LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách
độc lập. Các số liệu thu thập được là các tài liệu được sự cho phép công
bố của các đơn vị cung cấp số liệu. Các tài liệu tham khảo đều có nguồn
gốc rõ ràng. Các kết quả được nêu trong khóa luận này là hoàn toàn
trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất kì tài liệu nào.
Hà Nội, ngày …tháng … năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Quốc Hiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được sự giúp của các tập thể, cá nhân trong và
ngoài trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi
Trường và các thầy cô giáo trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội trong
những năm qua đã truyền cho tôi những kiến thức quý báu.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS. Cao Trường Sơn,
giáo viên khoa Môi Trường, Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận
tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Công ty Cổ phần
Thực phẩm - Xuất khẩu Trung Sơn – Hưng Yên đã cung câp số liệu, tạo
điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài trong suốt thời gian qua.
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè
và người thân của tôi đã luôn bên cạnh tạo điều kiện và giúp đỡ tôi
trong thời gian tôi học tập, rèn luyện tại trường Đại Học Nông Nghiệp
Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Quốc Hiệp
4.1.Sơ lược về Công ty Cổ phần Thực phẩm – Xuất khẩu Trung Sơn –
Hưng Yên
4.2.Quy trình sản xuất và đặc trưng nguồn thải của Công ty CP Thực
phẩm – Xuất khẩu Trung Sơn – Hưng Yên.
4.2.1.Quy trình sản xuất
4.2.2.Đặc trưng nguồn thải
4.3.Đặc điểm hệ thống xử lý nước thải Công ty CP Thực phẩm – xuất
khẩu Trung Sơn.
4.4. Đánh giá hiệu quả xử lý của hệ thống xử lý nước thải
4.4.1. Hiệu quả về kỹ thuật
4.4.2.Hiệu quả về môi trường
4.4.3.Hiệu quả về kinh tế
4.4.4.Kết luận
4.5.Đề xuất các biên pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nước thải Công
ty CP thực phẩm – xuất khẩu Trung Sơn
4.5.1.Biện pháp kỹ thuật
4.5.2.Biện pháp môi trường
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
5.2. Kiến nghị
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Lưu lượng nước thải của một số ngành công nghiệp
Bảng 2.2. Tính chất nước thải đặc trưng của một số ngành công
nghiệp
Bảng 4.1. Kết quả phân tích nước thải đầu vào hệ thống xử lý nước
thải
Bảng 4.2. Thông số kỹ thuật của hệ thống xử lý nước thải.
Bảng 4.3: Hóa chất tiêu thụ cho hệ thống xử lý nước thải của Công
ty
Hình 4.8: Hiệu quả xử lý nước thải theo từng công đoạn
Hình 4.9:Hiệu quả xử lý COD qua các bể xử lý
Hình 4.10:Hiệu quả xử lý NH
4
+
qua các bể xử lý
Hình 4.111:Hiệu quả xử lý TN qua các bể xử lý
Bảng 4.11: Hiệu quả xử lý của hệ thống xử lý nước thải Công ty CP
TP – XK Trung Sơn
Hình 4.12:Hiệu quả xử lý của hệ thống xử lý nước thải Công ty
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu trên
thế giới, ngành thủy sản hiện tại chiếm 4% GDP, 8% xuất khẩu và 9% lực
lượng lao động (khoảng 3,4 triệu người) của cả nước. Nhóm hàng chủ
đạo trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là cá tra, cá basa, tôm và các
động vật thân mềm như mực, bạch tuộc, nghêu, sò,… Trong vòng 20 năm
qua ngành thủy sản luôn duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng từ 10-20%
(INEST, 2009). Biểu đồ thể hiện kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam từ năm 2008 đến 2012được trình bày trong Hình 1.1.
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013
Hình 1.1 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam (từ năm
2008 – 2012)
Tuy nhiên, ngành Chế biến Thủy sản cũng là một trong những
ngành gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường. Ảnh hưởng của ngành
chế biến thủy sản đến môi trường có sự khác nhau đáng kể, không chỉ
phụ thuộc vào loại hình chế biến, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác như quy mô sản xuất, sản phẩm, nguyên liệu đầu vào, mùa vụ, trình
độ công nghệ sản xuất, trình độ tổ chức quản lý sản xuất… Trong đó, yếu
tố kỹ thuật, công nghệ và tổ chức quản lý sản xuất có ảnh hưởng quyết
và đạt
chuẩn cột A QCVN 11: 2008/BTNMT. Tuy nhiên Công ty cổ phần thực
phẩm – xuất khẩu Trung Sơn là đơn vị sản xuất đơn lẻ nên hệ thống xử lý
nước thải được xây dựng hoàn toàn dựa trên phương tiện kỹ thuật, khả
năng và kinh phí của công ty. Vì vậy, hệ thống xử lý nước thải của công
ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định (Nguồn: Cty CP thực phẩm –
xuất khẩu Trung Sơn).
