ tấn, với
Trung Quốc chiếm khoảng hơn một nửa sản lượng (3,5-4,0 tỷ tấn), các nước không
thuộc khối OECD là 1,6% năm, ngược lại có sự suy giảm trong OECD là 0,9%/năm, với Ấn Độ là 13% sẽ vượt qua Mỹ để chiếm vị trí thứ hai trong năm
2024. Ấn Độ khai thác khoảng 550 triệu tấn than nội địa mỗi năm, nhập khẩu than
cũng tăng nhanh chóng: nhập 50 triệu tấn từ 2007 đến 2008 và 192 triệu tấn trong
2012.
Than tập trung chủ yếu ở Bắc bán cầu, trong đó đến 4/5 thuộc về Trung
Quốc (tập trung ở phía Bắc và Đông Bắc), Hoa Kỳ (chủ yếu ở các bang miền Tây),
Liên Bang Nga (vùng Ekibát và Xibêri), Ucraina (vùng Đônbát), Cộng hòa liên
bang Đức, Ấn Độ, Ôxtrâylia (ở 2 bang Quinslan và Niu Saouyên), Ba Lan,...[22]
Điều này cho thấy, than có ở khắp mọi nơi trên trái đất chứ không tập trung
tại một địa điểm nào nhất định cả.



Trung Quốc

3,650.00

14

Canada

66,.9

2

Hoa Kỳ

922,1

15

Hy Lạp

60,4

3

Ấn Độ

605,8

16


386

19

Việt Nam

6

Nga

354,8

20

Mông Cổ

37

7

Nam Phi

260

21

Romania

34,1


24

United Kingdom

16,8

11

Colombia

89,2

25

Mexico

13,8

12

Ukraine

88,2

26

Bosnia và
Herzegovina

13,9

7823
Nguồn:[24]

Bảng 1.3. Top 10 quốc gia sản xuất than năm 2013

PR Trung Quốc
Hoa Kỳ
Ấn Độ
Indonesia

Sản lƣợng than
(triệu tấn)
3561
904
613
489

Úc

459

Tên nƣớc

Nga
Nam Phi
Đức
Ba Lan

Sản lƣợng than
(triệu tấn)

Tên nƣớc

Sản lƣợng (Triệu tấn)

Indonesia

426

Úc

336

Nga

141

Hoa Kỳ

107

Colombia

74

Nam Phi

72

Canada


Than là một trong những loại nhiên liệu hóa thạch quan trọng nhất trên thế
giới hiện nay. Từ khi cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới nổ ra, than
đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống con người. Tuy nhiên, than
hiện nay đang bị khai thác quá mức vì nhu cầu và lợi nhuận thương mại. Dẫu trữ
lượng lớn nhưng với tốc độ ―đào‖ như hiện nay, nhiều chuyên gia dự đoán lượng
than còn lại sẽ cạn kiệt sau 100 năm nữa.
Hoạt động khai thác than đem lại hiệu quả về mặt kinh tế rất lớn nhưng bên
cạnh đó khai thác than cũng đã và đang gây ra những tác động không nhỏ đến chất
lượng môi trường tại các khu mỏ khai thác và khu vực dân cư vùng mỏ. Nguy hiểm
hơn, than là thứ nhiên liệu hóa thạch thải ra nhiều khí CO2 khi đốt nhất, gây ra ô
nhiễm môi trường và những hệ quả tiêu cực nặng nề khác [22].
Với trữ lượng khoảng 10 nghìn tỷ tấn, gấp nhiều lần so với dầu mỏ hay khí
đốt, lại thêm chi phí bỏ ra để khai thác thấp nên than được sử dụng rất phổ biến


14

trong các ngành công nghiệp.
Đối với không khí, các nhà máy sản xuất sử dụng than chính là nỗi khiếp sợ
kinh hoàng. CO2 thải ra từ những ống khói lớn chính là nguyên nhân làm Trái Đất
nóng lên một cách nhanh chóng. Nguy hiểm hơn, sự ô nhiễm này là hung thủ gây ra
bệnh hô hấp cũng như cái chết cho hàng triệu người trên thế giới.
Mỗi năm ở Trung Quốc, khoảng 1 triệu người tử vong vì ô nhiễm không khí
do khói bụi công nghiệp có liên quan tới sử dụng than đá. Có đến 95% lượng than
của Trung Quốc đều đang sử dụng phương pháp đảo mỏ. Theo tính toán của các
chuyên gia kinh tế, trung bình mỗi tấn than có thể làm giảm đi 1m3 nước ngầm,
trong khi các nguồn nước ngầm rất khó để khôi phục. Một số khu vực mỏ than vốn
thiếu hụt nguồn nước nghiêm trọng như: Nội Mông, Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà
Bắc…Nạn khai thác than trái phép đang diễn ra bên ngoài tầm kiểm soát của nhà
chức trách nước này. Theo số liệu thống kê, hàng năm ngành than Trung Quốc phải

môi trường cảnh quan, địa hình; giảm nhẹ tổn thất tài nguyên sinh học và ít gây ra ô
nhiễm môi trường không khí.
- Nhược điểm: Hiệu quả đầu tư không cao; sản lượng khai thác không lớn;
tổn thất trữ lượng tài nguyên cao (50- 60%); gây tổn hại đến môi trường nước;
hiểm hoạ rủi ro cao; đe doạ tính mạng con người khi xảy ra sự cố như sập lò, cháy
nổ và ngộ độc khí lò.
* Công nghệ khai thác lộ thiên
Công nghệ khai thác lộ thiên gồm những khâu chủ yếu như thiết kế, mở
moong khai thác, khoan nổ mìn, bốc xúc đất đá đổ thải, vận chuyển, làm giàu và
lưu tại kho than thương phẩm.
- Ưu điểm: Đầu tư khai thác có hiệu quả nhanh; sản lượng khai thác lớn;
công nghệ khai thác đơn giản và hiệu suất sử dụng tài nguyên cao (90%).
Nhược điểm: Khai thác lộ thiên có nhược điểm lớn nhất là làm mất diện tích
đất, diện tích dùng cho khai trường lớn; khối lượng đất đá đổ thải lớn; làm mất
50% trữ lượng, gây lún đất, ô nhiễm nước, tiêu hao gỗ chống lò và gây các tai nạn
hầm lò, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí; làm suy giảm trữ lượng
nước dưới đất.
Đối với môi trường, khai thác than làm thay đổi và phá hủy cảnh quan thiên
nhiên nghiêm trọng. Việc xây dựng hầm mỏ lộ thiên hay trong lòng đất là nguyên


16

nhân gây ra xói mòn đất đai và cái chết của lớp thực vật trên bề mặt. Ở những nơi
không có cây cối, sự xói mòn sẽ kéo dài từ 50 - 60 năm sau khi khai mỏ. [22]
Khai thác than ở các mỏ lộ thiên đặc biệt nguy hiểm cho nguồn nước ở
những khu vực lân cận. Quá trình sử dụng nước để rửa than sẽ gây ô nhiễm nguồn
nước nặng nề. Bụi bẩn và trầm tích trong than chảy ra sông, hồ sẽ hại chết các loài
sinh vật dưới nước cũng như đầu độc những người dân sử dụng nước này từ 5 - 25
năm. Ngoài ra, Acid sulfuric hình thành khi khoáng chất chứa sunphit bị oxy hóa

phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Than á bitum ở phần lục địa
trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu -1700m (dưới mực nước biển) có tài
nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn. Nếu tính đến độ sâu -3500m thì dự báo tổng tài
nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn. Than bùn (peat coal) với trữ lượng khoảng 7 tỷ m3,
chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 5 tỷ tấn). [21]
Việc tiến hành khai thác than đảm bảo cho nhu cầu sản xuất điện hiện nay chủ yếu
tập trung ở Bể than Đông Bắc (trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh), ngoài ra có một số
mỏ than ở các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nông Sơn. Sản lượng than nguyên khai
những năm gần đây như sau:
Bảng 1.5. Sản lƣợng khai thác than những năm gần đây tại Việt Nam
Năm