Để tìm hiểu những hạn chế mà hệ thống xử lý nước thải đang mắc
phải từ đó có những biện pháp phù hợp nhằm cải tiến và nâng cao hiệu
quả xử lý của hệ thống. Tôi xin thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả xử
lý nước thải Công ty CP thực phẩm – xuất khẩu Trung Sơn – Hưng
Yên”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Xác định đặc điểm nguồn thải của Công ty CP Thực phẩm – Xuất
khẩu Trung Sơn.
Đánh giá quy trình xử lý nước thải của Công ty CP Thực phẩm –
Xuất khẩu Trung Sơn.
Đề xuất biện pháp cải tiến, nâng cao hiệu quả xử lý nước thải của
Công ty CP Thực phẩm – Xuất khẩu Trung Sơn.
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận của xử lý nước thải.
2.1.1. Các khái niệm chung.
2.1.1.1. Khái niệm nước thải.
Theo TCVN 5980 : 1995 và ISO 6107/1 : 1980: Nước thải là nước đã
được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình
công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó.(Bộ khoa
học và công nghệ, 1995)
Theo Ths. Lý Thị Thu Hà: “Nước thải là chất lỏng được tạo ra trong quá
trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của
chúng”( Lý Thị Thu Hà, 2007).
quen sinh hoạt của người dân, và có thể ước tính bằng 80% lượng nước
được cấp. Mức độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào lưu
lượng nước thải và tải trọng chất bẩn tính theo đầu người. ( Lâm Vĩnh
Sơn, 2008)
b. Nước thải công nghiệp
Theo QCVN 40 : 2011/BTNMT: Nước thải công nghiệp là nước thải
phát sinh từ quá trình công nghệ của cơ sở sản xuất, dịch vụ công
nghiệp, từ nhà máy xử lý nước thải tập trung có đầu nối nước thải của
cơ sở công nghiệp.
Trong công nghiệp, nước được sử dụng như là một loại nguyên
liệu thô hay phương tiện sản xuất (nước cho các quá trình sản xuất) và
phục vụ cho mục đích truyền nhiệt. Nước cấp cho sản xuất có thể lấy từ
mạng lưới cấp nước sinh hoạt chung hoặc lấy từ nguồn nước ngầm hay
nước mặt nếu như xí nghiệp có hệ thống xử lý nước cấp riêng. Nhu cầu
về nước cấp và lưu lượng nước thải trong sản xuất phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: Công nghệ sản xuất, công suất của nhà máy, tiêu chuẩn cấp,
thoát nước công nghiệp, Lưu lượng và đặc tính nước thải của các xí
nghiệp công nghiệp được xác định chủ yếu bởi đặc tính sản phẩm được
sản xuất. (Ths. Lâm Vĩnh Sơn, 2008)
Bảng 2.1. Lưu lượng nước thải của một số ngành công
nghiệp
STT Ngành công nghiệp Giá trị m
3
/ tấn sản phẩm
1
2
3
4
5
6
thay đổi đáng kể do mức độ hoàn thiện của công nghệ sản xuất hoặc điều
kiện môi trường.
Căn cứ vào thành phần và khối lượng nước thải mà lựa chọn công
nghệ và các kỹ thuật xử lý khác nhau.
Bảng 2.2. Tính chất nước thải đặc trưng của một số ngành công
nghiệp
Các chỉ tiêu Đơn
vị
Chế
biến
sữa
Sản
xuất
thịt hộp
Dệt sợi
tổng
hợp
Sản xuất
clorophen
ol
BOD
5
COD
Tổng chất rắn
Chất rắn lơ
lửng
Nito
Photpho
pH
mg/l
-
4300
5400
53000
1200
0
0
7
17
Nhiệt độ
Dầu mỡ
Clorua
Phenol
mg/l
mg/l
mg/l
-
-
-
500
-
-
-
-
-
-
27000
140
Lâm Vĩnh Sơn, 2008
Nhìn chung, nước thải từ các nhà máy chế biến thực phẩm có hàm
trình này đều xử dụng khả năng của các vi sinh vật chuyển hóa các chất
hữu cơ về dạng ổn định và năng lượng thấp.
Công đoạn 3: Xử lý hóa học và hóa lý.