2010

2011

2012

2013

2014

Sản lượng
(triệu tấn)

46,98

48,28

44,33

Kế hoạch này phù hợp với mục tiêu phát triển khai thác than đã được Chính
phủ phê duyệt theo Quy Hoạch Phát Triển Ngành Than (Quy hoạch 60) và kế hoạch


18

sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm 2011-2015 của VINACOMIN nhằm
đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng than trong nước, góp phần bảo đảm an ninh năng
lượng quốc gia. Tuy nhiên trong giai đoạn 2025-2030 cho thấy khả năng khai thác
và chế biến than của VINACOMIN cũng chỉ đáp ứng được 40-50% nhu cầu than
cho sản xuất điệndo đó cho thấy Việt Nam sẽ sớm trở thành quốc gia nhập khẩu
than trong giai đoạn sau 2020.
Thực tế hiện nay toàn bộ sản lượng than khai thác bằng 02 phương pháp: lộ
thiên và hầm lò, bao gồm 24 mỏ lộ thiên và 49 mỏ hầm lò, được phân bố chủ yếu tại
tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc Việt Nam, với tỷ lệ 50/50 và tỷ lệ khai thác than hầm lò
tăng lên từ năm 2014 đến 2020 sẽ chiếm tỷ lệ hơn 70% tổng sản lượng than. [21]
Khai thác lộ thiên đóng vai trò chủ đạo trong việc đáp ứng sản lượng của
ngành than. Các mỏ than lộ thiên ở nước ta cung cấp khoảng 70% sản lượng than
của toàn ngành, chủ yếu ở vùng than Quảng Ninh. Các mỏ lộ thiên lớn là Hà Tu,
Cao Sơn, Cọc Sáu, Núi Hồng, Na Dương,… Tuy nhiên, việc khai thác lộ thiên cũng
làm nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường cần giải quyết. Môi trường vùng than bị
suy thoái và ô nhiễm nặng, đặc biệt là ô nhiễm bụi, tiếng ồn, nước thải mỏ, chất thải
rắn và đất đai bị phá hủy. Kết quả tính toán cho thấy chi phí thiệt hại môi trường do
hoạt động khai thác than gây ra là rất lớn, bằng 5% tổng giá thành than. Trong quá
trình sản xuất than thải ra nhiều chất thải: đất đá (mỗi năm trên 50 triệu m3), nước
thải mỏ (hàng trăm triệu m3/năm), khí thải và các phế liệu, phế thải sản xuất khác,
đồng thời chiếm và phá hủy nhiều diện tích đất (hàng trăm ngàn ha).
Các mỏ hầm lò chủ yếu là lò bằng, mức độ cơ giới hóa thấp, chưa tìm được
công nghệ thích hợp, điều kiện địa chất phức tạp, an toàn vệ sinh môi trường thấp,
vì vậy chưa có mỏ nào đạt công suất thiết kế, nhiều mỏ hầm lò chỉ hoạt động ở 50%

bằng Sông Hồng với sự hợp tác của các nhà đầu tư nước ngoài [21].
1.3.2.2. Khai thác than ảnh hưởng đến môi trường ở Việt Nam
Hiện trạng môi trường tại các mỏ than Việt Nam: Hiện nay, TKV có khoảng
29 mỏ lộ thiên, 14 mỏ hầm lò phần lớn nằm ở khu vực bể than Quảng Ninh. Trong
những năm gần đây, cùng với việc tăng sản lượng khai thác thì nạn ô nhiễm môi
trường tại các khu vực khai thác cũng đang tăng lên ở mức báo động.