Công đoạn này thường gồm các quá trình hóa học như: Vi lọc, kết
tủa hóa học, hấp thụ bằng than hoạt tính, trao đổi ion, thẩm thấu ngược,
điện thẩm tích, các quá trình khử các chất dinh dưỡng, clo hóa và ozon
hóa.
2.1.2.1. Phương pháp xử lý cơ học
Đây là phương pháp xử lý sơ bộ nhưng là bước quan trọng để đảm
bảo an toàn và điều kiện làm việc thuận lợi cho cả hệ thống xử lý phía
sau. Các công trình xử lý cơ học bao gồm:
a. Song chắn rác
Song chắn rác hoặc lưới lọc dùng để chắn giữ, loại bỏ các cặn bẩn
có kích thước lớn hoặc ở dạng sợi như: Giấy, cỏ, rau, rác, các chất có
thể gây ra các sự cố trong quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải
như làm tắc bơm, đường ống hoặc kênh dẫn.
Do mục đích của song chắn rác thô là loại bỏ vật chất có kích
thước lớn có thể gây hại hoặc tắc nghẽn cho các thiết bị phía sau nên
trong hầu hết các trường hợp đều được đặt phía trước bể lắng cát. Nếu
bể lắng cát được đặt phía trước song chắn rác thì rác và các loại vật liệu
dạng sợi có thể ảnh hưởng đến cơ cấu thu cặn của bể lắng cát, bao bọc
xung quanh ống thổi khí và lắng cùng cát và khi lượng cát lắng được
bơm đi thì ảnh hưởng đến hệ thống bơm và đường ống.
Song chắn có thể đặt cố định hoặc di động (thông dụng là cố định),
hoặc có thể kết hợp cùng với máy nghiền nhỏ. Song chắn được làm bằng
kim loại, có thiết diện tròn, vuông hoặc hỗn hợp, được đặt nghiêng một
góc 60 – 75
o
so với chiều của dòng chảy.
Có 02 loại song chắn chính, là song chắn thô và song chắn mịn chủ
hành do sự dao động lưu lượng nước thải gây ra và nâng cao hiệu suất
các quá trình xử lý phía sau. Thông thường nước thải công nghiệp có lưu
lượng và thành phần rất đa dạng, phụ thuộc vào công nghệ sản xuất,
không đều trong ngày đêm và các thời điểm trong năm. Sự dao động
nồng độ và lưu lượng chất ô nhiễm trong nước thải ảnh hưởng đến chế
độ vận hành của hệ thống xử lý, tốn kém trong xây dựng và quản lý hệ
thống. Các kỹ thuật điều hòa ứng dụng cho từng trường hợp phụ thuộc
vào đặc tính của hệ thống thu gom nước thải. Phương án bố trí bể điều
hòa có thể là trên dòng thải hay ngoài dòng thải xử lý (Lương Đức
Phẩm, 2009)
d. Bể lắng
Lắng là biện pháp đơn giản để tách chất bẩn ra khỏi nước thải.
Dựa vào chức năng có thể chia bể lắng làm 2 loại:
• Bể lắng đợt 1: Bể lắng được đặt trước các công trình xử lý sinh học dùng
để lắng cặn vi sinh, tách các chất rắn, chất bẩn không hòa tan.
• Bể lắng đợt 2: Bể lắng được đặt sau các công trình xử lý sinh học dùng
để lắng cặn vi sinh, bùn trong nước trước khi thải ra nguồn tiếp nhận. Bể
lắng thường được bố trí theo dòng chảy, có kiểu hình nằm ngang hoặc
hình thằng đứng.
e. Lọc
Lọc được ứng dụng để tách các tạp chất phân tán có kích thước
nhỏ (chất lơ lửng, chất keo hữu cơ và vô cơ) khỏi nước mà các bể lắng
không thể loại được chúng. Người ta tiến hành quá trình tách bằng vách
ngăn xốp, cho phép chất lỏng đi qua và giữ pha phân tán lại. Quá trình
lọc có thể xảy ra dưới tác dụng của áp suất thuỷ tĩnh của cột chất lỏng
hoặc áp suất cao trước vách ngăn hay áp suất chân không sau vách
ngăn. Quá trình lọc còn được sử dụng để loại bỏ một phần BOD trong
dòng thải của quá trình xử lý sinh hoá để giảm lượng chất rắn lơ lửng và
quan trọng hơn, đây là một bước ổn định nhằm mục đích nâng cao hiệu
quả của quá trình khử trùng dòng nước sau xử lý.
với môi trường, chúng phát triển rất mạnh theo cấp số nhân. Vì vây,
lượng oxi tiêu thụ giảm dần.