20

Môi trường vùng than Việt Nam hiện nay đang bị suy thoái và ô nhiễm
nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm về nồng độ bụi, tiếng ồn và chất thải rắn (đất đá).
Theo kết quả thống kê cho thấy: hàng năm các khu mỏ than khai thác đổ thải từ vài
trăm nghìn đến hàng triệu m3 nước thải (5 triệu m3), hàng trăm triệu m3 đất đá và
rất nhiều loại khí, bụi độc hại khác nhau [1].
Từ năm 2010 đến nay sản lượng ngành than đã không ngừng tăng. Song vấn
đề bức xúc nhất đối với các mỏ khai thác than về góc độ bảo vệ môi trường là đất
đá thải. Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 – 10 m3 đất phủ, thải từ 1 - 3 m3
nước thải mỏ. Chỉ tính riêng năm 2006, các mỏ than của Tập đoàn Công nghiệp
Than và Khoáng sản Việt nam đã thải vào môi trường tới 182,6 triệu m3 đất đá,
khoảng 70 triệu m3 nước thải mỏ.
Tại Quảng Ninh, vấn nạn ô nhiễm môi trường đang ảnh hưởng không nhỏ
đến sức khoẻ người lao động và cuộc sống của người dân trên địa bàn mỏ. Thực
trạng môi trường ở Quảng Ninh đang đến hồi báo động, nhiều cán bộ công nhân
viên và nhân dân trên địa bàn vùng than từ khu vực Đông Triều, Mạo Khê, Uông
Bí, Vàng Danh đến khu vực Hạ Long, Cẩm Phả, Cọc Sáu, Cửa Ông, Mông Dương
nhiều năm nay phải sống trong bụi than. Đặc biệt tuyến đường ―bão táp‖ (Mạo Khê
- Bến Cân, Vàng Danh ra cảng Điền Công, khu vực cảng 6, khu vực cầu 4 phường
Cẩm Sơn và từ Cửa Ông đến Mông Dương…) bụi than đã quá mức báo động. [1]
Đất đá thải loại trong khai thác khoáng sản cũng là nguyên nhân gián tiếp

+ Luận Văn Thạc sĩ Vi Thị Hội: Đánh giá ảnh hưởng hoạt động khai thác
than của xí nghiệp than Na Dương đến môi trường nước sinh hoạt trên địa bàn Thị
Trấn Na Dương, 2012, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
+ Luận văn Thạc sĩ Dương Thị Lan: Nghiên cứu hoạt động khai thác than ở
Tỉnh Thái Nguyên trên quan điểm phát triển bền vững, 2010, Trường Đại Học Sư
Phạm Thái Nguyên.
+ Luận Văn Thạc sĩ Dương Thị Bích Hồng: Nghiên cứu hiện trạng môi
trường và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý mỏ than Khánh
Hòa, Tỉnh Khánh Hòa, 2012, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên.
+ Đề tài tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Thùy Dương: Đánh giá hiện trạng ô
nhiễm môi trường không khí do hoạt động khai thác và vận chuyển than của mỏ
Mạo Khê và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm, 2013, Đại Học Dân Lập Hải


22

Phòng.
+ Luận Văn Thạc sĩ Đặng Xuân Thường: Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước
thải hầm lò tại ổng công ty Than Đông Bắc và nghiên cứu mô hình xử lý thu gom
tuần hoàn phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, 2013, Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên
Có thể nói, việc khai thác than trong những năm qua đã và đang kéo theo
nhiều những tác động xấu cho môi trường, ảnh hưởng không nhỏ đến HST tại khu
vực khai thác và hoạt động sống của người dân quanh vùng. Trong khi đó thì chính
sách đầu tư cho các giải pháp bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm lại chưa tương
xứng với sản lượng khai thác hàng năm.
1.3.3. Hoạt động khai thác than ở tỉnh Thái Nguyên
1.3.3.1. Tổng quan hoạt động khai thác than ở tỉnh Thái Nguyên
Vùng than Đông Bắc là một vùng than lớn nhất nước ta, nó kéo dài từ đảo
Cái Bầu sang Cẩm Phả - Hòn Gai rồi chìm sâu xuống Hà Bắc sau đó lại nổi lên ở