• Giai đoạn 2: Vi sinh vật phát triển ổn định và tôc độ tiêu thụ oxi cũng ở
mức gần như ít thay đổi. Giai đoạn này các chất hữu cơ được phân giải
mạnh nhất. Hoạt lực enzim cảu bùn hoạt tính trong giai đoạn này cũng
đạt mức cực đại và kéo dài trong một khoảng thời gian tiếp theo.
• Giai đoạn 3: Sau một khoảng thời gian khá dài tốc độ oxi hóa chuyển
sang mức cầm chừng và có chiều hướng giảm. Giai đoạn này xảy ra quá
trình nitrat hóa các muối amon. Kết thúc quá trình oxi hóa thì oxi hóa
được khoảng 80 – 90% BOD trong nước thải. Nếu khuấy đảo hoặc sục
khi thì bùn hoạt tính sẽ lắng xuống đáy (Hoàng Văn Huệ, 2005)
Bể Aerotank có nhiều loại: Hệ thống bể Aerotank truyền thống, bể
Aerotank có hệ thống cấp khí theo chiều dòng chảy, cấp khí theo tầng và
hệ thống bể Aerotank có thể tái sinh bùn.
Các yếu tố ảnh hường đến khả năng làm sạch của bể Aerotank:
• Nồng độ oxi hòa tan (DO): Trong quá trình xử lý luôn phải giữ nồng độ
DO trong nước thải lớn hơn 1 mg/l và khoản giá trị mong đợi là 1 – 3
mg/l. Hàm lượng DO thấp vào khoảng 0,5 mg/l hoặc thấp hơn, vi sinh
vật sữ không đủ khả năng hô hấp, làm cho bùn hoạt tính trở nên có mùi
khó chịu. Khi nồng độ oxi hòa tan cao, bùn sinh học phân tán ra, dẫn kết
quả bùn khó lắng trong bể và theo nước ra ngoài, dẫn đến hiệu quả xử lý
giảm.
• Thành phần dinh dưỡng đối với vi sinh vật: Phải cân đối các nguồn dinh
dưỡng cho vi sinh vật, quan tâm đến nguồn dinh dưỡng N và P, chất
khoáng, Magie, Kali, Canxi, Mangan, Fe,
• Nồng độ cho phép của các chất bẩn hữu cơ trong nước thải để đảm bảo
bể Aerotank làm việc hiệu quả: Nước thải xử lý trong bể Aerotank có
BOD
5
khoảng 500 mg/l. Nếu trong khoảng 500 – 1000 mg/l thì phải sử
bào và khả năng kết dính cũn giảm, dần dần bị vỡ cuốn theo nước lọc,
đây là hiện tượng tróc màng, sau đó, lớp màng mới sẽ lại xuất hiện.
b. Xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học yếm khí
Quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện yếm khi do
một quần thể vi sinh vật hoạt động không cần sự có mặt của oxi không
khí, sản phẩm cuối cùng là một hỗn hợp khí có CH
4
, CO
2
, N
2
, H
2
, trong đó
có tới 65% là CH
4
vì vậy quá trình này gọi là lên men metan và quần thể
vi sinh vật được gọi chung là các vi sinh vật metan. Có thể coi quá trình
lên men metan gồm 2 pha: pha chuyển hóa axít và pha kiềm.
Trong pha axit các vi khuẩn tạo axit (tùy tiện, yếm khí) hóa lỏng
các chất rắn hữu cơ sau đó lên men các chất hữu cơ phức tạp đó tạo
thành các axit bậc thấp như axit béo, cồn, axit amin, amoniac, glyxerin,
axeton, CO
2
, H
2
.
Trong pha kiềm, các vi khuẩn tạo metan chỉ gồm các vi khuẩn yếm
khí chuyển hóa các sản phẩm trung gian trên tạo thành CH
4
lắng được các hạt này thì phải tăng kích thước của các hạt. Như vậy,
chúng ta phải trung hòa điện tích là quá trình đông tụ, quá trình tạo
thành các bông lớn từ các hạt nhỏ gọi là keo tụ.