đường sắt Bắc Kỳ.
Hoạt động khai thác mỏ trong thời kỳ (1906 - 1945) đã có tác động lớn đến
đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên. Sự ra đời của các hầm lò đã từng
bước phá vỡ cơ cấu kinh tế truyền thống, là nhân tố cho sự ra đời của đội ngũ công
nhân mỏ Thái Nguyên.
Từ sau năm 1954, Chính phủ quyết định giao cho Công Ty Gang Thép tổ chức
khôi phục lại mỏ Phấn Mễ, Làng Cẩm. Hoạt động khai thác than ở Thái Nguyên được
tiếp tục triển khai để cung cấp than mỡ phục vụ lò cao cho nhà máy Gang Thép.
Ngoài khai thác than ở mỏ than Làng Cẩm - Phấn Mễ, Thái Nguyên còn triển
khai hoạt động khai thác than ở mỏ Khánh Hoà, mỏ Bá Sơn, mỏ than Núi Hồng.
Sản lượng khai thác than ở Thái nguyên ngày càng tăng, năm 2011 đạt sản
lượng 1,223,176 tấn đến năm 2014 đạt 1,461,524 tấn.
Bảng 1.7. Sản lƣợng khai thác than ở Thái Nguyên 2011-2014
Năm

2011

2012

2013

2014

Sản lượng (tấn)

1 223 176

1 275 516

1 385 976

600 - 1000m. Có 4 vỉa than, trong đó có 1 vỉa than có giá trị công nghiệp. Vách vỉa là
sét vôi, trụ là cát kết vôi. Mỏ là 1 phần của dải than Ba Sơn - Quán Triều.
Chất lượng than (%): Wpt (độ ẩm) = 1,83 - 5,59; Ak (độ tro) = 15 - 86;
Vch (chất bốc) = 7,21 - 13,68; C (cacbon) = 81,69 - 89,18; H (hidrro) = 3,49
- 3,66; N (nitơ) = 2,4; P (photpho) = 0,0097 - 0,070; Sch (lưu huỳnh) = 1,51 - 2,75;
Q (nhiệt lượng) = 8022 - 8563Kcal/kg. Trữ lượng mỏ than đã được đánh giá cấp B
+ C1 =46,2 triệu tấn.


25

Hình 1.3: Sơ đồ phân bố khoáng sản tỉnh Thái Nguyên. [16]
Than mỡ: mỏ Phấn Mễ được thăm dò khai thác để luyện than cốc phục vụ
cho nhà máy gang thép Thái Nguyên. Mỏ có 5 vỉa than và nhiều lớp than đơn lẻ, bề
dày nhỏ. Trong 5 vỉa chỉ có vỉa 1 là có giá trị công nghiệp, vỉa than 1 có cấu trúc
phức tạp, chiều dày thay đổi từ 0,05 đến 52,1m.
Phẩm chất than (%): độ tro (Ak) = 13,3; độ ẩm (Wpt) = 1,61; chất bốc
(Vch) = 25,25; lưu huỳnh (Sch) = 2; nhiệt lượng (Qch) = 8676Kcal/kg, trữ
lượng cấp A + B +C đạt 2,24 triệu tấn.
Khả năng khai thác:
Với trữ lượng khoảng trên 90 triệu tấn Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có
trữ lượng than lớn thứ 2 trong cả nước sau Quảng Ninh. Than ở Thái Nguyên phân
bố thành dải ở phía Tây thành phố, tập trung ở 2 huyện Đại Từ và Phú Lương. Khả
năng khai thác ở các mỏ hiện nay là rất lớn, tính đến ngày 31/5/2010 trên địa bàn
tỉnh hiện có 9 mỏ than được phát hiện và cấp phép khai thác.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status