Trong xử lý nước thải sự đông tụ diễn ra dưới tác động của các
chất đông tụ. Chất đông tụ trong nước tạo thành các bông hyđroxit kim
loại, lắng nhanh trong trường trong lực. Các bông này có khả năng hút
các hạt keo và hạt lơ lửng kết hợp chúng với nhau. Các hạt keo có điện
tích âm yếu còn các bông đông tụ có điện tích dương yếu nên chúng hút
nhau. Chất đông tụ thường dùng là muối nhôm, sắt hoặc hỗn hợp của
chúng. (Lương Đức Phẩm, 2009)
b. Tuyển nổi
Tuyển nổi được ứng dụng để loại ra khỏi nước các tạp chất phân
tán không tan và khó lắng. Trong nhiều trường hợp tuyển nổi còn được
sử dụng để tách chất tan như chất hoạt động bể mặt. Tuyển nổi ứng
dụng để xử lý nước thải của nhiều ngành sản xuất như chế biến dầu mỏ,
tơ sợi nhân tạo, giáy xenlulo, da, hóa chất, thực phẩm, chế tạo máy. Nó
còn được dùng để tách bùn hoạt tính sau khi xử lý hóa sinh. Ưu điểm của
phương pháp tuyển nổi là hoạt động liên tục, phạm vi ứng dụng rộng
dãi, chi phí đầu tư và vận hành không lớn, vận hành đơn giản, vận tốc
nổi lớn hơn vận tốc lắng, hiệu quả xử lý cặn và váng dầu cao (95 – 98%),
có thể thu hồi tạp chất. Tuyển nổi kèm theo sự thông khí nước thải,
gioảm nồng độ chất hoạt động bề mặt và chất dễ bị oxi hóa. (Lương Đức
Phẩm, 2009)
Phương pháp tuyển nổi dựa trên nguyên tắc: Các phân tử phân
tán trong nước có khả năng tự lắng kém nhưng có khả năng kết dính với
ccs bọt khí nổi trên bề mặt nước. Sai đó người ta tách các bọt khí cùng
các phân tử dính ra khỏi nước.
Bể tuyển nổi được đặt ở giai đoạn xử lý sơ bộ, có thể thay thế cho
bể lắng hoặc ở giai đoạn xử lý bổ sung, sau giai đoạn xử lý cơ bản.
c. Hấp phụ
động vật nguyên sinh, giun, sán, để làm sạch nước, đảm bảo tiêu chuẩn
vệ sinh để đổ vào nguồn tiếp nhận hoặc tái sử dụng. Khử khuẩn hay sát
khuẩn có thể dùng hóa chất hoặc các tác nhân vật lý như ozon, tia tử
ngoại. Trong quá trình xử lý nước thải, công đoạn khử thường được đặt
ở cuối quá trình, trước khi làm sạch nước triệt để và đổ vào nguồn.
(Lương Đức Phẩm, 2009)
2.2. Cơ sở thực tiễn của xử lý nước thải.
2.2.1. Hiện trạng xử lý nước thải trên Thế giới.
Trên thế giới, ở những nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, do
kinh tế phát triển mạnh nên vấn đề xử lý nước thải đã được quan tâm từ
những năm 1970 của thế kỷ XX.
Ngày nay, thế giới hiện có hai xu hướng xử lý nước thải, đó là xử
lý tập trung và xử lý phi tập trung. Mỗi xu hướng đều có những ưu điểm
riêng tùy thuộc từng khu vực. Đối với mô hình xử lý nước thải tập trung
có ưu điểm: hiệu quả xử lý cao nên được các nước phát triển ứng dụng
nhiều. Đối với mô hình xử lý nước thải phi tập trung thì có ưu điểm: Chi
phí đầu tư thấp, có nhiều công nghệ xử lý khác nhau và có thể lựa chọn
phương án phù hợp nhất với điều kiện địa phương nên chủ yếu được
ứng dụng ở các nước đang phát triển.
Đối với một số quốc gia phát triển và đang phát triển thì nước thải
được xem như một nguồn tài nguyên: Dự án lớn nhất là biến các nhà
máy xử lý nước thải thành các nhà máy chiết xuất có khả năng sản xuất
năng lượng nhiệt và điện, cũng như các thứ phẩm có giá trị như
Polymer, phân bón, Họ áp dụng các công nghệ đặc thù để tái sinh năng
lượng từ nước thải, sản xuất biogas, phân bón và tiên phong trong xu
hướng xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tự túc về năng lượng.Tái
sử dụng nước thải sinh hoạt có thể dùng cho tưới tiêu, cho công nghiệp
sản xuất, tái tạo tầng nước ngầm, và bảo dưỡng sân gôn và các khoảng
xanh đô thị.Nhờ nâng cao hiệu suất, chiết xuất các chất có giá trị và tạo
ra năng lượng từ quy trình xử lý nước thải, từ đó giúp kiểm soát và giảm
nước thải/ngày từ các KCN xả
thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý, gây ra ô nhiễm môi
trường nước mặt trên diện rộng. Những lưu vực sông chịu tác động